Sáng 30.6, tại Hà Nội diễn ra Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 10 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.
Phát biểu chỉ đạo tại hội nghị, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: “Việt Nam không thu hút đầu tư bằng mọi giá mà phải là một quốc gia có chiến lược, có lựa chọn, có năng lực sàng lọc và đồng hành với các nhà đầu tư tốt để cùng tạo ra các giá trị mới”.
Tinh thần của Nghị quyết 10 rất rõ: thu hút đầu tư nước ngoài không phải để thay thế nội lực mà để làm mạnh nội lực, nâng cao tự chủ; không chỉ để tăng trưởng nhanh mà để phát triển bền vững, bao trùm và có chất lượng cao.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đã chỉ ra những hạn chế trong hoạt động thu hút FDI thời gian qua, như tỷ lệ nội địa hóa còn thấp, liên kết với doanh nghiệp trong nước, chuyển giao công nghệ, nghiên cứu phát triển và đào tạo nhân lực chất lượng cao chưa đạt như kỳ vọng.
Nhiều dự án đầu tư nước ngoài vẫn chủ yếu gia công, lắp ráp, sử dụng nhiều đất đai, lao động phổ thông, năng lượng giá rẻ, tiêu chuẩn môi trường thấp, hoặc dựa nhiều vào ưu đãi, chưa tạo được năng lực mới cho nền kinh tế.
Một số địa phương còn cạnh tranh thu hút đầu tư theo số lượng dự án, dựa trên ưu đãi đất đai, thuế, phí mà chưa chú trọng hiệu quả sử dụng đất, tiết kiệm năng lượng, đóng góp ngân sách, chuyển giao công nghệ, phát triển doanh nghiệp trong nước và bảo đảm môi trường, an ninh kinh tế.
Nhiều khu vực vẫn còn là vùng trũng trong thu hút đầu tư nước ngoài (như đồng bằng sông Cửu Long, Tây nguyên, miền núi phía bắc).
Tại hội nghị, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đề nghị các cấp, các ngành, các địa phương tập trung quán triệt và tổ chức thực hiện tốt 8 nhiệm vụ trọng tâm.
Thứ nhất, phải thống nhất nhận thức, đổi mới mạnh mẽ tư duy về đầu tư nước ngoài. Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là bộ phận quan trọng của nền kinh tế, cần tạo mọi điều kiện thuận lợi để các nhà đầu tư có năng lực, công nghệ, trách nhiệm và cam kết lâu dài đầu tư, kinh doanh thành công tại Việt Nam.
Đồng thời, phải sàng lọc chặt chẽ, không tiếp nhận các dự án công nghệ lạc hậu, tiêu hao nhiều năng lượng, sử dụng đất kém hiệu quả, có nguy cơ gây ô nhiễm, chuyển giá, trốn thuế, lẩn tránh xuất xứ hoặc gây rủi ro đối với quốc phòng, an ninh, dữ liệu và hạ tầng trọng yếu.
Thứ hai, cần hoàn thiện thể chế theo hướng ổn định, minh bạch, có khả năng dự báo và phù hợp với thông lệ quốc tế. Không để nhà đầu tư phải đi qua quá nhiều cửa, mất quá nhiều thời gian và chi phí để triển khai một dự án hợp pháp.
Các cơ quan nhà nước phải chuyển mạnh từ tư duy quản lý sang kiến tạo phát triển, quản trị hiện đại và phục vụ doanh nghiệp. Không chỉ giải quyết thủ tục nhanh hơn, mà phải giúp nhà đầu tư dự báo được chính sách, nhìn rõ triển vọng và yên tâm đầu tư dài hạn.
Thứ ba, cần bỏ tư duy ưu đãi đầu vào, thay bằng hỗ trợ dựa trên kết quả đầu ra, gắn với mức độ thực hiện cam kết. Thứ tư, phát triển mạnh hệ sinh thái công nghiệp trong nước và liên kết thực chất giữa doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp Việt Nam. Đây là nhiệm vụ trung tâm của nghị quyết.
Thứ năm, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là điều kiện quyết định. Phải tạo điều kiện để người Việt Nam từng bước đảm nhận các vị trí kỹ thuật, quản lý, nghiên cứu, thiết kế và vận hành chuỗi cung ứng trong doanh nghiệp FDI.
Thứ sáu, cần đầu tư mạnh hơn cho hạ tầng chiến lược và hạ tầng phục vụ nền kinh tế mới. Các địa phương không thể tiếp tục phát triển khu công nghiệp manh mún, dàn trải, thiếu kết nối, thiếu nhà ở công nhân, dịch vụ xã hội, đào tạo nghề, thiếu liên kết với doanh nghiệp trong nước.
Thứ bảy, đổi mới căn bản công tác xúc tiến đầu tư, không tiếp cận tràn lan mà gặp gỡ có mục tiêu, chuẩn bị kỹ làm việc với từng tập đoàn hoặc một nhóm tập đoàn, quỹ đầu tư, đối tác chiến lược. Phải đồng hành với nhà đầu tư từ khi tìm hiểu đến triển khai, vận hành và mở rộng. Cùng đó, hỗ trợ sau cấp phép, tháo gỡ vướng mắc cho dự án hiện hữu, tạo điều kiện, khuyến khích để nhà đầu tư mở rộng đầu tư, giữ lại lợi nhuận tái đầu tư thay vì chuyển về nước.
Cuối cùng, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đề nghị, phát triển thị trường vốn hiện đại để thu hút dòng vốn đầu tư gián tiếp dài hạn, ổn định và có trách nhiệm.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nêu rõ, không thể để địa phương nào cũng chạy theo cùng một loại dự án, nơi nào cũng muốn làm cảng biển, sân bay, trung tâm dữ liệu hay khu công nghệ cao mà không dựa trên quy hoạch, nguồn lực, hạ tầng và lợi thế so sánh.
“Phải quy hoạch tổng thể, phải phân công, phân cấp rõ ràng, gắn với điều phối hiệu quả. Trung ương định hướng chiến lược, hoàn thiện thể chế, điều phối liên vùng, sàng lọc dự án lớn và giám sát thực hiện.
Địa phương phải chủ động, sáng tạo, nhưng không được cạnh tranh bằng cách phá vỡ quy hoạch, hạ thấp tiêu chuẩn hoặc đánh đổi lợi ích lâu dài”, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhấn mạnh.
Cùng dự có các Ủy viên Bộ Chính trị: Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú; Thủ tướng Lê Minh Hưng; các Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên T.Ư Đảng; lãnh đạo các ban, bộ, ngành, cơ quan Trung ương và địa phương.
Sau khi nghe các ý kiến trao đổi, thảo luận, phát biểu kết luận buổi làm việc, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh tầm nhìn Nghị quyết phải hướng tới năng lực trường tồn quốc gia. Về quan điểm chỉ đạo, mô hình phát triển mới phải đặt con người ở vị trí trung tâm, là mục tiêu, động lực và chủ thể của phát triển. Con người VN trong kỷ nguyên mới có tư duy sáng tạo, khả năng học tập suốt đời, năng lực thích ứng nhanh với thay đổi, năng lực hợp tác trong môi trường toàn cầu, năng lực số, đạo đức số và tinh thần công dân số.
Trong nội hàm của nghị quyết về mô hình phát triển mới, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhấn mạnh, phải quán xuyến một cách toàn diện các khía cạnh của chiến lược phát triển, tiến bộ quốc gia cũng như văn minh xã hội và an ninh con người. Năng lực tự chủ chiến lược của đất nước, làm chủ những khâu then chốt, năng lực bảo đảm an ninh kinh tế, an ninh năng lượng, an ninh lương thực, an ninh dữ liệu, an ninh tài chính và an ninh chuỗi cung ứng.
Mô hình phát triển mới phải nuôi dưỡng bản sắc dân tộc, đạo đức xã hội, tinh thần cộng đồng, khát vọng vươn lên, ý chí tự cường và năng lực hội nhập văn minh của con người VN; phải giải quyết những thách thức về biến đổi khí hậu, nước biển dâng, suy giảm đa dạng sinh học, ô nhiễm không khí, suy thoái đất, cạn kiệt nước ngầm và rủi ro thiên tai. Xây dựng nền quản trị quốc gia hiện đại, liêm chính, hiệu lực, hiệu quả, dựa trên pháp quyền, phân cấp hợp lý, trách nhiệm giải trình và đo lường kết quả; quản trị xã hội trên nền tảng số, dữ liệu và AI; xây dựng xã hội số và công bằng số.
Yêu cầu về mặt tổ chức thực hiện, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm lưu ý, nghị quyết cần xác định rõ các chương trình hành động quốc gia, các đề án trọng điểm, có các chỉ tiêu đo lường cụ thể và cơ chế kiểm tra, giám sát định kỳ.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước chỉ rõ, nghị quyết cần khẳng định tư tưởng phát triển cốt lõi của Việt Nam trong kỷ nguyên mới là xây dựng năng lực tự chủ sáng tạo và khả năng tự thích ứng của quốc gia.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đề nghị Ban Chính sách, chiến lược Trung ương chủ trì, phối hợp với Đảng ủy Chính phủ, Văn phòng T.Ư Đảng, các cơ quan liên quan tiếp thu đầy đủ ý kiến, hoàn thiện đề án và dự thảo Nghị quyết trình Bộ Chính trị cho ý kiến, theo đúng tiến độ trước khi trình Hội nghị lần thứ 3, Ban Chấp hành Trung ương khóa XIV.
Phát biểu tại cuộc gặp, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chia sẻ, đất nước ta đang bước vào một giai đoạn phát triển mới. Cơ hội rất lớn, nhưng yêu cầu đặt ra cũng rất cao. Vai trò của báo chí cách mạng càng quan trọng. Báo chí phải giữ vững bản lĩnh chính trị, nâng cao chất lượng thông tin, lắng nghe đời sống, nói đúng sự thật, nói trúng vấn đề và nói bằng trách nhiệm với Đảng, với Nhà nước, với nhân dân.
Trong thời gian tới, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhấn mạnh, báo chí phải góp phần củng cố niềm tin xã hội, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Theo đó, báo chí cần làm tốt hơn nữa việc tuyên truyền chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước cũng lưu ý, đấu tranh với thông tin sai trái, thù địch là nhiệm vụ thường xuyên của báo chí. Nhưng đấu tranh không chỉ bằng khẩu hiệu, bằng lập trường mà phải bằng chứng cứ, bằng lập luận, bằng ngôn ngữ chuẩn mực, bằng thái độ bình tĩnh và bằng uy tín nghề nghiệp. Các sản phẩm báo chí chính thống cần làm cho người đọc, người xem thấy rõ hơn lẽ phải, thấy rõ hơn lợi ích chung, từ đó thêm tin tưởng và cùng hành động.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước chỉ rõ, báo chí phải bám sát thực tiễn, tôn trọng sự thật, lấy lợi ích của nhân dân làm điểm xuất phát. Các cơ quan báo chí và các nhà báo tiếp tục dành nhiều thời gian hơn cho cơ sở, cho những vấn đề thiết thực của người dân, doanh nghiệp, địa phương; phát hiện kịp thời vướng mắc trong thực thi chính sách; phản ánh những mô hình hay, cách làm tốt; lên tiếng bảo vệ người ngay thẳng, người dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung.
"Một tác phẩm báo chí tốt không nhất thiết phải dùng lời lẽ đao to búa lớn. Điều quan trọng là bài báo đó phản ánh sự thật, có ích, có trách nhiệm và chạm đến vấn đề xã hội đang cần được giải quyết", Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhấn mạnh.
Theo Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, báo chí phải đồng hành với các nhiệm vụ ưu tiên của đất nước trong thời kỳ mới. Báo chí cần tham gia bằng tinh thần xây dựng. Phát hiện đúng vấn đề, phản ánh đúng thực tế, phân tích đúng nguyên nhân, kiến nghị đúng hướng. Phê bình phải công tâm; cổ vũ phải có cơ sở; đấu tranh phải thận trọng, khách quan, không quy chụp, không làm nản lòng những người đang nỗ lực đổi mới.
Trong phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, báo chí tiếp tục là kênh giám sát quan trọng của xã hội. Các nhà báo cần dũng cảm nhưng cũng phải tỉnh táo; kiên quyết nhưng phải nhân văn; sắc bén nhưng phải tuân thủ pháp luật và đạo đức nghề nghiệp. Đấu tranh với cái sai đồng thời phải bảo vệ cái đúng, tạo không khí khuyến khích cán bộ dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung.
Báo chí phải góp phần bồi đắp văn hóa, đạo đức xã hội và khát vọng phát triển đất nước. Báo chí là một bộ phận quan trọng của đời sống văn hóa. Mỗi cơ quan báo chí, mỗi nhà báo không chỉ truyền tải thông tin, mà còn góp phần hình thành chuẩn mực ứng xử, thị hiếu thẩm mỹ, tinh thần nhân ái và ý thức công dân.
Quán triệt tinh thần các chủ trương của Đảng về phát triển văn hóa Việt Nam, báo chí cần lan tỏa nhiều hơn những giá trị tốt đẹp của con người Việt Nam: yêu nước, trung thực, nghĩa tình, cần cù, sáng tạo, tôn trọng kỷ cương và luôn hướng tới cái chung.
Trong môi trường truyền thông số, ranh giới giữa thông tin, giải trí và thương mại ngày càng gần nhau. Vì vậy, báo chí càng phải giữ chuẩn mực. Không chạy theo sự dễ dãi, không khai thác nỗi đau để câu khách, không biến những câu chuyện riêng tư thành "món hàng" tiêu thụ.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cùng các nhà báo tiêu biểu ký tên vào biểu trưng kỷ niệm 101 năm Ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam và tặng quà các nhà báo lão thành, nhà báo tiêu biểu tại cuộc gặp mặt
ẢNH: GIA HÂN
"Báo chí phải làm cho xã hội bình tĩnh hơn, tử tế hơn, có niềm tin hơn vào những điều tốt đẹp", Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhấn mạnh.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước gợi mở, báo chí phải đổi mới mạnh mẽ phương thức làm nghề trong thời đại số. Chuyển đổi số trong báo chí không chỉ là sử dụng thêm công cụ mới. Đó là đổi mới tư duy làm báo, quy trình sản xuất nội dung, quản trị dữ liệu, phương thức phân phối, cách tương tác với công chúng và năng lực bảo vệ bản quyền, bảo vệ an toàn thông tin.
"Trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, nền tảng số có thể hỗ trợ rất nhiều, nhưng không thể thay thế bản lĩnh chính trị, khả năng kiểm chứng, sự nhạy cảm nghề nghiệp và trách nhiệm xã hội của nhà báo", Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nêu rõ.
Theo Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, các cơ quan báo chí cần xây dựng tòa soạn hiện đại, đa phương tiện, có năng lực phân tích dữ liệu, sản xuất nội dung cho nhiều nền tảng, tiếp cận công chúng trẻ, đồng thời giữ được chiều sâu, độ tin cậy và bản sắc của báo chí cách mạng Việt Nam.
Cùng với đó, cần quan tâm đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ; xây dựng cơ chế tài chính phù hợp; bảo vệ quyền hành nghề hợp pháp, chính đáng của nhà báo; tạo điều kiện để báo chí chính thống đủ sức cạnh tranh trong môi trường truyền thông mới.
Chiều 9.4, Văn phòng Chủ tịch nước tổ chức họp báo công bố quyết định về đặc xá năm 2026 của Chủ tịch nước, nhân dịp 51 năm Giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, chào mừng thành công Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031.
Phó chủ nhiệm Văn phòng Chủ tịch nước Cấn Đình Tài cho biết, năm 2026 là năm có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, đánh dấu bước chuyển tiếp sang một giai đoạn phát triển mới của đất nước, gắn với nhiều sự kiện chính trị có tầm vóc chiến lược.
Trong bối cảnh đó, theo đề nghị của Chính phủ, ngày 7.4 - ngày làm việc đầu tiên của Chủ tịch nước nhiệm kỳ 2026 - 2031, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm ký quyết định về đặc xá năm 2026.
Ông Tài cho biết thêm, những năm qua, các đợt đặc xá được triển khai chặt chẽ, đúng quy định, đạt hiệu quả tích cực trên nhiều phương diện cả về chính trị, pháp lý, xã hội và đối ngoại.
Riêng năm 2025, hơn 22.000 phạm nhân được đặc xá tha tù trước thời hạn nhưng vẫn bảo đảm vững chắc an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Đa số người được đặc xá đã nhanh chóng ổn định cuộc sống, tái hòa nhập cộng đồng, được người dân đồng tình và dư luận quốc tế ghi nhận.
Quyết định đặc xá năm 2026 tiếp tục khẳng định rõ quan điểm nhất quán: bảo đảm sự kết hợp chặt chẽ giữa tính nghiêm minh của pháp luật với chính sách khoan hồng, có điều kiện; việc xem xét đặc xá được thực hiện thận trọng, đúng đối tượng, gắn với yêu cầu giữ vững kỷ cương, trật tự, an toàn xã hội.
Theo quyết định đặc xá năm 2026, người đang chấp hành án phạt tù có thời hạn, người bị kết án tù chung thân đã được giảm xuống tù có thời hạn được đề nghị đặc xá phải đáp ứng đủ nhiều điều kiện.
Trong đó, phải có nhiều tiến bộ, có ý thức cải tạo tốt và được xếp loại chấp hành án phạt tù khá hoặc tốt theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Đã chấp hành án phạt tù ít nhất 1/3 thời gian đối với trường hợp bị phạt tù có thời hạn, nếu trước đó đã được giảm thời hạn chấp hành án phạt tù thì thời hạn được giảm không được tính vào thời gian đã chấp hành án phạt tù; đã chấp hành án phạt tù ít nhất là 14 năm đối với trường hợp bị phạt tù chung thân đã được giảm xuống tù có thời hạn, nếu sau khi đã được giảm xuống tù có thời hạn mà tiếp tục được giảm thời hạn chấp hành án phạt tù thì thời hạn được giảm sau đó không được tính vào thời gian đã chấp hành án phạt tù...
Đã chấp hành xong hình phạt bổ sung là phạt tiền, đã nộp án phí; đã thi hành xong nghĩa vụ trả lại tài sản, bồi thường thiệt hại, nghĩa vụ dân sự khác đối với người bị kết án phạt tù về các tội phạm tham nhũng...
Người có đủ các điều kiện nêu trên nhưng không được đề nghị đặc xá nếu thuộc một trong các trường hợp: bị kết án phạt tù về phản bội Tổ quốc, hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân, gián điệp, xâm phạm an ninh lãnh thổ...