Tách kỳ thi tốt nghiệp THPT ‘2 trong 1’: Cần xét đúng bản chất của vấn đề

Tách kỳ thi tốt nghiệp THPT '2 trong 1': Cần xét đúng bản chất của vấn đề

Không thể phủ nhận rằng cả hai phương án thi chung và thi riêng đều có những ưu điểm riêng. Nếu tổ chức một kỳ thi “2 trong 1” (vừa xét tốt nghiệp THPT vùa tuyển sinh ĐH, CĐ) thì lợi ích lớn nhất là tiết kiệm nguồn lực xã hội. Học sinh chỉ phải ôn tập và dự thi một lần; phụ huynh giảm chi phí đi lại, ăn ở; địa phương không phải tổ chức nhiều kỳ thi quy mô lớn; các trường đại học cũng có thêm một nguồn dữ liệu chuẩn hóa để xét tuyển. Đây cũng là lý do mô hình này được lựa chọn sau nhiều năm cải cách thi cử.

Tuy nhiên, hạn chế của kỳ thi chung là phải cùng lúc thực hiện hai mục tiêu khác nhau. Xét tốt nghiệp đòi hỏi đề thi bảo đảm chuẩn đầu ra của chương trình phổ thông, trong khi tuyển sinh đại học, nhất là những ngành có tính cạnh tranh cao, lại cần khả năng phân loại rất tốt. Đó là bài toán không dễ giải.

Ở chiều ngược lại, nếu tách thành hai kỳ thi riêng sẽ giúp mỗi kỳ thi phục vụ đúng mục tiêu của mình. Kỳ thi tốt nghiệp THPT tập trung đánh giá việc hoàn thành chương trình phổ thông; còn các trường đại học có thể xây dựng phương thức tuyển sinh phù hợp với từng ngành đào tạo. Nhưng cái giá phải trả cũng không nhỏ. Học sinh có thể phải trải qua nhiều kỳ thi hơn; áp lực ôn tập tăng lên; chi phí xã hội lớn hơn; đồng thời việc tổ chức nhiều kỳ thi độc lập cũng đặt ra những yêu cầu mới về nhân lực, kinh phí và công tác quản lý.

Rõ ràng, không có mô hình nào hoàn hảo tuyệt đối. Điều quan trọng là lựa chọn phương án phù hợp nhất với điều kiện thực tiễn của Việt Nam trong từng giai đoạn.

Nhìn vào thực tế hiện nay có thể thấy, kỳ thi tốt nghiệp THPT không còn “gánh” toàn bộ nhiệm vụ tuyển sinh đại học như nhiều năm trước. Bộ GD-ĐT vẫn tổ chức kỳ thi để đánh giá kết quả học tập của học sinh sau 12 năm phổ thông và tạo một nguồn dữ liệu chung. Tuy nhiên, quyền tự chủ tuyển sinh của các trường đại học ngày càng được mở rộng. Nhiều trường vẫn sử dụng điểm thi tốt nghiệp làm căn cứ xét tuyển bên cạnh đó nhiều trường kết hợp điểm thi với học bạ, chứng chỉ ngoại ngữ quốc tế, kết quả đánh giá năng lực, đánh giá tư duy hoặc tổ chức kỳ thi riêng. Không ít trường áp dụng đồng thời nhiều phương thức tuyển sinh để lựa chọn thí sinh phù hợp.

Có thể nói, kết quả kỳ thi tốt nghiệp hiện nay đang được ứng xử khá linh hoạt. Trường nào thấy phù hợp thì sử dụng; trường nào cần mức độ phân loại cao hơn thì có thêm công cụ khác. Chính sự đa dạng này đã góp phần giảm áp lực cho kỳ thi duy nhất, đồng thời vẫn bảo đảm quyền tự chủ của các cơ sở đào tạo. Đó cũng là lý do nhiều chuyên gia cho rằng chưa nhất thiết phải vội vàng thay đổi toàn bộ mô hình chỉ vì một số vấn đề phát sinh trong quá trình tổ chức.

Thực tế, câu chuyện gộp hay tách kỳ thi không phải bây giờ mới được đặt ra. Trước đây, ngành giáo dục đã nhiều lần lấy ý kiến chuyên gia, nhà quản lý, giáo viên và xã hội. Tương tự, việc thi môn toán theo hình thức tự luận hay trắc nghiệm cũng từng trải qua nhiều vòng tranh luận, phân tích ưu – nhược điểm trước khi đi đến quyết định.

Điều đó cho thấy những chính sách lớn không được xây dựng từ cảm xúc nhất thời mà từ quá trình nghiên cứu, thử nghiệm và tổng kết thực tiễn. Bởi vậy, nếu hôm nay lại đặt vấn đề thay đổi, điều cần chứng minh trước hết là mô hình hiện hành thực sự không còn phù hợp, chứ không chỉ vì xuất hiện một vài vụ việc tiêu cực.

  Thủ khoa tốt nghiệp THPT Cà Mau: "Em tiếc vì môn hoá không được 10 điểm"

Nếu nguyên nhân nằm ở khâu tổ chức thì phải siết chặt tổ chức; nếu lỗ hổng nằm ở quy chế thì phải bổ sung quy chế; nếu thiếu công nghệ giám sát thì cần đầu tư công nghệ; nếu chế tài chưa đủ sức răn đe thì phải hoàn thiện chế tài…

Lịch sử cải cách giáo dục Việt Nam từng cho thấy nhiều vấn đề đã được bàn bạc rất kỹ trước khi đi đến thống nhất. Vì thế, mỗi lần điều chỉnh chính sách cần hết sức thận trọng, tránh tình trạng thay đổi theo dư luận hoặc theo từng sự cố cụ thể.

Tin Gốc: Thanh Niên