Tổ chức Y tế thế giới (WHO) cho biết, đầu tháng 5, ghi nhận chùm ca viêm đường hô hấp cấp tính nặng trên một tàu du lịch có lịch trình từ Argentina qua nam Đại Tây Dương.
Đến ngày 4.5, ghi nhận 7 trường hợp (2 trường hợp được xác nhận nhiễm virus Hanta và 5 trường hợp nghi ngờ), bao gồm 3 trường hợp tử vong, 1 bệnh nhân nguy kịch và 3 người có triệu chứng nhẹ.
Trên tàu có 147 người (88 du khách và 59 thủy thủ đoàn) thuộc 23 quốc tịch, hiện chưa ghi nhận người Việt Nam trong nhóm hành khách, thuyền viên liên quan. Chùm ca bệnh do virus Hanta liên quan đến một tàu du lịch mang cờ Hà Lan.
Bệnh do virus Hanta là bệnh truyền nhiễm cấp tính lây từ động vật gặm nhấm (đặc biệt là chuột) sang người.
Trước thông tin trên, Cục Phòng bệnh (Bộ Y tế) đã có công văn khẩn, khuyến cáo người dân về phòng bệnh do virus Hanta.
Virus Hanta là nhóm virus có thể gây bệnh nặng ở người, như hội chứng phổi do virus Hanta hoặc sốt xuất huyết kèm hội chứng suy thận. Bệnh có thể diễn biến nhanh, gây khó thở, suy hô hấp, tụt huyết áp và có thể tử vong.
Hiện chưa có thuốc điều trị đặc hiệu bệnh do virus Hanta; điều trị chủ yếu là theo dõi, chăm sóc hỗ trợ và hồi sức kịp thời tại cơ sở y tế.
Đường lây truyền chủ yếu qua nước tiểu, phân, nước bọt của chuột nhiễm bệnh và tại nơi chuột nhiễm bệnh làm tổ hay trú ẩn, bị chuột cắn hoặc tiếp xúc trực tiếp, sau đó đưa lên mắt, mũi, miệng.
Khi quét dọn, hút bụi hoặc dọn nhà, dọn kho nơi có chuột nhiễm bệnh trú ẩn, chất thải khô của chuột có thể phát tán thành bụi rất nhỏ trong không khí; người hít phải bụi có chứa mầm bệnh có thể bị nhiễm virus Hanta. Lây truyền từ người sang người rất hiếm, nhưng đã được ghi nhận trên y văn.
Thời gian ủ bệnh thường từ 2 – 4 tuần, có thể tới 8 tuần. Người bệnh có thể sốt, ớn lạnh, đau đầu, chóng mặt, đau cơ, buồn nôn, nôn, đau bụng hoặc tiêu chảy; sau đó có thể đột ngột ho, tức ngực, khó thở, mệt lả, tụt huyết áp.
Trong nước hiện chưa ghi nhận trường hợp mắc bệnh do virus Hanta trên người. Tuy nhiên, trong bối cảnh chuột ở nước ta khá phổ biến, để chủ động phòng, chống dịch bệnh do virus Hanta và các bệnh dịch khác lây truyền từ chuột sang người, Cục Phòng bệnh (Bộ Y tế) khuyến cáo người dân thực hiện các biện pháp sau:
Không chạm tay trực tiếp vào chuột sống, chuột chết, phân, nước tiểu, nước bọt hoặc ổ chuột.
Khi dọn dẹp nơi có dấu vết của chuột: mở cửa cho thông thoáng, đeo găng tay và khẩu trang; phun ướt khu vực có phân, nước tiểu hoặc nơi chuột làm tổ bằng dung dịch khử khuẩn hoặc nước tẩy rửa thông thường trước khi lau dọn.
Không quét khô, không dùng máy hút bụi hoặc máy thổi, vì có thể làm bụi nhỏ chứa mầm bệnh bay trong không khí, người hít phải bụi này có thể bị nhiễm bệnh.
Rửa tay bằng xà phòng sau khi dọn vệ sinh, xử lý rác, tiếp xúc với chuột hoặc khu vực có nguy cơ.
Bịt kín khe hở để chuột không vào nhà; đặt bẫy khi cần; cất thức ăn, nước uống trong đồ chứa kín; thu gom rác hằng ngày để không thu hút chuột.
Sau khi tiếp xúc với chuột hoặc nơi có phân, nước tiểu, nơi chuột làm tổ, nếu xuất hiện sốt, ớn lạnh, đau đầu, chóng mặt, đau cơ, buồn nôn, nôn, đau bụng hoặc tiêu chảy, người dân cần đến ngay cơ sở y tế và thông báo rõ nguy cơ tiếp xúc với chuột để được khám, điều trị kịp thời.
Cục Phòng bệnh tiếp tục phối hợp với WHO và các cơ quan liên quan để theo dõi tình hình, cập nhật thông tin và hướng dẫn các địa phương triển khai biện pháp phòng, chống dịch kịp thời, phù hợp.
Bác sĩ ở Hàn Quốc dự đoán thai phụ có nguy cơ sinh non, trẻ phải nằm lồng kính. Chị về Việt Nam đến Bệnh viện Phụ sản Hà Nội, bác sĩ Ngô Thị Hương, Trung tâm Can thiệp bào thai, cho biết trường hợp mang thai ba tự nhiên như thai phụ này vốn ít gặp. Trường hợp này, hai thai nhi chung bánh nhau xuất hiện hội chứng truyền máu song thai giai đoạn II - một biến chứng nặng có thể đe dọa sự sống của thai nhi nếu không được can thiệp kịp thời.
Truyền máu song thai (TTTS) là hội chứng xảy ra trong thai kỳ, khi thai phụ mang một cặp song sinh cùng trứng chung bánh nhau nhưng khác túi ối. Đây là một tai biến trước sinh vô cùng nghiêm trọng. Hiệp hội Truyền máu song thai Mỹ ghi nhận hội chứng này xảy ra với khoảng 15% trường hợp mang song thai có chung một bánh nhau.
Tình trạng phức tạp hơn khi một thai có dấu hiệu thiểu ối nặng, không thấy bàng quang, gần như không cử động, thai còn lại đa ối do nhận quá nhiều máu. Ngoài ra, thai phụ còn bị nhân xơ tử cung, tăng thêm khó khăn trong quá trình can thiệp.
Các bác sĩ quyết định phẫu thuật can thiệp bào thai bằng laser đông cầu nối mạch máu giữa hai thai. Tuy nhiên thách thức chồng chất khi tuổi thai còn quá nhỏ (16 tuần) và bánh nhau bám mặt trước diện rộng, rất dễ gây chảy máu hoặc kích thích co bóp tử cung dẫn đến sảy thai.
May mắn, sau can thiệp, hai thai nhi đều phát triển tốt, tình trạng chuyển biến tích cực, nước ối dần tăng lên, bàng quang của thai nhi thiểu ối được quan sát rõ trên siêu âm. Thai nhi cử động tốt, phát triển ổn định, không ghi nhận dấu hiệu chảy máu hay bong nhau.
Thai phụ hồi phục tốt, không đau nhiều sau thủ thuật và có thể vận động nhẹ nhàng. Hiện, cả ba mẹ con đều ổn định.
"Với trường hợp tam thai có hội chứng truyền máu, theo dõi sát và can thiệp kịp thời là yếu tố quyết định cứu sống thai nhi", bác sĩ nói. Tỷ lệ giữ được thai sau can thiệp trong trường hợp này có thể đạt 70-80%, song cần theo dõi chặt chẽ trong suốt thai kỳ.
Trường hợp mang tam thai tự nhiên ít gặp, y văn thế giới ghi nhận tỷ lệ 1/8.000 ca sinh. Người mẹ mang tam thai dễ gặp các biến cố sản khoa nguy hiểm hơn so với bình thường, như sảy thai, sinh non, ngôi bất thường, thai nhi sa dây rốn, thai phụ bị tiểu đường thai kỳ, tăng huyết áp, tiền sản giật. Thai phụ thường phải sinh mổ, dễ bị đờ tử cung, băng huyết sau sinh.
Bác sĩ khuyến cáo thai phụ mang đa thai (hai, ba hay nhiều hơn) cần khám định kỳ, theo dõi sát diễn biến thai kỳ để bác sĩ kịp thời chẩn đoán bất thường và có giải pháp can thiệp kịp thời, bảo vệ cả mẹ lẫn con.
Theo Healthline, một số nghiên cứu trên tế bào và động vật đã phát hiện ra rằng chiết xuất lá ổi giúp cải thiện mức đường huyết, kiểm soát đường huyết lâu dài và giảm kháng insulin. Điều này có thể có lợi cho những người mắc bệnh đái tháo đường hoặc những người có nguy cơ mắc bệnh.
Các nghiên cứu trên người cũng ghi nhận những phản ứng tương tự.
Tương tự, theo WebMD, các polyphenol trong trà lá ổi đã được chứng minh giúp điều chỉnh sự hấp thụ carbohydrate từ thực phẩm.
Tác dụng này đặc biệt có lợi cho một số người mắc bệnh đái tháo đường. Uống trà lá ổi sau bữa ăn có thể giúp ngăn chặn sự tăng đột biến lượng đường trong máu và không cho thấy tương tác tiêu cực với các loại thuốc mà người bệnh có thể đang dùng.
Tiến sĩ - Lương y Phùng Tuấn Giang, Chủ tịch Viện Nghiên cứu Phát triển Y dược Cổ truyền Việt Nam, cho biết thêm, theo y học cổ truyền, lá ổi vị đắng sáp, tính ấm; có công dụng tiêu thũng giải độc, thu sáp, chỉ huyết. Lá ổi đã được sử dụng từ lâu trong y học cổ truyền tại nhiều quốc gia châu Á như Việt Nam, Trung Quốc... nhằm hỗ trợ kiểm soát bệnh đái tháo đường.
Tăng cường sức khỏe tim mạch
Nhiều nhà khoa học tin rằng hàm lượng chất chống oxy hóa và vitamin cao trong lá ổi có thể giúp bảo vệ tim khỏi tổn thương do các gốc tự do.
Ngoài ra, chiết xuất lá ổi còn được liên kết với việc giảm huyết áp, giảm cholesterol LDL “xấu” và tăng cholesterol HDL “tốt”. Huyết áp cao và mức cholesterol LDL cao có liên quan đến nguy cơ mắc bệnh tim và đột quỵ cao hơn, nên việc sử dụng chiết xuất lá ổi có thể mang lại những lợi ích đáng kể.
Giảm các triệu chứng đau bụng kinh
Trong kỳ kinh nguyệt, nhiều phụ nữ gặp tình trạng đau bụng kinh do các cơn co thắt tử cung. Một số nghiên cứu cho thấy việc sử dụng chiết xuất lá ổi có thể làm giảm cường độ đau bụng kinh, cũng như chảy máu tử cung và các triệu chứng khác.
Có lợi cho hệ tiêu hóa
Ngoài ra, chiết xuất lá ổi có thể có lợi cho sức khỏe tiêu hóa. Nghiên cứu cho thấy nó có thể làm giảm cường độ và thời gian tiêu chảy.
Một số nghiên cứu cũng đã chỉ ra rằng chiết xuất lá ổi có tính kháng khuẩn. Điều này có nghĩa là nó có thể trung hòa các vi khuẩn có hại trong ruột gây ra tiêu chảy.
Theo TS Giang, một số nghiên cứu trên mô hình động vật đã phát hiện ra rằng chiết xuất lá ổi có thể là một phương pháp điều trị hiệu quả cho bệnh tiêu chảy. Phương pháp này đã được sử dụng ở các cộng đồng nông thôn trên toàn thế giới để điều trị nhiễm trùng đường tiêu hóa và thành công một phần nhờ khả năng làm săn se của lá ổi.
Mặc dù không rõ chính xác lá ổi hoạt động như thế nào để ngăn ngừa và điều trị những vấn đề này, nhưng người ta cho rằng đó là do khả năng kháng vi sinh vật của cây ổi.
Tác dụng chống ung thư
Chiết xuất lá ổi đã được chứng minh là có tác dụng chống ung thư. Các nghiên cứu trong phòng thí nghiệm và trên động vật cho thấy chiết xuất ổi có thể ngăn ngừa và thậm chí làm ngừng sự phát triển của tế bào ung thư.
Điều này có thể là do hàm lượng cao các chất chống oxy hóa mạnh mẽ ngăn chặn các gốc tự do làm tổn thương tế bào, một trong những nguyên nhân gây ung thư.
Mặc dù kết quả nghiên cứu trong phòng thí nghiệm đầy hứa hẹn, điều đó không có nghĩa là chiết xuất lá ổi giúp điều trị ung thư ở người. Cần có thêm các nghiên cứu trước khi đưa ra bất kỳ tuyên bố nào.
Tác dụng kháng khuẩn
Một số nghiên cứu trong phòng thí nghiệm về các chiết xuất lá ổi khác nhau, bao gồm cả trà lá ổi, đã chứng minh đặc tính kháng khuẩn và kháng nấm. Có một số hợp chất trong lá có thể góp phần vào các đặc tính này, bao gồm flavonoid, tanin và axit (axit gallic và axit betulinic).
TS Giang cho biết thêm, một số nghiên cứu cho thấy lá ổi có thể có đặc tính kháng khuẩn và kháng nấm mạnh mẽ. Trên thực tế, một nghiên cứu trong ống nghiệm vào năm 2010 đã lưu ý rằng lá ổi có khả năng hỗ trợ điều trị các tình trạng như ho, tiêu chảy, loét miệng và viêm quanh răng.
Các nghiên cứu khác đã chứng minh rằng lá ổi có thể phát huy tác dụng kháng khuẩn chống tiêu chảy trong trường hợp không có sẵn kháng sinh.
Trong y học dân gian, lá ổi thường được giã nát đắp lên vết thương hở, vết loét.
Chống viêm
Chiết xuất lá ổi có đặc tính chống viêm nhờ sự hiện diện của flavonoid, là những hợp chất hoạt động như chất chống oxy hóa giúp loại bỏ các gốc tự do trong cơ thể. Chứng viêm có liên quan đến nhiều bệnh lý mạn tính. Việc bổ sung các thực phẩm có đặc tính chống viêm vào chế độ ăn có thể góp phần tăng cường sức khỏe.
Bảo vệ chống tích tụ chất béo có hại trong động mạch
Do đặc tính chống viêm và chống oxy hóa của lá ổi, nó có thể hỗ trợ ngăn ngừa xơ vữa động mạch, một tình trạng đặc trưng bởi sự tích tụ các mảng bám chất béo trong động mạch.
Theo một nghiên cứu trong ống nghiệm được công bố trên tạp chí Food Chemistry, trà lá ổi có thể giúp ngăn chặn hoạt động của một loại enzyme cụ thể chịu trách nhiệm cho sự khởi phát của chứng xơ vữa động mạch, có khả năng giúp cải thiện sức khỏe tim mạch và bảo vệ chống lại bệnh tim mạch vành.
“Tuy nhiên, chúng ta nên tham khảo ý kiến bác sĩ trước khi sử dụng chiết xuất lá ổi hoặc các chất bổ sung từ ổi khác, đặc biệt những người có bệnh lý nền, đang mang thai hoặc cho con bú”, TS Giang nhấn mạnh.