Trong bối cảnh cạnh tranh vùng ngày càng gay gắt, Đà Nẵng – “trái tim” của miền Trung – không chỉ dựa vào lợi thế địa lý tự nhiên. Một “hệ tuần hoàn” hạ tầng mới đang được hình thành, với các đại công trình trải dài từ đường bộ, cảng biển đến hàng không và đường sắt tốc độ cao, mở ra tham vọng biến Đà Nẵng thành trung tâm logistics – dịch vụ – công nghệ của khu vực Đông Nam Á.
Nhìn từ trên cao, có thể thấy rõ những “mạch máu” ấy đang dần nối liền Đà Nẵng với toàn bộ hành lang kinh tế miền Trung. Cao tốc Bắc – Nam phía đông, dự án mở rộng sân bay quốc tế Đà Nẵng hay tương lai là tuyến đường sắt tốc độ cao Bắc – Nam, tuyến đường sắt đô thị Đà Nẵng và các bến container, cảng biển đang tạo nên một mạng lưới giao thông đa phương thức chưa từng có.
Trong đó, đường sắt tốc độ cao Bắc – Nam được xem là xương sống chiến lược, dài hơn 116 km, đi qua 24 xã, phường của Đà Nẵng kỳ vọng rút ngắn đáng kể thời gian vận chuyển hàng hóa và hành khách, tạo động lực phát triển các khu công nghiệp, trung tâm logistics và chuỗi đô thị ven biển miền Trung. Đoạn cao tốc La Sơn – Hòa Liên đang được mở rộng lên 4 làn xe được xem là nút thắt quan trọng nhằm tăng năng lực kết nối vùng, mở rộng không gian phát triển về phía tây bắc thành phố.
Nếu cao tốc là “động mạch” đường bộ thì cảng Liên Chiểu kỳ vọng trở thành “trái tim” logistics mới của Đà Nẵng. Tương lai của Đà Nẵng cũng gắn liền với hệ thống giao thông công cộng hiện đại. Tuyến đường sắt đô thị Đà Nẵng có chiều dài hơn 103 km kết nối từ sân bay quốc tế Đà Nẵng đến Chu Lai, được đề xuất đầu tư bởi THACO với tổng vốn khoảng 265.972 tỉ đồng, dự kiến khởi công năm 2027 và đưa tuyến metro đầu tiên vào vận hành từ năm 2032. Nếu được triển khai đúng lộ trình, đây sẽ là bước ngoặt lớn trong quá trình đô thị hóa và liên kết vùng của miền Trung. Trong khi đó, sân bay quốc tế Đà Nẵng tiếp tục giữ vai trò “cửa ngõ bầu trời” của miền Trung, là một trong 3 sân bay quốc tế lớn nhất Việt Nam.
Ở phía bắc, tỉnh Quảng Trị mới đang sở hữu hệ thống hạ tầng quy mô lớn và đồng bộ bậc nhất khu vực Bắc Trung bộ, tạo nên “mạch máu” phát triển mới cho toàn vùng. Trên không gian liên kết từ Quảng Bình đến Quảng Trị trước đây, hàng loạt đại công trình chiến lược đang được đầu tư như cao tốc Bắc – Nam phía đông, mạng lưới quốc lộ, đường ven biển và các cửa khẩu quốc tế kết nối sang Lào, Thái Lan.
Theo đánh giá của Chính phủ và các bộ, ngành, những dự án hạ tầng trọng điểm với tổng vốn đầu tư hàng chục nghìn tỉ đồng đang tạo nền tảng để tỉnh Quảng Trị mới hình thành cực tăng trưởng mới của miền Trung; liên kết giữa Bắc Trung bộ với Lào, Thái Lan và các trung tâm kinh tế lớn trong nước. Quả thật, tuyến cao tốc Bắc – Nam đi qua địa bàn tỉnh Quảng Trị mới với tổng chiều dài hàng trăm km đang giúp rút ngắn thời gian kết nối liên vùng, mở rộng không gian đô thị và công nghiệp ven tuyến. Dự án cảng hàng không Quảng Trị (đầu tư hơn 5.800 tỉ đồng) cùng hệ thống sân bay Đồng Hới cũng tạo nên mạng lưới giao thông đa phương thức, gồm đường bộ, hàng không và đường biển.
Những ngày này, trên công trường dự án đường ven biển Dung Quất – Sa Huỳnh (Quảng Ngãi), hàng loạt máy móc, thiết bị được huy động để tăng tốc tiến độ, với mục tiêu hoàn thành toàn tuyến trong năm 2026. Khi hoàn thiện, dự án có tổng vốn đầu tư khoảng 5.600 tỉ đồng này không chỉ tạo trục giao thông liên hoàn Bắc – Nam mà còn mở ra dư địa lớn để phát triển đô thị, du lịch, dịch vụ, công nghiệp ven biển Quảng Ngãi.
Nhiều dự án hạ tầng trọng điểm khác cũng đang được đẩy nhanh tiến độ như đường Hoàng Sa – Dốc Sỏi (khoảng 3.500 tỉ đồng), cầu Thạch Bích – Tịnh Phong (khoảng 700 tỉ đồng), giúp giải bài toán kết nối giữa Khu kinh tế Dung Quất với các khu công nghiệp VSIP Quảng Ngãi 1 và 2.
Hướng tầm nhìn về phía tây, Quảng Ngãi xem tuyến Quốc lộ 24 là hành lang vận tải mới, tạo điều kiện để hàng hóa từ miền Trung có thể lưu thông sang Lào, Campuchia và ngược lại. Đáng chú ý, dự án cao tốc Quảng Ngãi – Kon Tum cũng đang được nghiên cứu, tìm phương án khả thi. Nếu tuyến cao tốc này được hình thành, thời gian di chuyển từ Quảng Ngãi lên bắc Tây nguyên sẽ rút ngắn đáng kể, tạo cú hích lớn cho giao thương liên vùng.
Nếu Gia Lai đang xây dựng kịch bản tăng trưởng theo 3 trục (kinh tế biển ở phía đông, kinh tế cao nguyên ở phía tây, kinh tế biên giới) thì Khánh Hòa xác định có đến 4 trụ cột phát triển (công nghiệp, năng lượng, du lịch – dịch vụ, đô thị – xây dựng), và tất cả đều xác lập tầm nhìn: Hạ tầng giao thông là khâu đột phá.
Ngoài 7 tuyến đường sắt đô thị tổng vốn dự kiến 9,6 tỉ USD mà Gia Lai đang phối hợp với Bộ Xây dựng nghiên cứu quy hoạch, địa phương cũng kiến nghị bổ sung tuyến cao tốc Pleiku – Lệ Thanh vào quy hoạch mạng lưới đường bộ cao tốc quốc gia, đề xuất Trung ương bố trí vốn triển khai cao tốc Quy Nhơn – Pleiku trong năm 2026 nhằm tăng kết nối giữa Tây nguyên với vùng duyên hải. Sân bay Phù Cát đang nâng cấp thành sân bay quốc tế, sân bay Pleiku nâng công suất lên 4 triệu hành khách mỗi năm. Trong khi đó, hạ tầng cảng biển và logistics bắt đầu hình thành những mắt xích quan trọng, trong đó có cảng Phù Mỹ.
Theo ông Nguyễn Tuấn Thanh, Phó chủ tịch thường trực UBND tỉnh Gia Lai, sau sáp nhập, Gia Lai hội tụ đầy đủ đặc trưng của một “Việt Nam thu nhỏ” với rừng, biển, miền núi, đồng bằng và quỹ đất lớn ở khu vực Tây nguyên, lại có lợi thế với hệ thống cảng biển nước sâu, 2 sân bay…
“Cơ thể” Khánh Hòa cũng trở nên vạm vỡ, sau khi 3 đoạn cao tốc qua địa bàn tỉnh gồm Vân Phong – Nha Trang, Nha Trang – Cam Lâm và Cam Lâm – Vĩnh Hảo hoàn thành, nối thông toàn tuyến. Cao tốc Khánh Hòa – Buôn Ma Thuột thì phấn đấu thông xe kỹ thuật cuối năm 2026, sớm mở ra hành lang kết nối trực tiếp giữa cảng biển Khánh Hòa với vùng nguyên liệu nông sản Tây nguyên. Thời gian di chuyển từ Nha Trang lên Đà Lạt sẽ còn khoảng 2 giờ, khi cao tốc Nha Trang – Đà Lạt thành hình… Cùng với các sân bay đang hiện hữu hoặc vừa đề xuất nghiên cứu quy hoạch, Khánh Hòa đang có trong tay “thiên thời, địa lợi”.
Những ngày cuối tháng 5/2026, nắng nóng gay gắt bao trùm nhiều khu vực trên cả nước, đặc biệt tại miền Bắc, nền nhiệt liên tục duy trì ở mức cao khiến nhu cầu sử dụng điện tăng đột biến, tạo sức ép rất lớn lên công tác vận hành hệ thống điện quốc gia.
Theo báo cáo của Bộ Công Thương tại cuộc họp với Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương ngày 26/5, các cơ quan khí tượng trong nước và quốc tế đều nhận định năm 2026 đang đối mặt với nhiều dị thường khí hậu, trong đó nguy cơ xuất hiện hiện tượng "Siêu El Nino" từ tháng 7 tới lên tới khoảng 80%. Hiện tượng này có thể kéo theo nắng nóng kéo dài, hạn hán và suy giảm lượng nước về các hồ thủy điện.
Không chỉ tác động đến đời sống dân sinh, thời tiết cực đoan đang tạo áp lực chưa từng có lên hệ thống điện. Từ đầu tháng 4 đến nay, đặc biệt trong các đợt nắng nóng từ ngày 13-15/5 và 23-27/5, phụ tải điện toàn quốc liên tục xác lập các mức kỷ lục mới.
Số liệu từ Công ty TNHH MTV Vận hành hệ thống điện và thị trường điện Quốc gia (NSMO) cho thấy, đến ngày 25/5, công suất cực đại toàn hệ thống đã đạt 57.120 MW, tăng 13,5% so với cùng kỳ năm 2025; sản lượng tiêu thụ điện đạt 1,171 tỷ kWh, tăng 11,8%. Riêng miền Bắc, công suất cực đại đạt 29.667 MW, tăng tới 26,2% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng điện tiêu thụ đạt 603 triệu kWh, tăng 20,2%.
Đặc biệt, đỉnh phụ tải hiện không còn tập trung vào ban ngày mà đã dịch chuyển mạnh sang khung giờ tối từ 20h đến 23h. Đây là thời điểm hệ thống điện chịu áp lực lớn nhất do nguồn điện mặt trời không còn phát điện, trong khi nhiều hồ thủy điện nhỏ thiếu nước, khả năng huy động nguồn bị hạn chế đáng kể.
Trong bối cảnh nền kinh tế bước vào giai đoạn tăng trưởng mới với mục tiêu tăng trưởng "hai con số", nhu cầu điện dự báo sẽ tiếp tục tăng rất cao. Theo Bộ Công Thương, nếu GDP tăng trưởng trên 10%, nhu cầu phụ tải điện cũng sẽ tăng tương ứng hoặc cao hơn, tạo áp lực lớn đối với cả nguồn điện, lưới truyền tải và công tác điều độ hệ thống.
Trước áp lực phụ tải tăng cao, Bộ Công Thương đã chỉ đạo NSMO và các đơn vị điện lực triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm bảo đảm cung ứng điện an toàn, ổn định trong mùa cao điểm nắng nóng.
Theo đó, ngành điện đang tập trung nâng cao khả dụng của hệ thống truyền tải và phân phối điện, đặc biệt đối với các công trình cấp điện cho miền Bắc như nâng công suất máy biến áp AT1 Hòa Bình, đưa vào vận hành MBA AT1 T500 Phố Nối và AT7 T220 Hà Đông.
Đối với nguồn thủy điện, các hồ chứa được vận hành linh hoạt, ưu tiên tích nước và phát điện vào khung giờ cao điểm tối. NSMO cũng đã yêu cầu các nhà máy thủy điện nhỏ miền Bắc điều chỉnh biểu đồ phát điện để hỗ trợ hệ thống trong các khung giờ phụ tải cao. Đến nay, 301/301 nhà máy với tổng công suất khoảng 3.000 MW đã thực hiện điều chỉnh theo yêu cầu.
Với nhiệt điện than, các tổ máy khả dụng được huy động tối đa nhằm tăng dự phòng cho hệ thống. Các đơn vị phát điện được yêu cầu khẩn trương khắc phục sự cố, nâng công suất khả dụng để đáp ứng nhu cầu phụ tải tăng cao trong giờ cao điểm tối.
Trong khi đó, các nguồn điện khí và nhiệt điện dầu cũng được huy động linh hoạt. NSMO phối hợp với PV GAS tối ưu nguồn cấp khí, đồng thời chuyển đổi giữa khí nội địa, LNG và dầu DO nhằm bảo đảm khả năng phát điện và giảm chi phí hệ thống. Một số nguồn điện dầu giá thành cao như Ô Môn I, Thủ Đức, Cần Thơ cũng được huy động để bảo đảm an toàn cung ứng điện.
Đáng chú ý, nhằm phù hợp với đặc tính phụ tải mùa hè, NSMO đã đề xuất áp dụng khung giờ cao điểm, thấp điểm và bình thường mới ngay trong tháng 6/2026 để điều tiết nhu cầu sử dụng điện, đặc biệt trong khung giờ từ 17h30 đến 22h30.
Tuy nhiên, theo nhiều chuyên gia năng lượng, trong bối cảnh phụ tải tăng trưởng nhanh, việc chỉ dựa vào các giải pháp kỹ thuật sẽ rất khó giảm áp lực cho hệ thống điện nếu thiếu sự đồng hành của người dân và doanh nghiệp trong sử dụng điện tiết kiệm, hiệu quả.
Theo Thứ trưởng Bộ Công Thương Nguyễn Sinh Nhật Tân, thời gian gần đây, nắng nóng gay gắt, trong khi hoạt động sản xuất cũng đang gia tăng, gây áp lực lớn lên hệ thống điện.
Do đó, ngoài việc ngành điện tiếp tục triển khai các giải pháp để đảm bảo nhu cầu điện cho phát triển kinh tế - xã hội, Bộ Công Thương cũng rất mong người dân và các cơ sở sản xuất đồng hành trong việc sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả.
Bên cạnh một số giải pháp đã được thể hiện rất rõ trong Chỉ thị 09 của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Công Thương cũng đề xuất thêm một giải pháp. Cụ thể: Cần chuyển dịch thời gian sử dụng điện, tránh vào giờ cao điểm. Đây là giải pháp nhằm tạo điều kiện cho sản xuất, giảm áp lực cho hệ thống điện trong những thời điểm phụ tải tăng cao.
Cũng theo Thứ trưởng Nguyễn Sinh Nhật Tân, trước hết Nhà nước, các bộ, ngành và các cơ quan phải thực hiện thay đổi giờ hoạt động phù hợp. Bộ Công Thương đề nghị bên cạnh các doanh nghiệp thì các cơ quan nhà nước, cơ sở sử dụng điện lớn cùng tính toán phương án điều chỉnh thời gian hoạt động phù hợp với tình hình thực tế của phụ tải.
Bộ Công Thương đã giao các đơn vị làm việc với địa phương, đồng thời yêu cầu địa phương phối hợp với các cơ sở sản xuất, kinh doanh xây dựng phương án điều chỉnh kế hoạch sử dụng điện, hạn chế phụ tải vào giờ cao điểm.
Bộ cũng đã giao cho các cơ quan, đơn vị làm việc với địa phương, đồng thời yêu cầu các địa phương phối hợp với các cơ sở sản xuất, kinh doanh trong việc điều chỉnh kế hoạch sử dụng điện. Ví dụ, với các cơ sở sản xuất công nghiệp, thông thường sẽ có những phương án cân đối lại hoạt động sản xuất để hạn chế phụ tải vào giờ cao điểm.
Sáng 25.5, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm giữa VND với USD ở mức 25.136 đồng, tăng 2 đồng so với cuối tuần qua. Tương tự, giá USD tại các ngân hàng thương mại cũng đi lên. Cụ thể, Ngân hàng Vietcombank tăng 2 đồng, đưa giá mua chuyển khoản lên 26.162 đồng, bán ra 26.392 đồng; Ngân hàng ACB tiếp tục giữ nguyên chiều mua chuyển khoản ở mức 26.170 đồng nhưng cũng tăng 2 đồng ở chiều bán ra, lên 26.392 đồng…
Một số ngoại tệ khác biến tăng cùng chiều USD có euro và bảng Anh. Cụ thể, giá euro tại Ngân hàng Vietcombank tăng 66 đồng, mua chuyển khoản 30.213 đồng, bán ra lên 31.488 đồng; 31.422 đồng; bảng Anh tăng 166 đồng, mua chuyển khoản lên 34.992 đồng, bán ra 36.112 đồng. Ngược lại, yen Nhật giảm 0,49 đồng khi mua chuyển khoản lên 161,83 đồng và bán ra xuống 170,39 đồng…
Giá USD thế giới quay đầu giảm nhẹ. Chỉ số USD-Index sáng đầu tuần xuống 98,98 điểm, giảm 0,34 điểm so với hôm qua. Đồng bạc xanh vừa trải qua một tuần tăng cao khi lạm phát tại Mỹ gia tăng nhanh hơn dự báo. Yếu tố này làm dấy lên kỳ vọng Cục Dự trữ liên bang Mỹ (Fed) sẽ buộc phải duy trì lập trường thắt chặt tiền tệ cứng rắn trong thời gian dài hơn dự kiến, từ đó tạo lực hút dòng tiền vào USD. Tuy nhiên, một số nhà phân tích quốc tế cho rằng, đà tăng của USD chỉ nhích nhẹ do vấp phải lực cản từ xu hướng thắt chặt tiền tệ của các ngân hàng trung ương khác trên thế giới, làm thu hẹp dần khoảng cách chênh lệch lãi suất. Cụ thể, ngân hàng trung ương tại Úc và Na Uy đã bắt đầu nâng lãi suất. Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BoJ) cũng bắt đầu phát đi tín hiệu "diều hâu" khi cảnh báo những rủi ro từ việc duy trì lãi suất thực âm quá lâu.
Mới đây, vào ngày 22.5, Tổng thống Mỹ Donald Trump chủ trì lễ tuyên thệ nhậm chức của ông Kevin Warsh với tư cách Chủ tịch Fed. Dù Nhà Trắng ngày càng thể hiện rõ kỳ vọng Fed sẽ sớm hạ lãi suất nhưng tân Chủ tịch Fed phát biểu rằng nhiệm vụ của cơ quan này là duy trì ổn định giá cả và tối đa hóa việc làm... Vì vậy, xu hướng lãi suất sắp tới của Fed sẽ ra sao vẫn còn chưa rõ ràng và điều này vẫn đang hỗ trợ đồng bạc xanh giao dịch ở mức cao.
Theo Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP), trong 4 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu thủy sản đạt khoảng 3,7 tỉ USD, tăng 14 - 15% so với cùng kỳ năm 2025, cho thấy tín hiệu phục hồi tích cực. Các mặt hàng chủ lực như tôm, cá tra, mực - bạch tuộc, cua ghẹ và nhuyễn thể đều ghi nhận tăng trưởng, trong đó tôm đạt khoảng 1,5 tỉ USD và cá tra đạt khoảng 734 triệu USD.
Tuy nhiên, tăng trưởng chưa thực sự bền vững khi chịu tác động từ chi phí logistics cao, cạnh tranh quốc tế gay gắt và các rào cản kỹ thuật ngày càng gia tăng. Đặc biệt, xuất khẩu sang Mỹ và EU vẫn gặp nhiều khó khăn do thuế, yêu cầu truy xuất nguồn gốc, IUU và các quy định mới như MMPA, chứng nhận CoA, C/C, P/S.
Bên cạnh đó, VASEP cho biết doanh nghiệp đang đối mặt với nhiều bất cập trong nước như thủ tục hành chính còn phức tạp, chi phí tuân thủ cao; vướng mắc trong kiểm soát nguyên liệu nhập khẩu; quy định về thuế GTGT đối với hàng tái nhập; bất cập trong kiểm dịch, an toàn thực phẩm; chi phí xử lý nước thải trong khu công nghiệp; thiếu khung pháp lý cho đầu tư hạ tầng thủy lợi và nuôi trồng.
VASEP dự báo xuất khẩu thủy sản năm 2026 có thể đạt trên 12 tỉ USD, tăng trưởng 8 - 10% nếu các điểm nghẽn được tháo gỡ kịp thời, đặc biệt là các vấn đề liên quan đến thể chế, nguyên liệu và thị trường. Để đạt mục tiêu này, VASEP kiến nghị Chính phủ và Bộ NN-MT tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, giảm chi phí tuân thủ, chuyển mạnh sang quản lý rủi ro và hậu kiểm; đồng thời rà soát, sửa đổi các quy định liên quan đến xuất khẩu hải sản sang EU và Mỹ, đặc biệt là các thủ tục cấp giấy chứng nhận như C/C, P/S và CoA.
Ngoài ra, VASEP đề xuất hoàn thiện khung pháp lý về an toàn thực phẩm, môi trường, thuế; hỗ trợ tín dụng; thúc đẩy đầu tư hạ tầng nuôi trồng, khai thác; phát triển nguồn nguyên liệu ổn định; và tăng cường xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường xuất khẩu. Hiệp hội cũng nhấn mạnh sự cần thiết của việc tăng cường đối thoại chính sách giữa cơ quan quản lý và cộng đồng doanh nghiệp, nhằm kịp thời xử lý các vướng mắc phát sinh, đồng hành cùng ngành thủy sản phát triển bền vững và nâng cao năng lực cạnh tranh trong giai đoạn tới.
Theo kế hoạch, ngày 8.5 Chính phủ sẽ có hội nghị quan trọng tại TP.HCM với các hiệp hội ngành hàng và các địa phương nhằm thúc đẩy xuất khẩu nông lâm thủy sản, bảo đảm mục tiêu tăng trưởng xuất khẩu năm 2026.