Tiếp nhận một số ý kiến đề nghị xem xét mở rộng danh mục chi trả bảo hiểm y tế để đảm bảo tốt hơn quyền lợi của người dân, nhất là những bệnh nhân mắc bệnh hiểm nghèo, Bộ Y tế cho biết đang rà soát, sửa đổi, bổ sung Thông tư số 20/2022/TT-BYT (gọi tắt là Thông tư 20/2022) về danh mục thuốc được quỹ Bảo hiểm y tế thanh toán, bảo đảm tốt hơn quyền lợi của người tham gia.
Trong dự thảo thông tư sửa đổi bổ sung Thông tư 20/2022, danh mục thuốc bảo hiểm y tế sẽ được bổ sung một số thuốc điều trị ung thư, bệnh mạn tính và bệnh hiếm; đồng thời sửa đổi, bổ sung điều kiện và tỷ lệ thanh toán đối với một số thuốc đã có trong danh mục, qua đó giảm gánh nặng chi phí cho người bệnh và nâng cao hiệu quả điều trị, Bộ Y tế đang xin ý kiến các đơn vị liên quan để hoàn thiện dự thảo, dự kiến ban hành trong năm 2026.
Theo quy định hiện hành về chi trả thuốc khi khám chữa bệnh bảo hiểm y tế (tại Thông tư 20), có 1.037 hoạt chất, thuốc hóa dược và sinh phẩm thuộc 27 nhóm lớn, cùng 59 thuốc phóng xạ và chất đánh dấu; trong đó có 76 hoạt chất thuộc nhóm thuốc điều trị ung thư và điều hòa miễn dịch.
Danh mục này được quy định theo tên hoạt chất, thành phần, không giới hạn dạng bào chế hay tên thương mại, qua đó tạo điều kiện để số lượng thuốc thành phẩm được bảo hiểm y tế chi trả thực tế đa dạng và phong phú hơn.
Bên cạnh đó, danh mục thuốc cổ truyền, dược liệu, vị thuốc y học cổ truyền cũng rất rộng, bao gồm 229 thuốc đông y, dược liệu và 349 vị thuốc cổ truyền, được áp dụng thống nhất cho mọi tuyến khám chữa bệnh, kể cả tuyến huyện.
Danh mục thuốc bảo hiểm y tế tại Việt Nam được quy định theo tên hoạt chất hoặc thành phần, không quy định theo hàm lượng, dạng bào chế hay tên thương mại. Do đó, trên thực tế, số lượng thuốc thương mại được quỹ Bảo hiểm y tế chi trả lớn hơn nhiều so với danh mục thuốc được quy định theo tên hoạt chất, thành phần.
Với hơn 1.000 hoạt chất, thực tế có hàng ngàn thuốc đã được cấp số đăng ký lưu hành tại Việt Nam.
Bộ Y tế cũng cho biết, việc lựa chọn thuốc thành phẩm được quỹ Bảo hiểm y tế thanh toán tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh không bị giới hạn bởi chỉ định điều trị, chuyên khoa điều trị hoặc việc điều trị bệnh cấp tính hay mạn tính.
Bộ Y tế cũng đã ban hành danh mục 62 bệnh hiểm nghèo và bệnh hiếm, cho phép người tham gia bảo hiểm y tế mắc các bệnh này được khám bệnh, chữa bệnh trực tiếp tại các bệnh viện tuyến T.Ư mà không cần thủ tục cấp giấy chuyển tuyến.
Đồng thời, đã triển khai tích hợp giấy chuyển tuyến khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế điện tử và giấy hẹn khám lại điện tử trên ứng dụng VNeID, góp phần cải cách thủ tục hành chính, giảm tối đa phiền hà cho người bệnh và tạo điều kiện để người dân được khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế thuận lợi hơn.
Ngày 28.6, bác sĩ chuyên khoa 2 Nguyễn Thị Dững, Trưởng khoa Nội tổng hợp, Bệnh viện đa khoa Việt Mỹ (TP.HCM), cho biết kết quả nội soi tiêu hóa kết hợp các thăm dò cận lâm sàng, các bác sĩ phát hiện bệnh nhân T. có khối u sùi đại tràng đã di căn phúc mạc, cột sống và hạch ổ bụng. Trường hợp này cho thấy nhiều bệnh lý tiêu hóa nguy hiểm có thể diễn tiến âm thầm trong thời gian dài mà không có triệu chứng rõ rệt.
Bản thân ông T. và gia đình cũng khá bất ngờ với kết quả nội soi. Trước đó, ông vẫn sinh hoạt gần như bình thường, không xuất hiện các dấu hiệu cảnh báo rõ rệt. Tình trạng ăn uống kém chỉ mới xuất hiện trong thời gian ngắn nên gia đình cho rằng có thể liên quan đến tuổi tác hoặc thay đổi thời tiết, vì vậy chưa nghĩ đến khả năng mắc bệnh lý nghiêm trọng.
“Ở giai đoạn đầu, ca bệnh lý ác tính đại trực tràng có thể biểu hiện khá mơ hồ với các dấu hiệu thường gặp như rối loạn tiêu hóa, rối loạn thói quen đi tiêu, đầy bụng hoặc ăn uống kém nên người bệnh dễ bỏ qua. Khi phát hiện, bệnh có thể đã tiến triển đến giai đoạn nặng, thậm chí là phát triển thành khối u ác tính", bác sĩ Dững chia sẻ.
Nhiều bệnh lý đường tiêu hóa có thể khởi phát từ những tổn thương ở niêm mạc trong thời gian dài. Polyp tiêu hóa nói chung hay polyp đại trực tràng nói riêng là một trong những tổn thương thường gặp và có thể tiến triển thành ung thư nếu không được phát hiện, theo dõi và xử lý kịp thời.
Theo bác sĩ Dững, polyp đường tiêu hóa là tình trạng tăng sinh bất thường của lớp niêm mạc, thường gặp ở đại trực tràng. Phần lớn polyp là lành tính, tuy nhiên một số dạng polyp tuyến có khả năng tiến triển thành ung thư nếu không được phát hiện và xử lý sớm.
Ở giai đoạn đầu, các tổn thương thường chỉ khu trú ở lớp niêm mạc và gần như không gây triệu chứng rõ ràng, khiến người bệnh khó nhận biết nếu không thực hiện tầm soát định kỳ.
“Nhiều trường hợp polyp được phát hiện tình cờ thông qua nội soi khi người bệnh chưa có biểu hiện lâm sàng đáng chú ý. Một số polyp, đặc biệt polyp tuyến kích thước lớn hoặc có loạn sản, được xem là tổn thương tiền ung thư cần được theo dõi, xử lý sớm để hạn chế nguy cơ tiến triển ác tính", bác sĩ Võ Văn Hải, Bệnh viện đa khoa Việt Mỹ chia sẻ..
Bác sĩ khuyến cáo, những người từ 40 - 45 tuổi trở lên, người có tiền sử polyp đại trực tràng, rối loạn tiêu hóa kéo dài hoặc gia đình có người mắc bệnh lý ác tính ở ống tiêu hóa nên chủ động nội soi tầm soát định kỳ để phát hiện sớm bất thường và tăng cơ hội can thiệp kịp thời.
Mỗi năm, Việt Nam ghi nhận khoảng 250.000 ca phẫu thuật thẩm mỹ, trong đó có từ 25.000 - 35.000 trường hợp gặp biến chứng. Con số này cho thấy những rủi ro ngày càng báo động của ngành làm đẹp hiện nay.
Thông tin này được các chuyên gia đưa ra tại hội thảo "Thẩm mỹ an toàn: Từ pháp lý đến thực hành chuẩn y khoa" do báo Tiền Phong tổ chức tại TP.HCM vào ngày 12-5.
PGS.TS.BS Nguyễn Thanh Vân, Chủ tịch Hội Phẫu thuật tạo hình thẩm mỹ TPHCM, cho biết phẫu thuật thẩm mỹ là lĩnh vực đặc thù vì đối tượng can thiệp thường là người khỏe mạnh, mục tiêu nhằm cải thiện ngoại hình.
Tuy nhiên nhu cầu làm đẹp ngày càng cao kéo theo áp lực lớn về kết quả, trong khi thực tế vẫn tồn tại nhiều nguy cơ tai biến, đặc biệt tại các cơ sở hoạt động không phép.
Theo thống kê, biến chứng thường gặp nhất ở vùng mũi, chiếm khoảng 42,6%, tiếp theo là vùng mặt và ngực. Các tai biến phổ biến gồm nhiễm trùng, tụ máu, sẹo xấu, biến dạng chức năng, tắc mạch, hoại tử, mù mắt do tiêm filler, thuyên tắc phổi, tổn thương nội tạng và thậm chí tử vong.
Đáng lo ngại, xu hướng "phi y khoa hóa" trong thẩm mỹ đang gia tăng mạnh. Nhiều spa và cơ sở chăm sóc sắc đẹp không được cấp phép vẫn ngang nhiên thực hiện các thủ thuật xâm lấn như tiêm filler, hút mỡ hay nâng mũi. Không ít nơi sử dụng vật liệu không rõ nguồn gốc, người thực hiện thiếu chuyên môn y khoa, dẫn đến hàng loạt ca tai biến nghiêm trọng.
Các biến chứng có thể từ nhẹ như bầm tím, tụ dịch đến rất nặng như nhiễm trùng, hoại tử, sốc phản vệ, suy đa cơ quan hoặc tử vong.
Đặc biệt, huyết khối tĩnh mạch sâu và thuyên tắc phổi có tỉ lệ tử vong lên tới hơn 20%, thường xảy ra sau các ca tạo hình thành bụng. Hội chứng thuyên tắc mỡ sau hút mỡ hoặc cấy mỡ khối lượng lớn cũng có nguy cơ tử vong cao.
Nhiều trường hợp nghiêm trọng đã được ghi nhận. Một phụ nữ 36 tuổi bị viêm phúc mạc toàn thể sau hút mỡ và tạo hình thành bụng, phải điều trị hơn 100 ngày với nhiều cuộc phẫu thuật mới giữ được tính mạng nhưng vẫn mang di chứng nặng nề.
Một nữ bệnh nhân khác, 64 tuổi, tử vong sau khi thực hiện cùng lúc nhiều thủ thuật như cắt mí, đặt túi ngực, hút mỡ và tạo hình bụng. Nguyên nhân được xác định là thuyên tắc phổi dẫn đến suy đa cơ quan.
Ngoài ra nhiều ca mù mắt sau tiêm filler, lật mi, lộ sụn mũi hay hoại tử ngực cũng liên tục xuất hiện thời gian gần đây.
Theo các chuyên gia, nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ việc thực hiện thẩm mỹ tại cơ sở không phép, người làm không phải bác sĩ chuyên khoa, lạm dụng nhiều kỹ thuật trong cùng một ca mổ hoặc thiếu điều kiện hồi sức cấp cứu. Các yếu tố như béo phì, hút thuốc lá hay bệnh nền cũng làm tăng nguy cơ tai biến.
Ebola là bệnh truyền nhiễm rất dễ lây và thường gây tử vong. Bệnh do nhiều chủng virus khác nhau gây ra, phần lớn có nguồn gốc từ loài dơi ăn quả. Kể từ khi xuất hiện lần đầu vào năm 1976, đã có hơn 40 đợt bùng phát Ebola được ghi nhận. Đây là đợt bùng phát thứ 17 tại Cộng hòa Dân chủ Congo.
Các đợt dịch thường bắt nguồn từ hiện tượng “lây truyền từ động vật sang người”. Sau đó, người bệnh lây cho người khác qua các dịch cơ thể như máu, chất nôn… Triệu chứng ban đầu gồm sốt, mệt mỏi, đau cơ, đau đầu; sau đó có thể xuất hiện nôn ói, tiêu chảy, phát ban và chảy máu trong lẫn ngoài cơ thể. Tỷ lệ tử vong trung bình khoảng 50%, theo tờ The Guardian (Anh).
Có 4 chủng Ebola gây bệnh ở người: Zaire, Sudan, Bundibugyo và Tai Forest. Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), đợt dịch lần này liên quan đến chủng Bundibugyo. Trước đây, mới chỉ có 2 đợt bùng phát do chủng này gây ra, vào năm 2007 và 2012. Vì chủng lần này rất hiếm gặp, hiện chưa có vắc xin phòng ngừa nên đợt bùng phát này là đáng lo ngại.
Tiến sĩ Simon Williams, chuyên gia bệnh truyền nhiễm tại Đại học Swansea (Anh) cho biết: Đợt bùng phát lần này đáng lo hơn các đợt trước vì vắc xin Ebola hiện có - Ervebo - không phù hợp với chủng virus Bundibugyo. Hiện cũng chưa có thuốc điều trị hay vắc xin đặc hiệu cho chủng này. Ebola là bệnh rất nguy hiểm với tỷ lệ tử vong cao, cao hơn nhiều so với Covid-19. Dù khả năng lây lan chậm hơn Covid-19 hay sởi, nhưng mức độ nghiêm trọng của bệnh lại lớn hơn và có thể gây tử vong cho bất kỳ ai, không chỉ người cao tuổi hay người suy giảm miễn dịch.
Dịch bắt đầu từ tháng trước, với ca nghi nhiễm sớm nhất được ghi nhận là một người đàn ông 59 tuổi, xuất hiện triệu chứng ngày 24.4 và tử vong sau đó 3 ngày. Cơ quan y tế chỉ biết về đợt dịch qua mạng xã hội vào ngày 5.5. Khi đó, đã có hàng chục người tử vong, theo Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh châu Phi (CDC Africa).
Theo Tổng giám đốc CDC Africa, tiến sĩ Jean Kaseya, việc phát hiện chậm đã tạo điều kiện để dịch lây lan. Tiến sĩ Anne Cori, Đại học Imperial (Anh) nhận định, bất kỳ sự chậm trễ nào trong phản ứng với Ebola đều có thể dẫn đến hậu quả nghiêm trọng.
Số ca nghi nhiễm và tử vong lớn cho thấy dịch có thể đã âm thầm lan rộng trong nhiều tuần, thậm chí nhiều tháng trước khi được công bố chính thức. Điều này khiến các biện pháp kiểm soát như truy vết tiếp xúc trở nên khó khăn hơn.