Vụ việc một lần nữa làm dấy lên lo ngại về tình trạng thiếu hụt dịch vụ sản khoa tại các khu vực ngoài đô thị lớn ở Hàn Quốc, báo Korea Times ngày 9-4 đưa tin.
Theo Sở Cứu hỏa và Phòng chống thảm họa Daegu, cuộc gọi cấp cứu diễn ra vào lúc 2h ngày 25-3, khi thai phụ đang ở nhà bố mẹ chồng ở phía đông thành phố và bị đau bụng.
Các nhân viên y tế nhanh chóng có mặt và đề nghị Trung tâm Điều phối y tế khẩn cấp tìm bệnh viện tiếp nhận.
Tuy nhiên 16 khoa sản tại các bệnh viện trong khu vực đã từ chối bệnh nhân với nhiều lý do khác nhau, bao gồm hết giường, thiếu bác sĩ sản trực hoặc đội ngũ y tế đang xử lý các ca cấp cứu khác.
Trước tình hình đó, trung tâm điều phối buộc phải chuyển bệnh nhân đến một bệnh viện ở thành phố Asan, tỉnh Nam Chungcheong – nơi cô từng khám thai trước đó.
Quá trình vận chuyển bắt đầu lúc 3h14 và kéo dài khoảng hai giờ. Đến 5h14, thai phụ mới được tiếp nhận tại bệnh viện. Theo cơ quan chức năng, bệnh nhân khi đó vẫn trong tình trạng ổn định và chưa có dấu hiệu chuyển dạ ngay lập tức, song việc phải đi quãng đường dài trong tình huống khẩn cấp vẫn khiến dư luận Hàn Quốc lo ngại.
Sau khi điều trị, thai phụ trong tình trạng tốt và được xuất viện. Vụ việc này được xem là một phần của xu hướng đáng báo động tại Daegu, nơi ngày càng nhiều bệnh nhân phải chuyển viện đường dài do không có cơ sở y tế gần đó đủ khả năng tiếp nhận ca cấp cứu.
Số ca chuyển viện ngoài khu vực mất hơn hai giờ (tính từ lúc lực lượng cấp cứu đến hiện trường đến khi bệnh nhân tới bệnh viện) đã tăng từ bảy ca trong năm 2024 lên 13 ca trong năm ngoái.
Đáng chú ý, các trường hợp liên quan đến sản phụ khoa, nhi khoa và bệnh mạch máu não chiếm tỉ lệ lớn, phản ánh rõ tình trạng thiếu hụt dịch vụ y tế thiết yếu.
Trước đó, một sản phụ mang song thai bị chuyển dạ sớm tại Daegu ngày 28-2 đã bị bảy bệnh viện từ chối. Sau đó cô được mổ lấy thai sau bốn giờ tại một bệnh viện ở tỉnh khác. Vụ việc khiến một trong hai trẻ tử vong, em còn lại bị tổn thương não nghiêm trọng, gây phẫn nộ trong dư luận Hàn Quốc và làm dấy lên chỉ trích nhằm vào hệ thống y tế.
Trước thực trạng trên, ông Eom Jun Wook, Giám đốc Sở Cứu hỏa và Phòng chống thảm họa Daegu, cho biết sẽ tăng cường nhân lực chuyên môn cho Trung tâm Điều phối y tế khẩn cấp, đồng thời nâng cao năng lực của đội ngũ cấp cứu tại bệnh viện nhằm cải thiện khả năng xử lý các ca bệnh chuyên sâu.
Ngày 9-5, Bệnh viện Nhi đồng TP Cần Thơ phối hợp Hội Nhi khoa Việt Nam tổ chức Hội nghị khoa học nhi khoa khu vực Đồng bằng sông Cửu Long mở rộng lần thứ 10.
Tham dự và chia sẻ kinh nghiệm trong lĩnh vực nhi khoa có GS.TS Phạm Nhật An - Phó chủ tịch Hội Nhi khoa Việt Nam, cùng hơn 700 thầy thuốc đến từ các bệnh viện, trường đại học, cao đẳng chuyên ngành nhi trên cả nước.
Tại hội nghị, đề tài "Cập nhật gánh nặng bệnh tật và vắc xin phòng bệnh tay chân miệng" của TS.BS Lê Nguyễn Thanh Nhàn - Bệnh viện Nhi đồng 1 (TP.HCM) thu hút sự quan tâm của nhiều người.
Theo báo cáo, tình hình dịch tay chân miệng ở trẻ em năm nay đang rất "nóng" tại các tỉnh phía Nam với trên 18.000 ca mắc, đã có 8 trường hợp tử vong tại khu vực này.
Để giảm gánh nặng bệnh tật và nguy cơ tử vong của bệnh tay chân miệng, theo báo cáo hiện nay nhiều nước lân cận đang sử dụng vắc xin phòng tay chân miệng đạt hiệu quả phòng bệnh và an toàn.
Theo nhà sản xuất, vắc xin này được đánh giá bảo vệ 100% đối với chủng EV - A71 và hiệu quả miễn dịch kéo dài 5 năm. Trẻ từ 2 tháng tuổi đến dưới 2 tuổi theo khuyến cáo nên tiêm 3 mũi; trẻ từ 2 tuổi đến dưới 6 tuổi tiêm 2 mũi.
Theo tiến sĩ Nhàn, tại Việt Nam, vào tháng 3-2026, Bộ Y tế đã cấp phép lưu hành đối với vắc xin B4 (Envacgen), đây cũng là vắc xin được Hội Sơ sinh Đài Loan khuyến cáo sử dụng phòng bệnh tay chân miệng cho trẻ em.
Tại hội nghị còn có nhiều bài báo cáo khoa học chuyên sâu của các chuyên gia nhi khoa đến từ Hà Nội, TP.HCM và các tỉnh, thành khu vực phía Nam. Trong đó có các báo cáo khoa học đề cập đến những vấn đề "nóng" trong lĩnh vực nhi khoa: sốt xuất huyết, vắc xin phòng bệnh, tăng huyết áp ở trẻ sơ sinh, viêm phổi, chăm sóc toàn diện trẻ sinh non...
Bác sĩ chuyên khoa II Ông Huy Thanh - Giám đốc Bệnh viện Nhi đồng TP Cần Thơ, chia sẻ đây là cơ hội để các đồng nghiệp miền Tây Nam Bộ chia sẻ, học hỏi kinh nghiệm từ các chuyên gia lĩnh vực nhi khoa từ Hà Nội, TP.HCM. Vì vậy dù khó khăn, thách thức nhưng qua 10 lần tổ chức, hội nghị vẫn nhận được sự quan tâm của các thầy thuốc của cộng đồng nhi khoa.
Với người khỏe mạnh, khi da bị trầy xước hay bị vết cắt nhỏ, cơ thể sẽ nhanh chóng huy động các tế bào miễn dịch, đưa máu và dưỡng chất đến vùng tổn thương để giúp vết thương lành lại. Nhưng ở người mắc bệnh tiểu đường, quá trình này diễn ra chậm hơn rất nhiều, theo chuyên trang sức khỏe Medical News Today (Anh).
Trên thực tế, loét bàn chân là một trong những biến chứng mạn tính phổ biến nhất của bệnh tiểu đường. Đây là nguyên nhân khiến nhiều người phải nhập viện hoặc cắt cụt chi.
Đáng chú ý, nhiều trường hợp ban đầu chỉ xuất phát từ những tổn thương rất nhỏ như vết phồng rộp do giày mới, một vết nứt ở gót chân, móng chân mọc quặp hoặc một vết xước khi đi chân trần. Nếu không được xử lý đúng cách, những tổn thương này có thể trở thành cửa ngõ để vi khuẩn xâm nhập và gây nhiễm trùng.
Những nguyên nhân khiến người bị tiểu đường dễ bị loét bàn chân gồm:
Khi bị tổn thương bàn chân, người bệnh thường có thể không nhận ra mình bị thương. Một trong những nguyên nhân quan trọng nhất là bệnh thần kinh ngoại biên do tiểu đường. Khi đường huyết tăng cao trong thời gian dài, các dây thần kinh, đặc biệt ở bàn chân, có thể bị tổn thương.
Lúc này, người bệnh giảm hoặc mất khả năng cảm nhận đau, nóng, lạnh hay va đập. Họ có thể đi một đôi giày quá chật suốt cả ngày, dẫm phải vật sắc nhọn hoặc bị phồng rộp mà hoàn toàn không nhận ra. Do không có cảm giác đau để cảnh báo, vết thương tiếp tục bị ma sát mỗi khi đi lại và ngày càng trở nên nghiêm trọng hơn.
Đường huyết tăng kéo dài cũng có thể làm tổn thương các mạch máu và thúc đẩy quá trình xơ vữa động mạch, gây hẹp mạch máu. Khi các động mạch nuôi bàn chân bị hẹp, lượng máu đến vùng này sẽ giảm xuống.
Máu mang theo ô xy, dưỡng chất và các tế bào miễn dịch cần thiết cho quá trình tái tạo mô. Nếu nguồn máu không đủ, vết thương sẽ mất nhiều thời gian hơn để hồi phục, có thể là nhiều tuần, thậm chí nhiều tháng.
Một nguyên nhân khác khiến các vết thương ở bàn chân dễ trở nên nghiêm trọng là khả năng chống nhiễm trùng của cơ thể bị suy giảm. Một nghiên cứu đăng trên chuyên san American Journal of the Medical Sciences cho thấy đường huyết tăng cao kéo dài sẽ làm giảm chức năng của bạch cầu, vốn giúp tiêu diệt vi khuẩn. Khi đó, vi khuẩn dễ phát triển hơn và cơ thể cũng khó kiểm soát tình trạng nhiễm trùng hơn.
Khi vi khuẩn xâm nhập vào vết loét, tình trạng nhiễm trùng có thể tiến triển nhanh hơn nhiều người nghĩ. Ban đầu, người bệnh có thể thấy vùng da quanh vết thương đỏ hơn, sưng, chảy dịch hoặc có mùi hôi. Nếu không được điều trị kịp thời, vi khuẩn có thể lan sang các mô mềm xung quanh, gây viêm mô tế bào, hình thành áp xe hoặc xâm nhập vào xương gây viêm xương tủy, theo Medical News Today.
Theo kết quả nghiên cứu hồi cứu về tai biến trong truyền máu, công bố tại tại hội nghị "Cấp phát và sử dụng máu an toàn trong bối cảnh đa chuyên khoa" diễn ra ngày 26.5, do Bệnh viện Bạch Mai tổ chức, trong năm 2025, tại một số đơn vị điều trị của bệnh viện tuyến T.Ư, với gần 175.000 đơn vị máu được truyền, đã ghi nhận gần 100 lượt có tai biến liên quan truyền máu. Các ca tai biến chủ yếu phát hiện trong vòng 2 giờ sau truyền, đều được xử trí kịp thời.
Tai biến trong truyền máu là ghi nhận phản ứng hoặc biến cố bất lợi xảy ra với bệnh nhân trong hoặc sau truyền máu. Ước tính, cứ truyền 10.000 đơn vị chế phẩm máu, có thể gặp 5,5 lượt tai biến. Tỷ lệ tai biến này thấp hơn thấp so với ước tính chung trên thế giới là 20 - 25 lượt/10.000 đơn vị.
Đặc biệt chú trọng về an toàn người bệnh, PGS-TS Đào Xuân Cơ khẳng định: "Truyền máu an toàn không chỉ là "có máu để truyền", mà phải là truyền đúng người bệnh, đúng chế phẩm, đúng thời điểm, đúng chỉ định và được theo dõi chặt chẽ trong toàn bộ quá trình điều trị.
Trong bối cảnh người bệnh ngày càng nặng hơn, nhiều bệnh lý phức tạp hơn, nhiều kỹ thuật chuyên sâu như ECMO, ghép tạng, ung thư, huyết học ác tính, hồi sức đa cơ quan phát triển mạnh mẽ, an toàn truyền máu cần được nhìn nhận như một cấu phần chiến lược của y học hiện đại, được quản trị bằng hệ thống, dữ liệu và khoa học bằng chứng".
Cùng quan điểm trên, PGS-TS Nguyễn Tuấn Tùng, Phó giám đốc Bệnh viện Bạch Mai, Giám đốc Trung tâm Huyết học - Truyền máu Bạch Mai, lưu ý, truyền máu tại bệnh viện, chỉ cần một mắt xích xảy ra sai sót, an toàn người bệnh có thể bị ảnh hưởng. Một mẫu máu lấy nhầm, một phản ứng nhẹ không được báo cáo hay một trường hợp phát máu khó không được trao đổi sớm đều có thể làm gia tăng nguy cơ biến cố.
Chia sẻ tại hội nghị, giám đốc trung tâm truyền máu của một bệnh viện tuyến T.Ư tại Hà Nội cho rằng, có tình trạng khi bệnh nhân bị biến cố do truyền máu nhưng không bộ phận nào chịu trách nhiệm, ngoại khoa đổ lỗi cho nội khoa, nội khoa đổ lỗi cho bộ phận cấp phát máu.
Do đó, các chuyên gia nhấn mạnh, cần phối hợp đa chuyên khoa trong đảm bảo an toàn truyền máu (liên quan xét nghiệm xác định đúng nhóm máu, chỉ định truyền máu...), các dữ liệu của ngân hàng máu được thể hiện trên hệ thống minh bạch; hội đồng truyền máu của bệnh viện làm việc hiệu quả trên cơ sở các quy trình về an toàn truyền máu trong bệnh viện được thiết lập và tuân thủ.
Các khoa, phòng cần trung thực báo cáo các biến cố liên quan truyền máu lâm sàng (trong điều trị ca bệnh), giúp ngăn ngừa xảy ra sai sót tương tự.