Và quả thực, khi chứng kiến dây chuyền máy móc khổng lồ, hiện đại với mức độ tự động hóa rất cao, PV đã thực sự choáng ngợp. Rất ít kỹ sư và công nhân đứng máy, thế nhưng những tấm gỗ công nghiệp liên tục chạy trên dây chuyền và ra tới khu đóng gói thành phẩm theo một quy trình đều đặn và chính xác.
Với công suất thiết kế 75.000 m³/năm, tuy nhiên, trong năm 2025, MDF VRG Kiên Giang (nằm trong Khu công nghiệp Thạnh Lộc, xã Thạnh Lộc, tỉnh An Giang) đã sản xuất tới gần 140.000 m³ gỗ (đạt 186% công suất thiết kế). Các báo cáo từ công ty cho thấy, kể từ năm 2017, sản lượng sản xuất của công ty luôn cao hơn công suất thiết kế và tăng mạnh theo từng giai đoạn. Chỉ tính riêng trong năm 2025, công ty đã đạt tổng doanh thu hơn 833 tỉ đồng, lợi nhuận 31,6 tỉ đồng; nộp ngân sách hơn 34 tỉ đồng và thu nhập bình quân của người lao động đạt 13,5 triệu đồng/tháng. Công ty đã hoàn thành mục tiêu xóa toàn bộ lỗ lũy kế phát sinh trong giai đoạn đầu hoạt động, bảo toàn và phát triển hiệu quả nguồn vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp.
Ngược dòng quá khứ, năm 2013, trước yêu cầu nâng cao giá trị nguồn nguyên liệu rừng trồng, phát triển công nghiệp chế biến sâu và tạo động lực tăng trưởng cho khu vực Tây Nam bộ, Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam đã quyết định đầu tư dự án nhà máy chế biến gỗ MDF Kiên Giang. Với tổng mức đầu tư hơn 1.360 tỉ đồng, đây là một trong những dự án công nghiệp trọng điểm của tập đoàn tại Đồng bằng sông Cửu Long.
Ngày 14.3.2016, nhà máy MDF VRG Kiên Giang khánh thành với dây chuyền ép liên tục của Siempelkamp (Đức) – thương hiệu nổi tiếng thế giới về công nghệ sản xuất ván gỗ công nghiệp. Ngày 21.6.2016, Công ty CP Gỗ MDF VRG Kiên Giang được thành lập. Từ đây, hành trình của trung tâm sản xuất MDF hiện đại tại phía nam bắt đầu.
Nguyên liệu sản xuất của công ty được chọn lọc từ các nguồn gỗ bạch đàn, tràm nước và keo lai, đảm bảo hợp pháp, có kiểm soát và thân thiện với môi trường, phù hợp cho các ứng dụng sơn phủ, phủ melamine, laminate, veneer cũng như gia công nội thất cao cấp.
Các dòng sản phẩm chủ lực bao gồm: MDF, HDF, HDF Sàn, HMR, HMR E1, HMR Carb, HMR V313, FSC với độ dày từ 3 – 30 mm, kèm theo các chứng nhận sản phẩm như FSC COC, chứng nhận Carb/EPA TSCA, chứng nhận hợp quy… đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường về chất lượng và tiêu chuẩn môi trường.
Suốt 10 năm, từ những ngày đầu gian khó, MDF VRG Kiên Giang đã liên tục triển khai đồng bộ các giải pháp tối ưu hóa sản xuất, kiểm soát chi phí, nâng cao năng suất lao động, đào tạo nguồn nhân lực và đầu tư chiều sâu cho công nghệ. 10 năm qua, công ty đã đi từ giai đoạn khó khăn đến ổn định, từ ổn định đến phát triển và đang đứng trước giai đoạn chuyển mình mạnh mẽ.
Những ngày tháng 6.2026, bên trong Công ty CP Gỗ MDF VRG Kiên Giang, ngày cũng như đêm, dây chuyền máy móc vẫn liên tục hoạt động không ngơi nghỉ. Phía bên ngoài, những tàu chở gỗ tràm, gỗ keo, gỗ bạch đàn liên tục cập bến. Nguyên liệu nhanh chóng được đưa vào phân loại, sơ chế và băm dăm. Ngay sau đó, dăm gỗ được đưa vào dây chuyền. Chỉ trong thời gian rất ngắn, những tấm gỗ thành phẩm đã ra xuất hiện và nhanh chóng được đưa lên xe và vận chuyển đến khách hàng. Ở một phía khác, nhà máy keo UF với 3 bồn chứa lớn cũng vận hành liên tục (công suất cao nhất 90 tấn keo/ngày) nhằm đảm bảo nguồn nguyên liệu.
Trong một nhà máy có mức độ tự động hóa cao, đằng sau những tấm ván đều đặn rời dây chuyền là sự tập trung cao độ của đội ngũ kỹ sư, công nhân vận hành để giữ cho nhà máy hoạt động suốt ngày đêm. Ở mỗi công đoạn, yêu cầu kỹ thuật đều rất chặt chẽ, bởi chỉ một sai lệch nhỏ đều có thể ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm cuối cùng.
Cách nhà máy khoảng 20 km, cánh rừng tràm và keo lai do công ty quản lý đang sinh trưởng tốt. Ngay từ những ngày đầu triển khai dự án, MDF VRG Kiên Giang đã xác định chủ động nguồn nguyên liệu là yếu tố quyết định sự phát triển bền vững và năng lực cạnh tranh lâu dài. Sau nhiều năm nỗ lực, hiện tại, công ty đang quản lý và bảo vệ 3.900 ha đất lâm nghiệp tại các xã Hòn Đất, Bình Sơn và Vân Khánh (tỉnh An Giang). Với tổng mức đầu tư hơn 110 tỉ đồng, dự kiến dự án đạt năng suất bình quân 30–35 m³/ha/năm, tương đương khoảng 27.000 tấn gỗ nguyên liệu mỗi năm cung cấp cho nhà máy.
Suốt 10 năm bền bỉ, những nỗ lực của MDF VRG Kiên Giang được ghi nhận bằng nhiều giải thưởng: Cờ Thi đua của Chính phủ, Top 100 doanh nghiệp phát triển bền vững Việt Nam, Giải thưởng Chất lượng Quốc gia, Top 10 ESG Việt Nam Xanh, Top 30 doanh nghiệp tiêu biểu về Năng lượng và Môi trường xanh Việt Nam…
Theo ông Nguyễn Ngọc Thịnh (Chủ tịch HĐQT Công ty CP Gỗ MDF VRG Kiên Giang), bước vào giai đoạn phát triển mới, công ty kiên định với tầm nhìn trở thành doanh nghiệp chế biến gỗ công nghiệp hiện đại, thông minh và phát triển bền vững hàng đầu Việt Nam. Trong đó, MDF Kiên Giang đẩy mạnh triển khai số hóa điều hành, ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý sản xuất, tài chính và kho vật tư hướng đến mô hình nhà máy thông minh, xanh, phát triển bền vững. Công ty cũng tập trung nâng cao chất lượng sản phẩm, năng suất lao động, tiết giảm giá thành và kiểm soát chi phí.
Điều dễ nhận thấy khi đến MDF VRG Kiên Giang là nhịp vận hành bền bỉ của một doanh nghiệp gần như không có khoảng lặng. Mỗi ca sản xuất nối tiếp nhau như những mắt xích trong một guồng máy lớn. Những cây gỗ tràm, gỗ keo, gỗ bạch đàn từ rừng được đưa vào dây chuyền chế biến hiện đại để tạo ra các sản phẩm có giá trị cao hơn, phục vụ thị trường nội thất, xây dựng và xuất khẩu. Qua đó, nhà máy không chỉ tạo việc làm, đóng góp ngân sách, mà còn góp phần nâng giá trị kinh tế của cây rừng trồng trên vùng đất miền Tây.
Thị trường lao động hơn 8 triệu người tại TP.HCM và các tỉnh lân cận đang gây áp lực lớn lên hạ tầng giao thông cửa ngõ. Để giữ vững vị thế đầu tàu kinh tế, thành phố không chỉ cần giải quyết nạn kẹt xe, mà phải có chiến lược vĩ mô để thu hút vốn toàn cầu, thương mại và nhân lực trình độ cao. Do đó, TP.HCM đang rất cần một đầu mối giao thông kết nối đa tầng tầm cỡ quốc tế một trung tâm giao thương hiện đại giúp khơi thông và thúc đẩy toàn diện các nguồn lực kinh tế cho cả vùng trọng điểm phía Nam.
Ga Thủ Thiêm hiện là tâm điểm hạ tầng phía đông TP.HCM nhờ quy tụ hệ thống kết nối chiến lược liên vùng. Nơi đây là điểm cuối của tuyến metro số 2 (trị giá 55.000 tỷ đồng), trong đó đoạn đi ngầm nối từ Bến Thành sang Thủ Thiêm dự kiến sẽ hoàn thành và đưa vào vận hành toàn tuyến vào năm 2030. Bên cạnh đó, ga Thủ Thiêm còn tích hợp trực tiếp nhà ga trung tâm của tuyến đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam, đồng thời kết nối với tuyến đường sắt TP.HCM – Long Thành đang được đẩy nhanh tiến độ, giúp rút ngắn thời gian di chuyển từ thành phố đến sân bay quốc tế Long Thành từ hơn 90 phút xuống còn khoảng 30 phút.
Sức ảnh hưởng của những tuyến huyết mạch này là rất lớn: giảm tải lưu lượng cho khu vực trung tâm hiện hữu, kết nối giao thương giữa các tỉnh sau sáp nhập, và mở ra không gian phát triển mới cho toàn khu đông. Đây chính là lý do ga Thủ Thiêm được ví von là một "cú hích tỷ đô" không chỉ nằm ở con số được rót vốn mà còn tạo nên tác động chuỗi, một điểm kích hoạt cho chu kỳ phát triển mới.
Lịch sử phát triển đô thị thế giới cho thấy, các phiên bản TOD tiên tiến tại Tokyo hay Hong Kong từ lâu đã vượt qua vai trò trung chuyển thuần túy. Nhà ga đường sắt đô thị giờ đây được định nghĩa là những "điểm đến đô thị" (urban destination) - nơi tích hợp không gian thương mại, dịch vụ, văn hóa và giải trí sầm uất.
Tại Việt Nam, xu hướng này đang trở thành kim chỉ nam cho các đô thị lớn. Thay vì chỉ giải quyết nhu cầu đi lại, một nhà ga thế hệ mới được quy hoạch để trở thành hạt nhân của một đô thị tích hợp đa chức năng. Khi dòng chảy giao thương, dịch vụ và tri thức hội tụ tại một điểm, nơi đây sẽ trở thành tâm điểm định hình phong cách sống mới, mang lại giá trị phát triển bền vững cho toàn khu vực.
Với vị thế chiến lược của ga Thủ Thiêm, câu hỏi đặt ra là phiên bản mô hình TOD nào sẽ khai thác tối đa tiềm năng giá trị quỹ đất, tạo nền móng đi tắt đón đầu xu hướng phát triển hạ tầng và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Nhìn nhận từ góc độ chuyên gia, ông Troy Griffiths, Cố vấn cấp cao của Savills Việt Nam, khẳng định: "Các mô hình TOD chính là giải pháp dài hạn để cải thiện nguồn cung và tạo ra quỹ đất phát triển".
Mô hình TOD không chỉ nâng tầm diện mạo đô thị, tăng sức hút du lịch mà còn đóng góp lớn cho ngân sách và xã hội. Nhờ đó, ga Thủ Thiêm đang trở thành "nam châm" thu hút dòng người, dòng vốn và mở ra cơ hội phát triển bất động sản lớn. Nhận diện sớm tiềm năng này, SonKim Land đã chủ động đề xuất phát triển một dự án khu đô thị phức hợp ngay tại khu vực nhà ga.
Với vai trò đầu mối hạ tầng và kinh tế trọng điểm, ga Thủ Thiêm cần những giải pháp đi tắt đón đầu để tận dụng thành tựu khoa học kỹ thuật toàn cầu. Thay vì áp dụng các phiên bản an toàn như TOD 3.0 hay 4.0, việc hướng thẳng đến phiên bản TOD 5.0 tiên tiến nhất là cơ hội chiến lược để rút ngắn thời gian, hiện thực hóa tầm nhìn tích hợp toàn diện giữa giao thông và đô thị.
Việc khu vực quanh ga Thủ Thiêm đang trong giai đoạn hình thành hệ sinh thái mở ra cơ hội lớn để bứt phá cấu trúc đô thị nhờ mô hình TOD 5.0. Mô hình này giúp tái cấu trúc không gian, biến nhà ga thành hạt nhân liên kết trực tiếp mọi dịch vụ, thương mại và tiện ích.
Đây cũng là tầm nhìn chiến lược mà SonKim Land hướng tới thông qua ý tưởng phát triển "Khu đô thị phức hợp Thủ Thiêm" được giới thiệu ngày 17.5, nhằm đóng góp một giải pháp quy hoạch đồng bộ, đưa Thủ Thiêm trở thành biểu tượng đô thị tích hợp thế hệ mới.
Hợp tác cùng hai đơn vị cố vấn Nhật Bản là Nikken Sekkei và Nippon Koei, SonKim Land lần đầu giới thiệu mô hình đô thị phức hợp tiêu chuẩn quốc tế tại Việt Nam, khẳng định vai trò ngày càng lớn của khối tư nhân trong phát triển hạ tầng TP.HCM. Trong xu hướng dịch chuyển về phía đông, ga Thủ Thiêm được kỳ vọng là điểm tựa kinh tế - xã hội nhờ năng lực kết nối đa tầng giữa giao thông và thương mại. Cú hích hạ tầng này, kết hợp cùng các nhà phát triển như SonKim Land, đang mở ra cơ hội lớn để Thủ Thiêm bứt phá thành hình mẫu đô thị tích hợp tiên tiến của cả nước.
Sáng 3/7, Cục Thống kê (Bộ Tài chính) tổ chức họp báo công bố số liệu kinh tế - xã hội quý II và 6 tháng đầu năm 2026. Theo đó, sản xuất công nghiệp trong quý II/2026 tiếp tục duy trì xu hướng tăng trưởng tích cực, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) ước tăng 11,2% so với cùng kỳ năm trước.
Tính chung 6 tháng đầu năm 2026, IIP ước tăng 10,8% so với cùng kỳ năm trước, là mức tăng cao nhất kể từ năm 2019 đến nay, trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 11,4%.
Cụ thể, chỉ số sản xuất công nghiệp quý II/2026 ước tăng 11,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 11,3%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 12,4%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 10,3% và ngành khai khoáng tăng 7,0%.
Tính chung 6 tháng đầu năm 2026, IIP ước tăng 10,8% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2025 tăng 8,7%).
Trong đó, ngành chế biến, chế tạo tăng 11,4% (cùng kỳ năm 2025 tăng 10,5%), đóng góp 8,9 điểm phần trăm vào mức tăng chung; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 9,6% (cùng kỳ năm 2025 tăng 4,1%), đóng góp 0,9 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 8,9% (cùng kỳ năm 2025 tăng 10,7%), đóng góp 0,1 điểm phần trăm; ngành khai khoáng tăng 5,8% (cùng kỳ năm 2025 giảm 3,5%), đóng góp 0,9 điểm phần trăm.
Trong đó, chỉ số sản xuất 6 tháng đầu năm 2026 của một số ngành công nghiệp trọng điểm cấp II tăng so với cùng kỳ năm trước: Sản xuất kim loại tăng 21,5%; Sản xuất xe có động cơ tăng 17,7%; Sản xuất đồ uống tăng 15,4%; Sản xuất phương tiện vận tải khác tăng 15%; Sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 14,9%; Sản xuất hoá chất và sản phẩm hoá chất tăng 14,8%; Sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) tăng 13,9%...
Xét về địa phương, chỉ số sản xuất công nghiệp 6 tháng đầu năm 2026 so với cùng kỳ năm trước tăng ở cả 34 địa phương.
Một số địa phương có chỉ số IIP đạt mức tăng khá cao do ngành công nghiệp chế biến, chế tạo; ngành sản xuất và phân phối điện tăng cao.
Cụ thể, Quảng Ninh tăng 37,8%; Hà Tĩnh tăng 30,7%; Ninh Bình tăng 27,7%; Phú Thọ tăng 25,8%; Nghệ An tăng 25%; Thái Nguyên tăng 20,3%. Các địa phương có chỉ số sản xuất của ngành sản xuất và phân phối điện tăng cao: Hà Tĩnh tăng 48,3%; Phú Thọ tăng 18,3%; Điện Biên tăng 15,6%.
Ở chiều ngược lại, một số địa phương có chỉ số IIP tăng thấp do ngành công nghiệp chế biến, chế tạo; ngành khai khoáng và ngành sản xuất, phân phối điện tăng thấp hoặc giảm. Cụ thể, Lạng Sơn tăng 1%; Lai Châu giảm 1,7%.
Các địa phương có chỉ số sản xuất của ngành sản xuất và phân phối điện 6 tháng đầu năm 2026 tăng thấp hoặc giảm so với cùng kỳ năm trước: Đà Nẵng tăng 4%; Cần Thơ giảm 1,3%. Các địa phương có chỉ số sản xuất của ngành khai khoáng sáu tháng đầu năm 2026 so với cùng kỳ năm trước giảm: Đà Nẵng giảm 54,5%; Cần Thơ giảm 49,1%; Tuyên Quang giảm 10,8%; Gia Lai giảm 2,2%.
Trong quý II, một số sản phẩm công nghiệp chủ lực 6 tháng đầu năm 2026 tăng so với cùng kỳ năm trước: Xe máy tăng 32,9%; ô tô tăng 26,9%; thép cán tăng 23,3%; thủy hải sản chế biến tăng 21,6%; đường kính tăng 16,8%; bia tăng 14,4%; sơn hóa học tăng 14%; dầu mỏ thô khai thác tăng 13,1%.
Riêng ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 6 tăng 1,8% so với tháng trước và tăng 9% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 6 tháng đầu năm 2026, chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 10,8% so với cùng kỳ năm 2025 (cùng kỳ năm 2025 tăng 9,8%).
Cùng với đó, chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tại thời điểm 30/6/2026 ước tăng 5,3% so với cùng thời điểm tháng trước và tăng 13,3% so với cùng thời điểm năm trước. Tỉ lệ tồn kho toàn ngành chế biến, chế tạo bình quân 6 tháng đầu năm 2026 là 82,2% (bình quân cùng kỳ năm 2025 là 85,7%).
Tại báo cáo, Cục Thống kê cũng cho biết số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 1/6/2026 tăng 1% so với cùng thời điểm tháng trước và tăng 3,1% so với cùng thời điểm năm trước. Trong đó, lao động khu vực doanh nghiệp Nhà nước không đổi và tăng 1,4%; doanh nghiệp ngoài Nhà nước tăng 0,5% và tăng 2,4%; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 1,3% và tăng 3,1%.
* Trong bối cảnh các sàn lần lượt điều chỉnh, chính sách dành cho nhà bán, tạo nên nhiều cuộc tranh luận, ông hãy chia sẻ thêm góc nhìn của sàn về điều này.
- Ông Trần Tuấn Anh: Từ đầu năm đến nay, nền kinh tế toàn cầu và tại Việt Nam đã gặp nhiều thách thức, nhất là sau khi chiến sự tại Trung Đông bùng nổ. Toàn thế giới bị ảnh hưởng bởi giá nhiên liệu tăng, chuỗi cung ứng nhiều mặt hàng bị ảnh hưởng, lạm phát tăng. Bối cảnh này khiến nhiều chi phí khác cũng lên theo, nhất là những sản phẩm có nguồn gốc từ hóa chất, dầu khí.
Ngoài ra, chúng tôi tin rằng nền tảng vẫn đang hỗ trợ rất mạnh cho người tiêu dùng trong giai đoạn này để duy trì sức mua, khi thực tế hơn 90% đơn hàng được giao với phí vận chuyển bằng 0 thông qua các chương trình của Shopee. Điều này có lợi cho nhiều người mua, nhất là khách hàng ở các khu vực ngoài đô thị.
Hơn nữa, Shopee điều chỉnh phí đối với một số ngành hàng như chăm sóc thú cưng, chăm sóc sắc đẹp nhưng lại giảm phí cho các ngành hàng phục vụ nhu cầu thiết yếu như Mẹ & bé, Tiêu dùng nhanh và Nhà Cửa & Đời sống… Đồng thời sàn cũng hỗ trợ thêm cho người bán mới lên sàn.
Thực tế, Shopee không "dư dả" trong nhiều năm qua như nhiều người vẫn hình dung. Trong khi số lượng người mua, đơn hàng và quy mô hoạt động đều tăng trưởng, các khoản đầu tư cho chương trình miễn phí vận chuyển, khuyến mại, vận hành, công nghệ cũng tăng theo. Sàn cũng đang tăng cường kết nối với các đối tác, KOL/KOC để quảng bá, mở rộng kênh và các công cụ để người bán tiếp cận được nhiều hơn với khách hàng.
* Các khoản đầu tư của Shopee mang lại giá trị như thế nào cho toàn bộ hệ sinh thái?
- Nếu trước đây TMĐT Việt Nam đã đi xa ở hai bước "Nhiều hơn" và "Nhanh hơn", thì hiện nay Shopee đang đẩy mạnh "Tiện hơn". Chúng tôi đầu tư mở rộng mạng lưới đối tác giao nhận ở nhiều tỉnh, thành để đưa sản phẩm đến tay nhiều người tiêu dùng hơn với tốc độ nhanh nhất. Hiện nay hầu hết các đơn hàng ở khu vực trung tâm TP.HCM và Hà Nội được giao cho người mua trong ngày hôm sau, thậm chí trong vòng 1 - 4 giờ. Mục tiêu của chúng tôi hướng đến thực hiện tương tự đối với đơn hàng trên toàn quốc.
Xuyên suốt gần 1 thập kỷ tại Việt Nam, Shopee đã góp phần đưa TMĐT từ kênh mua sắm theo nhu cầu không thường xuyên trở thành hạ tầng phục vụ tiêu dùng hằng ngày. Chúng tôi tiếp tục mở rộng khả năng tiếp cận TMĐT đến nhiều khu vực hơn như nông thôn, địa phương ngoài đô thị, các khu công nghiệp với tệp người dùng mới gồm người cao tuổi, công nhân, sinh viên… Còn với người đã biết đến và trải nghiệm TMĐT, họ đang có nhu cầu giao nhận hàng nhanh hơn. Nhiều người mua lại có nhu cầu "Tiện hơn", bao gồm dễ tìm, dễ chọn, dễ mua và chúng tôi đáp ứng điều này bằng cách mở rộng hợp tác với thương hiệu cũng như gia tăng danh mục sản phẩm, gồm hàng cồng kềnh, hàng bách hóa tươi sống, hàng giá trị cao như ô tô, xe máy...
Với nhà bán, bài toán sẽ là làm thế nào để dễ quản lý, dễ vận hành và bán hàng hiệu quả hơn trên nền tảng. Chúng tôi xem nhà bán không chỉ là đối tác giao dịch, mà là một phần trung tâm của hệ sinh thái. Khi Shopee đầu tư để người mua có trải nghiệm tốt hơn, họ sẽ quay lại mua sắm thường xuyên hơn, giá trị đơn hàng cũng tăng lên và nhà bán là bên hưởng lợi trực tiếp từ sự tăng trưởng đó.
Thực tế, các khoản phí trên nền tảng chỉ phát sinh khi nhà bán có đơn hàng thành công. Toàn bộ nguồn lực này được Shopee tái đầu tư vào hệ sinh thái, từ nâng cao trải nghiệm người dùng, phát triển thêm công cụ hỗ trợ kinh doanh cho nhà bán đến cải thiện năng lực vận hành của nền tảng. Nếu so với các sàn trên thế giới, nhà bán hàng tại Việt Nam đang được hưởng ưu đãi tốt hơn vì không có phí listing (phí bắt buộc khi mở gian hàng và đăng sản phẩm).
Vì vậy, Shopee tiếp tục đầu tư vào các công cụ quảng cáo, livestream, kết nối người có sức ảnh hưởng, mở rộng mạng lưới tiếp thị liên kết cho tới kết nối với các nền tảng có lượng người dùng lớn, dữ liệu vận hành và các giải pháp tự động hóa bằng AI để giúp người bán vận hành hiệu quả hơn. Đồng thời, chúng tôi cũng có các hỗ trợ riêng cho nhà bán mới, từ chính sách ưu đãi phí đến đội ngũ hỗ trợ.
* Theo ông, tiềm năng của thị trường TMĐT đang ở đâu và làm gì để tiến tới giai đoạn "Tốt hơn" như ông chia sẻ bên trên?
- Shopee nhận định dư địa phát triển của thị trường TMĐT tại Việt Nam vẫn còn rất khả quan, tương đồng với định hướng phát triển TMĐT quốc gia giai đoạn 2026 - 2030 do Bộ Công thương công bố, với mục tiêu doanh số bán lẻ TMĐT tăng trưởng 20 - 30% mỗi năm. Đây cũng là một trong những lĩnh vực được kỳ vọng đóng góp vào mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai chữ số mà Chính phủ đang hướng tới.
Hiện có khoảng 10.000 nhà bán mới tham gia trên Shopee mỗi tháng, thực tế cho thấy TMĐT vẫn đang mở ra cơ hội tăng trưởng rất lớn cho doanh nghiệp và hộ kinh doanh. Đồng thời, doanh thu của nhà bán địa phương trên sàn cũng tăng 33% so với cùng kỳ năm trước, phản ánh mức độ tham gia ngày càng mạnh mẽ hơn của doanh nghiệp Việt Nam trên nhiều ngành hàng và nhiều khu vực khác nhau.
Shopee hiện hỗ trợ nhà bán mở rộng sang Singapore, Malaysia, Thái Lan, Philippines… không chỉ với doanh nghiệp lớn mà cả các hộ kinh doanh nhỏ.
Tuy nhiên, khi thị trường bước sang giai đoạn phát triển lớn hơn về quy mô, trọng tâm cạnh tranh cũng bắt đầu thay đổi. Giai đoạn tiếp theo sẽ không còn là cuộc đua "ai rẻ hơn", mà sẽ là cuộc đua về chất lượng vận hành, năng lực phục vụ và khả năng tạo ra giá trị bền vững hơn cho người dùng lẫn nhà bán.
Đó cũng là lý do chúng tôi cho rằng TMĐT Việt Nam đang bước sang giai đoạn "Tốt hơn". "Tốt hơn" ở đây có nghĩa là người mua có trải nghiệm đáng tin cậy hơn, nhà bán có nền tảng vận hành hiệu quả hơn, và thị trường phát triển theo hướng bền vững hơn, bao gồm cả việc tăng cường các cơ chế kiểm soát nhằm hạn chế hàng giả, hàng nhái và nâng cao niềm tin của người dùng khi mua sắm online.
Nhưng để TMĐT chuyển sang "Tốt hơn" không còn là bài toán riêng của các sàn mà cần sự tham gia của toàn bộ hệ sinh thái. Khi thị trường bước sang ngưỡng cạnh tranh bằng chất lượng dịch vụ và trải nghiệm, cả nền tảng lẫn nhà bán đều cần đầu tư bài bản cả về tài chính và nguồn lực. Shopee kỳ vọng các nỗ lực tái đầu tư của sàn sẽ mở rộng dư địa tăng trưởng cho ngành TMĐT, giúp nhiều đối tượng cùng tham gia và hưởng lợi từ nền kinh tế số.