Ngày 1/7, bác sĩ Nguyễn Viết Chung, Trưởng khoa Sức khỏe tâm thần, cho biết bệnh nhân tự ý điều trị và bổ sung nhiều loại thực phẩm chức năng không theo chỉ định trong thời gian dài. Thực tế, các triệu chứng thể chất của bệnh nhân đều bắt nguồn từ tình trạng lo âu và mất ngủ kéo dài thay vì các bệnh lý nội khoa mãn tính như anh lầm tưởng.
Theo bác sĩ, rắc rối bắt đầu từ một năm trước khi người bệnh rơi vào tình trạng mất ngủ, khó vào giấc và thường xuyên tỉnh dậy trong trạng thái mệt mỏi. Sự sa sút về giấc ngủ khiến anh liên tục lo lắng về sức khỏe, dẫn đến hiện tượng hồi hộp và tim đập nhanh.
Sau khi tự đo thấy huyết áp và đường huyết tăng nhẹ, anh tự kết luận bản thân mắc bệnh cao huyết áp, đái tháo đường rồi tự mua thuốc uống. Khi xuất hiện thêm triệu chứng đau dạ dày, ợ chua và căng mỏi vai gáy, bệnh nhân tiếp tục mua thêm thuốc bổ não cùng nhiều loại vitamin để “tự chữa trị”.
Bác sĩ Chung phân tích, lo âu kéo dài và thiếu ngủ sẽ kích hoạt hệ thần kinh giao cảm, làm tăng tiết các hormone stress như cortisol và adrenaline. Quá trình này khiến tim đập nhanh, huyết áp tăng thoáng qua và đường huyết dao động.
Ngoài ra, căng thẳng tâm lý còn gây ra các biểu hiện tiêu hóa, đau đầu và căng cơ. Chuyên gia khẳng định các chỉ số tăng nhẹ này không đồng nghĩa với việc mắc bệnh mãn tính. Việc chẩn đoán xác định cần dựa trên các xét nghiệm tiêu chuẩn và đánh giá chuyên môn thay vì những cảm nhận cảm tính của người bệnh.
Dưới góc độ y khoa, rối loạn lo âu là tình trạng căng thẳng mãn tính, gây cản trở sinh hoạt và ảnh hưởng nghiêm trọng đến thể chất lẫn tinh thần. Bệnh thường xuất phát từ yếu tố di truyền, tính cách cá nhân hoặc các biến cố ngoại cảnh như áp lực công việc, mâu thuẫn gia đình.
Người bệnh thường rơi vào vòng xoáy lo âu quá mức về những vấn đề nhỏ nhặt, đi kèm cảm giác sợ hãi mơ hồ và suy nghĩ tiêu cực về tương lai dù ý thức được sự lo lắng đó là vô lý.
Các triệu chứng thể chất điển hình của hội chứng này bao gồm khó thở, đau ngực, run tay chân, đổ mồ hôi và rối loạn tiêu hóa. Về mặt nhận thức, người bệnh dễ mất tập trung, suy giảm trí nhớ và luôn hình dung ra những kịch bản tồi tệ nhất.
Để điều trị, bác sĩ Chung yêu cầu bệnh nhân dừng toàn bộ các loại thuốc tự mua và tập trung vào trị liệu tâm lý nhằm giải tỏa căng thẳng. Chuyên gia khuyến cáo người dân khi có dấu hiệu căng thẳng kéo dài nên tìm đến các cơ sở y tế chuyên khoa để can thiệp sớm, giúp cải thiện chất lượng cuộc sống và tránh những biến chứng không đáng có từ việc dùng thuốc sai cách.
Vụ việc một lần nữa làm dấy lên lo ngại về tình trạng thiếu hụt dịch vụ sản khoa tại các khu vực ngoài đô thị lớn ở Hàn Quốc, báo Korea Times ngày 9-4 đưa tin.
Theo Sở Cứu hỏa và Phòng chống thảm họa Daegu, cuộc gọi cấp cứu diễn ra vào lúc 2h ngày 25-3, khi thai phụ đang ở nhà bố mẹ chồng ở phía đông thành phố và bị đau bụng.
Các nhân viên y tế nhanh chóng có mặt và đề nghị Trung tâm Điều phối y tế khẩn cấp tìm bệnh viện tiếp nhận.
Tuy nhiên 16 khoa sản tại các bệnh viện trong khu vực đã từ chối bệnh nhân với nhiều lý do khác nhau, bao gồm hết giường, thiếu bác sĩ sản trực hoặc đội ngũ y tế đang xử lý các ca cấp cứu khác.
Trước tình hình đó, trung tâm điều phối buộc phải chuyển bệnh nhân đến một bệnh viện ở thành phố Asan, tỉnh Nam Chungcheong - nơi cô từng khám thai trước đó.
Quá trình vận chuyển bắt đầu lúc 3h14 và kéo dài khoảng hai giờ. Đến 5h14, thai phụ mới được tiếp nhận tại bệnh viện. Theo cơ quan chức năng, bệnh nhân khi đó vẫn trong tình trạng ổn định và chưa có dấu hiệu chuyển dạ ngay lập tức, song việc phải đi quãng đường dài trong tình huống khẩn cấp vẫn khiến dư luận Hàn Quốc lo ngại.
Sau khi điều trị, thai phụ trong tình trạng tốt và được xuất viện. Vụ việc này được xem là một phần của xu hướng đáng báo động tại Daegu, nơi ngày càng nhiều bệnh nhân phải chuyển viện đường dài do không có cơ sở y tế gần đó đủ khả năng tiếp nhận ca cấp cứu.
Số ca chuyển viện ngoài khu vực mất hơn hai giờ (tính từ lúc lực lượng cấp cứu đến hiện trường đến khi bệnh nhân tới bệnh viện) đã tăng từ bảy ca trong năm 2024 lên 13 ca trong năm ngoái.
Đáng chú ý, các trường hợp liên quan đến sản phụ khoa, nhi khoa và bệnh mạch máu não chiếm tỉ lệ lớn, phản ánh rõ tình trạng thiếu hụt dịch vụ y tế thiết yếu.
Trước đó, một sản phụ mang song thai bị chuyển dạ sớm tại Daegu ngày 28-2 đã bị bảy bệnh viện từ chối. Sau đó cô được mổ lấy thai sau bốn giờ tại một bệnh viện ở tỉnh khác. Vụ việc khiến một trong hai trẻ tử vong, em còn lại bị tổn thương não nghiêm trọng, gây phẫn nộ trong dư luận Hàn Quốc và làm dấy lên chỉ trích nhằm vào hệ thống y tế.
Trước thực trạng trên, ông Eom Jun Wook, Giám đốc Sở Cứu hỏa và Phòng chống thảm họa Daegu, cho biết sẽ tăng cường nhân lực chuyên môn cho Trung tâm Điều phối y tế khẩn cấp, đồng thời nâng cao năng lực của đội ngũ cấp cứu tại bệnh viện nhằm cải thiện khả năng xử lý các ca bệnh chuyên sâu.
Bác sĩ Saurabh Sethi, chuyên gia tiêu hóa đang làm việc tại California (Mỹ) chỉ ra 3 thói quen phổ biến dưới đây có thể gây hại cho gan, theo Hindustan Times (Ấn Độ).
Nhiều người cho rằng uống một ly đồ uống có cồn mỗi ngày không gây hại, thậm chí một ly rượu vang đỏ còn được xem là tốt cho sức khỏe. Tuy nhiên, theo bác sĩ Sethi, quan niệm này không có cơ sở khoa học.
“Không có ngưỡng uống rượu nào được xem là hoàn toàn an toàn cho gan. Mỗi ly rượu đều làm tăng gánh nặng chuyển hóa mà gan phải đảm nhận. Theo thời gian, những tổn thương này có thể âm thầm tích tụ và dẫn đến hậu quả không thể hồi phục”, ông Sethi nói.
Bác sĩ Sethi cho biết thêm, có tới 40% người uống rượu ở mức vừa phải xuất hiện những thay đổi trên chẩn đoán hình ảnh liên quan đến bệnh gan nhiễm mỡ.
Thực phẩm siêu chế biến ngày càng trở nên phổ biến trong chế độ ăn của nhiều người. Tác động bất lợi của nhóm thực phẩm này đối với sức khỏe đường ruột và gan đang nhận được nhiều sự quan tâm.
Bác sĩ Sethi cho hay: “Lượng fructose dư thừa, carbohydrate tinh chế và chất béo bão hòa trong các thực phẩm siêu chế biến là một trong những yếu tố thúc đẩy bệnh gan nhiễm mỡ. Hiện nay, tôi đang gặp tình trạng này ở cả những người trong độ tuổi 20 - 30 với tần suất mà cách đây một thập kỷ gần như không thể tưởng tượng được”.
Theo bác sĩ Sethi, từ đầu những năm 2000, tỷ lệ gan nhiễm mỡ ở trẻ em và người trẻ đã tăng khoảng 40%, và ông cho rằng việc tiêu thụ thực phẩm siêu chế biến là một trong những nguyên nhân quan trọng góp phần vào xu hướng này.
Căng thẳng mạn tính và thiếu ngủ đã trở thành một phần của lối sống hiện đại, và nhiều người không nhận ra rằng hai yếu tố này cũng có thể góp phần làm tăng nguy cơ gan nhiễm mỡ.
Bác sĩ Sethi cho biết nhiều người không liên hệ căng thẳng và thiếu ngủ với tổn thương gan. Tuy nhiên, rối loạn điều hòa cortisol làm tăng tích tụ mỡ nội tạng, trong khi mỡ nội tạng là một trong những yếu tố nguy cơ đã được chứng minh rõ ràng nhất đối với bệnh gan nhiễm mỡ. Ở bệnh nhân gan nhiễm mỡ, nồng độ cortisol cao hơn khoảng 65% so với người khỏe mạnh, và mức tăng này có mối liên quan trực tiếp với mức độ nghiêm trọng của bệnh.
Như vậy, việc phòng ngừa bệnh lý gan cần được nhìn nhận toàn diện hơn, không chỉ tập trung vào việc hạn chế rượu bia. Nhiều thói quen sinh hoạt hằng ngày, nếu kéo dài và không được điều chỉnh, có thể góp phần làm tăng nguy cơ tổn thương gan theo thời gian.
Theo Nghị định 168/2026, lao động nữ sinh con thứ hai, lao động nam khi vợ sinh con thứ hai đủ điều kiện hưởng chế độ thai sản theo quy định của pháp luật về BHXH và được hưởng chế độ nghỉ thai sản khi sinh con thứ hai quy định tại điểm a khoản 1 điều 14 luật Dân số thuộc các trường hợp sau: lao động nữ khi sinh con mà tại thời điểm sinh có một con đẻ còn sống; lao động nam khi vợ sinh con mà tại thời điểm sinh, người vợ có một con đẻ còn sống.
Thủ tục hưởng chế độ nghỉ thai sản khi sinh con thứ hai thực hiện theo pháp luật về BHXH. Người kê khai chịu trách nhiệm toàn diện trước pháp luật về tính chính xác, trung thực của nội dung kê khai đề nghị hưởng chế độ quy định ở trên.
Nghị định 168/2026 quy định mức hỗ trợ tài chính tối thiểu là 2 triệu đồng/phụ nữ khi sinh con thuộc các trường hợp sau:
a. Phụ nữ dân tộc thiểu số rất ít người.
b. Phụ nữ ở tỉnh, thành phố có mức sinh dưới mức sinh thay thế.
c. Phụ nữ sinh đủ 2 con trước 35 tuổi.
Phụ nữ khi sinh con đồng thời thuộc các trường hợp a, b, c ở trên thì được hưởng một mức hỗ trợ.
Về thủ tục thực hiện hỗ trợ kinh phí khi sinh con, Chủ tịch UBND xã, phường, đặc khu (gọi chung là UBND cấp xã) căn cứ thông tin từ hệ thống liên thông thủ tục đăng ký khai sinh, cơ sở dữ liệu quốc gia dân cư, ứng dụng định danh quốc gia (VNeID) và các cơ sở dữ liệu có sẵn để quyết định hỗ trợ kinh phí và thực hiện chi trả cho phụ nữ sinh con theo quy định trên cùng với thời điểm đăng ký khai sinh.
Các quy định trên có hiệu lực từ ngày 1.7.2026. Riêng trường hợp quy định tại b, c có hiệu lực thi hành từ ngày 1.1.2027. Kinh phí hỗ trợ tài chính do ngân sách địa phương bảo đảm.
Nghị định 168/2026 cũng quy định cụ thể phạm vi, đối tượng khám sàng lọc một số bệnh bẩm sinh trước sinh và sơ sinh.
Theo đó, phụ nữ mang thai được khám và thực hiện các phương pháp sàng lọc trước sinh đủ 4 bệnh cơ bản: hội chứng Down, hội chứng Edwards, hội chứng Patau, bệnh Thalassemia (tan máu bẩm sinh).
Trẻ sơ sinh được khám và thực hiện các phương pháp sàng lọc sơ sinh 5 bệnh cơ bản: suy giáp trạng bẩm sinh, thiếu men G6PD, tăng sản thượng thận bẩm sinh, khiếm thính bẩm sinh, bất thường tim bẩm sinh nặng (gói dịch vụ sàng lọc sơ sinh).
Mức hỗ trợ khám sàng lọc các bệnh bẩm sinh trước sinh được thanh toán theo thực tế nhưng tối đa không vượt quá 900.000 đồng/trường hợp; và các bệnh bẩm sinh sơ sinh được thanh toán theo thực tế nhưng tối đa không vượt quá 600.000 đồng/trường hợp. Trường hợp cơ quan có thẩm quyền phê duyệt giá gói dịch vụ thì thực hiện mức hỗ trợ tài chính theo giá gói dịch vụ được phê duyệt.
Mức hỗ trợ trên được chi trả trực tiếp cho cơ sở y tế thu thập mẫu và cơ sở y tế thực hiện các kỹ thuật sàng lọc.
Lộ trình ưu tiên: Từ ngày 1.7 - 31.12.2026, phụ nữ mang thai và trẻ sơ sinh thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo, bảo trợ xã hội; người dân tại thôn đặc biệt khó khăn, xã thuộc vùng dân tộc thiểu số và miền núi, biên giới, hải đảo được sử dụng miễn phí gói dịch vụ khám sàng lọc và mức hỗ trợ khám sàng lọc từ nguồn ngân sách nhà nước.
Từ ngày 1.1.2027, tất cả phụ nữ mang thai và trẻ sơ sinh được hưởng hỗ trợ gói dịch vụ khám sàng lọc và mức hỗ trợ khám sàng lọc từ ngân sách nhà nước của Chương trình mục tiêu quốc gia về chăm sóc sức khỏe, dân số và phát triển giai đoạn 2026 - 2035, đến khi danh mục các bệnh khám sàng lọc trước sinh và sơ sinh được cấp có thẩm quyền quy định trong danh mục bệnh được hưởng BHYT theo lộ trình tăng mức đóng BHYT và khả năng cân đối quỹ BHYT.