Theo một khảo sát do tập đoàn giải pháp doanh nghiệp Wolters Kluwer công bố đầu tháng 6, có 70% y tá và 77% bác sĩ lo ngại rằng họ sẽ mất kỹ năng vì phụ thuộc quá mức vào các hệ thống AI.
Nỗi lo này là có cơ sở. Các bằng chứng mới đang cho thấy hiện tượng mất kỹ năng do AI bắt đầu xuất hiện trong y học, khoa học máy tính và các lĩnh vực khác.
“Chỉ cần nhận thức được rằng hiện tượng này tồn tại, hy vọng mọi người sẽ suy nghĩ về những kỹ năng nào họ muốn duy trì và những kỹ năng nào họ sẵn sàng giao phó cho các công cụ AI”, Kevin Crowston, nhà khoa học thông tin tại Đại học Syracuse (Mỹ), nói.
Một nghiên cứu thực hiện với các bác sĩ nội soi ở Ba Lan cho thấy các công cụ AI gây lệ thuộc và giảm kỹ năng. Những bác sĩ này, tất cả đều đã thực hiện ít nhất 2.000 ca nội soi đại tràng trong sự nghiệp, được tiếp cận một hệ thống AI có khả năng phân tích hình ảnh nội soi đại tràng theo thời gian thực và đánh dấu một loại tổn thương tiền ung thư trong ruột, gọi là u tuyến. Bác sĩ chỉ có thể sử dụng công cụ trong một số ngày và phải tự khám vào những ngày khác.
Trong 3 tháng trước khi có AI, các bác sĩ phát hiện u tuyến trong 28,4% số ca nội soi. 3 tháng sau khi công cụ được đưa vào sử dụng, tỷ lệ phát hiện giảm còn 22,4% khi không có AI hỗ trợ, theo kết quả công bố trên The Lancet Gastroenterology and Hepatology.
Việc tiếp xúc liên tục công cụ AI có thể khiến các bác sĩ lâm sàng “ít có động lực hơn, kém tập trung hơn và ít trách nhiệm hơn khi đưa ra các quyết định mà không có AI hỗ trợ”, theo các tác giả nghiên cứu.
Nhóm lưu ý rằng cần có thêm nghiên cứu để xác nhận hiện tượng này, nhưng những người sử dụng công cụ AI nên ý thức rằng họ có nguy cơ mất đi một phần kỹ năng của mình. Ngay cả những chuyên gia tay nghề cao cũng có thể mất kỹ năng khi phụ thuộc vào các công cụ AI.
Tương tự trong lĩnh vực khoa học máy tính, các nhà nghiên cứu tại Anthropic đã thiết kế một thử nghiệm đối chứng ngẫu nhiên, trong đó 52 kỹ sư phần mềm được yêu cầu thực hiện một nhiệm vụ lập trình cơ bản. Tất cả người tham gia đều có thể tìm kiếm trên web, nhưng chỉ một nửa được gợi ý sử dụng thêm trợ lý AI.
Sau đó, các kỹ sư được yêu cầu hoàn thành một bài kiểm tra về những gì họ đã học được từ nhiệm vụ. Nhóm sử dụng trợ lý AI làm bài kém hơn đáng kể so với nhóm không dùng, đạt điểm trung bình 50% so với 67%.
Những người được AI hỗ trợ làm kém hơn hẳn ở các câu hỏi yêu cầu chẩn đoán lỗi trong mã, cho thấy họ không nắm được các khái niệm đằng sau đoạn mã họ vừa tạo ra. Nghiên cứu được đăng trên cơ sở dữ liệu bản thảo arXiv.
Những phát hiện này đáng lo ngại, đặc biệt đối với sinh viên và người mới vào nghề. “Mọi người có thể thực hiện công việc ở mức hiệu suất khá cao vì họ đang mượn kỹ năng từ AI, nhưng không tự phát triển kỹ năng”, Crowston nói.
Những công nghệ khác trong quá khứ đã khiến một số kỹ năng cụ thể trở nên lỗi thời, Tapani Rinta-Kahila, nhà nghiên cứu hệ thống thông tin tại Trường Kinh tế Hanken ở Helsinki, lưu ý. Ví dụ, nghiên cứu cho thấy các hệ thống định vị GPS đã làm suy giảm kỹ năng định hướng của con người. Tuy nhiên, các công cụ AI tạo sinh là công nghệ đầu tiên tự động hóa nhiều năng lực nhận thức khác nhau liên quan đến tư duy và diễn giải.
Rinta-Kahila từng công bố một nghiên cứu về một nhóm kế toán đã sử dụng liên tục một hệ thống kế toán tự động, không phải AI, trong hơn một thập kỷ. Khi công cụ này bị lấy đi, các kế toán viên đã quên cách thực hiện một số nhiệm vụ thường ngày, cho thấy việc suy giảm kỹ năng khi phụ thuộc vào công cụ.
Không chỉ trong các tác vụ chuyên môn, AI còn có tác động đến những kỹ năng thông thường. Một nghiên cứu của Viện Công nghệ Massachusetts (MIT), công bố tại hội nghị tháng 4 của Association for Computing Machinery, cho thấy phụ thuộc vào chatbot có thể làm suy giảm kỹ năng phân biệt thông tin sai lệch.
Trong nghiên cứu, 67 người tham gia được yêu cầu xác định các cặp tiêu đề và hình ảnh có phải tin giả hay không. Kết quả, AI giúp người tham gia phân biệt tốt hơn, khả năng ra quyết định đúng tăng 21%. Tuy nhiên, độ chính xác khi phải tự đánh giá mà không có sự hỗ trợ của AI đã giảm 15,3%.
“AI có thể giúp ích ngay lập tức, nhưng cuối cùng nó có thể làm suy giảm khả năng phát hiện thông tin sai lệch về lâu dài”, nghiên cứu lưu ý.
Để ngăn chặn sự xói mòn kỹ năng do AI gây ra, con người cần xác định rõ đang giao phó cho các công cụ AI tạo sinh bao nhiêu phần việc, theo Rinta-Kahila. Mọi người cũng cần hiểu các mô hình AI tạo sinh hoạt động như thế nào, giới hạn của chúng là gì và nên tránh tin vào đầu ra của AI mà không đặt câu hỏi.
Samsung cho biết sẽ tích hợp tính năng đo huyết áp lên các mẫu đồng hồ thông minh của mình, kể từ phiên bản Galaxy Watch4 chạy nền tảng Wear OS 4.0 trở về sau.
Trước đó, Samsung cũng đã triển khai tính năng đo huyết áp trên Galaxy Watch4, nhưng chỉ giới hạn với người dùng tại Hàn Quốc. Giờ đây, tính năng này được mở khóa và triển khai miễn phí cho người dùng trên toàn cầu.
“Với các công cụ để đo và theo dõi huyết áp, người dùng Galaxy có thể hiểu rõ hơn về sức khỏe và thể trạng của mình, giúp họ đưa ra những quyết định sáng suốt hơn và sống một lối sống lành mạnh”, Samsung cho biết trong một thông cáo đưa ra.
Các mẫu smartwatch của Samsung không sử dụng cách đo huyết áp truyền thống bằng bơm hơi như máy đo huyết áp bắp tay thông thường. Thay vào đó, đồng hồ sử dụng cảm biến quang học, kết hợp với các cảm biến khác để đo sự thay đổi của lưu lượng máu dưới da, sau đó sử dụng thuật toán để so sánh với thông số huyết áp đã được hiệu chỉnh.
Do vậy, để sử dụng tính năng đo huyết áp trên smartwatch của Samsung, người dùng vẫn cần một thiết bị đo huyết áp chuyên dụng, sau đó nhập thông số từ thiết bị đo huyết áp vào đồng hồ ít nhất 3 lần để smartwatch tự động hiệu chỉnh thuật toán cho phù hợp.
Sau mỗi 28 ngày, người dùng sẽ phải thực hiện lại những thao tác kể trên để hiệu chỉnh lại thuật toán đo huyết áp trên đồng hồ của Samsung.
Samsung cho biết tính năng đo huyết áp trên đồng hồ thông minh của hãng không nhằm mục đích thay thế thiết bị y tế, mà chỉ là tính năng chăm sóc sức khỏe, cảnh báo người dùng nếu phát hiện dấu hiệu bất ổn về huyết áp để người dùng có thể kiểm tra lại huyết áp bằng máy đo chuyên dụng và có sự can thiệp y tế kịp thời.
Việc mở khóa miễn phí tính năng đo huyết áp với các mẫu smartwatch đời cũ sẽ giúp Samsung cạnh tranh hiệu quả hơn với các đối thủ trên thị trường đồng hồ thông minh, đặc biệt Apple Watch của Apple.
Kể từ phiên bản Apple Watch Series 9, Apple đã trang bị tính năng cảnh báo sớm nguy cơ tăng huyết áp của người đeo, nhưng đây không phải là tính năng theo dõi huyết áp liên tục.
Năm 2022, Huawei đã cho ra mắt mẫu đồng hồ thông minh Watch D, với điểm nhấn tích hợp dây đeo có túi khí, cho phép siết nhẹ vào cổ tay để đo huyết áp của người đeo, giúp hiển thị thông số huyết áp chính xác và không cần phải có thiết bị hỗ trợ để tinh chỉnh như Galaxy Watch của Samsung.
Trong bối cảnh AI phát triển mạnh và trở thành nền tảng của chuyển đổi số, an ninh mạng nổi lên như một trong những mối quan tâm hàng đầu. Bên cạnh cơ hội thúc đẩy đổi mới và nâng cao năng suất, AI cũng tạo ra các bề mặt tấn công mới, khiến bài toán bảo mật trở nên phức tạp hơn.
Thông tin được đưa ra tại hội thảo chuyên đề 'Bảo mật trong kỷ nguyên AI - Chiến lược hình thành tương lai số' tổ chức sáng 7-4 ở Hà Nội, do Hiệp hội An ninh mạng quốc gia (NCA) phối hợp cùng Check Point Software Technologies tổ chức.
Đại tá, TS Nguyễn Hồng Quân - Phó cục trưởng Cục An ninh mạng và Phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao (A05), Bộ Công an; Trưởng Ban An ninh dữ liệu và Bảo vệ dữ liệu cá nhân, Hiệp hội An ninh mạng quốc gia - nhận định AI đang đặt ra nhiều thách thức chiến lược trong bảo đảm an ninh quốc gia.
Theo đại diện A05, các hình thức lừa đảo hiện nay ngày càng tinh vi, sử dụng deepfake khó nhận diện, trong khi mã độc có khả năng tự thích nghi để né tránh hệ thống phòng thủ.
Đáng chú ý, tội phạm mạng đang chuyển dịch từ mô hình hoạt động đơn lẻ sang tổ chức chuyên nghiệp, vận hành theo hệ thống và mang tính công nghiệp hóa.
Trong bối cảnh đó, AI không còn chỉ là công cụ hỗ trợ, mà đã trở thành yếu tố tác động trực tiếp đến không gian an ninh mạng, thậm chí rộng hơn là an ninh quốc gia. Những vấn đề như bảo vệ chủ quyền dữ liệu, giảm phụ thuộc vào nền tảng công nghệ nước ngoài, cũng như bảo vệ chính các hệ thống AI trước nguy cơ bị tấn công đang trở thành thách thức lớn.
'AI không chỉ là công cụ, mà đang định hình lại không gian an ninh mạng và an ninh quốc gia. Việc làm chủ và bảo đảm an toàn cho công nghệ AI sẽ là yếu tố quyết định đối với sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia', ông Quân nhấn mạnh.
Tại hội thảo, đại diện Check Point Software Technologies cũng chia sẻ góc nhìn quốc tế về các rủi ro an ninh mạng trong quá trình chuyển đổi AI.
Bà Ruma Balasubramanian - Chủ tịch Check Point Software Technologies khu vực châu Á - Thái Bình Dương và Nhật Bản - cho rằng AI đang đồng thời tái định hình đổi mới kinh doanh và các rủi ro an ninh mà doanh nghiệp phải đối mặt.
Bà khuyến nghị các doanh nghiệp tại Việt Nam cần chú trọng phương pháp bảo mật AI dựa trên ba trụ cột: khả năng hiển thị, quản trị và phòng ngừa trên toàn bộ hệ sinh thái AI.
Cùng với đó, doanh nghiệp này giới thiệu nền tảng AI Defense Plane, cho phép bảo mật toàn diện ứng dụng và hạ tầng AI, với khả năng phòng thủ đa lớp trước các rủi ro như tấn công chèn lệnh (prompt injection), rò rỉ dữ liệu hay hành vi độc hại từ AI agents, hỗ trợ doanh nghiệp triển khai AI an toàn và tuân thủ.
Trong nghiên cứu công bố trên tạp chí Proceedings of the Royal Society B tuần này, nhóm tác giả sử dụng bẫy camera để so sánh tình trạng động vật hoang dã trong Vùng cấm Chernobyl (CEZ) với khu bảo tồn thiên nhiên Drevlianskyi và các khu vực không được bảo vệ gần đó. Kết quả, CEZ vượt trội về hệ động vật hoang dã với mức đa dạng loài và tỷ lệ động vật sinh sống cao nhất, tiếp theo là khu bảo tồn thiên nhiên, rồi đến những khu vực không được bảo vệ.
CEZ được Liên Xô thiết lập sau sự cố phát nổ lò phản ứng tại nhà máy điện hạt nhân Chernobyl năm 1986. Khu này rộng 2.700 km2 xung quanh nhà máy, dựng hàng rào với bán kính khoảng 30 km và cấm người dân tiếp cận do ô nhiễm.
Theo IFL Science, điều khiến nhóm nhà khoa học ngạc nhiên nhất là CEZ đặc biệt thúc đẩy sự phục hồi của động vật quý hiếm, bao gồm ngựa Przewalski, linh miêu, nai sừng tấm, hươu đỏ, lửng chó, gấu nâu. Trong khi đó, những loài phổ biến hơn với khả năng thích nghi cao như cáo đỏ lại không phát triển mạnh như dự đoán.
"Tôi ngạc nhiên khi thấy sự đa dạng loài tổng thể ở các khu bảo tồn thiên nhiên thấp hơn ở CEZ dù có quản lý bảo vệ nghiêm ngặt. Tôi cũng kỳ vọng sẽ thấy nhiều cáo đỏ hơn vì chúng có khả năng thích nghi cao", nhà sinh thái người Ukraine Svitlana Kudrenko, phó giáo sư tại Đại học Freiburg kiêm tác giả chính của nghiên cứu, chia sẻ với IFL Science.
Ngựa Przewalski là một trường hợp thú vị. Từng tuyệt chủng ngoài tự nhiên, loài ngựa hoang quý hiếm này được thả lại vào một số vùng của Ukraine cuối những năm 1990. Trong nghiên cứu mới, bẫy camera ghi hình ngựa Przewalski hơn 1.000 lần tại CEZ, nhưng không cá thể nào được phát hiện bên ngoài khu vực này.
Các nhà khoa học nghi ngờ một biến động sinh thái gần đây đã thúc đẩy đàn ngựa phục hồi. "Chúng tôi tiến hành nghiên cứu thực địa từ năm 2020 đến 2021, ngay sau những vụ cháy rừng lớn ở CEZ. Thảm thực vật tươi tốt mọc lên sau đám cháy đã thu hút động vật móng guốc, bao gồm cả ngựa Przewalski", Kudrenko cho biết.
Tương tự, nhóm nghiên cứu cũng ghi lại một số hình ảnh gấu nâu ở CEZ, nhưng không phát hiện cá thể nào bên ngoài. Hươu đỏ được chụp ảnh hàng nghìn lần trong CEZ, nhưng chỉ vài trăm lần trong khu bảo tồn thiên nhiên và không có lần nào ở những nơi khác.
Theo Science Alert, nhóm nghiên cứu không cố gắng điều tra tác động của phóng xạ lên động vật mà muốn đánh giá điều gì sẽ xảy ra khi con người không còn hiện diện. Kết quả nghiên cứu cho thấy việc giảm hoạt động của con người có lợi cho động vật hoang dã. Các khu bảo tồn thiên nhiên hiệu quả nhất khi đủ rộng để động vật tự do đi lại, kết nối với nhau thay vì bị cô lập, đồng thời được quản lý chặt chẽ để thực sự ngăn cách con người.
Theo nghiên cứu công bố năm 2024 của Jim Beasley, chuyên gia tại Đại học Georgia, cùng đồng nghiệp, các quần thể của động vật có vú kích thước lớn đã tăng lên sau khi con người rời CEZ. Chúng phân bố rộng rãi khắp vùng cấm, kể cả những khu vực ô nhiễm nặng hơn xung quanh nhà máy điện hạt nhân cũ.
Một số loài vật thậm chí đang thích nghi với môi trường khắc nghiệt. Nghiên cứu năm 2024 của Cara Love, nhà sinh vật học tiến hóa và độc tính sinh thái từ Đại học Princeton, chỉ ra hệ miễn dịch của sói xám ở CEZ bị biến đổi tương tự bệnh nhân đang xạ trị. Chúng cũng có thể đã phát triển các đột biến bảo vệ giúp tăng khả năng sống sót khi mắc ung thư.
Trong nghiên cứu công bố trên tạp chí Evolutionary Applications năm 2022, màu da của ếch cây phương đông tại CEZ chuyển từ xanh lá sang đen. Nhóm nghiên cứu nhận thấy màu sắc sẫm hơn có thể không phải do đột biến ngẫu nhiên mà là phản ứng thích nghi nhằm bảo vệ ếch khỏi phóng xạ cao.