Mỗi buổi sáng, lớp học của cô Trần Thị Thơm ở xã Cư M’gar (Đắk Lắk) lại rộn lên tiếng ê a tập nói, tiếng đồ chơi va vào nhau, xen lẫn những tiếng khóc bất chợt rồi nhanh chóng lắng xuống sau cái ôm dịu dàng của cô giáo.
Trong căn phòng chỉ vài chục mét vuông, gần 20 trẻ tự kỷ, tăng động, chậm nói, mỗi em một thế giới, một giáo án.
Cô Thơm gần như không lúc nào ngồi yên, vừa đỡ tay một cậu bé tập cầm thìa, lại quay sang phát âm cho bé gái chậm nói, rồi nhẹ nhàng chuyển sang tiếng Ê Đê để trò chuyện với cô học trò là đồng bào Ê Đê còn e dè ở góc lớp. Đôi lúc cô còn bị các bé mất kiểm soát làm bị thương…
Nhưng đó là chuyện bình thường tại lớp học này.
“Từ từ thôi con, mình làm lại nhé…”, câu nói ấy được cô lặp đi lặp lại suốt buổi học.
Chứng kiến học trò dần biết nhìn vào mắt người đối diện, biết bật tiếng gọi “ba”, “mẹ” hay chạy đến ôm người thân sau nhiều tháng can thiệp, cô giáo vùng sâu bảo mọi mệt mỏi đều trở nên xứng đáng.
Ở lớp học của cô Thơm, hầu như gia đình nào cũng bắt đầu bằng những tháng ngày tuyệt vọng. Khi bạn bè cùng trang lứa ríu rít gọi “ba”, “mẹ”, con họ vẫn lặng im, thu mình hoặc bất chợt gào khóc.
“Không ai muốn tin con mình là trẻ đặc biệt. Đó là nỗi đau rất lớn của các bậc cha mẹ”, cô chia sẻ.
Chị N.T.P. (36 tuổi, ở xã Cư M’gar) từng nhiều lần ôm con trai khóc vì cậu bé tăng động liên tục và phụ huynh bị mời lên trường vì con trêu ghẹo bạn, nghịch đồ dùng.
Sau một năm đưa con đi can thiệp nhưng không hiệu quả, chị tìm đến lớp học của cô Thơm. Và bảy tháng sau, trong lúc dọn cơm, chị bất ngờ nghe con trai đọc thơ.
“Tôi hạnh phúc, chỉ biết ôm con òa khóc, giờ con thích học chữ, còn làm được cả toán”, người mẹ xúc động.
Niềm hạnh phúc ấy cũng đến với anh N.B.S. (48 tuổi, ở xã Ea Kiết), người cha đều đặn vượt hơn 120km mỗi ngày đưa đón con gái rối loạn phổ tự kỷ đến lớp với một mong muốn lớn nhất là được nghe con gọi một tiếng “ba”.
Sau gần một năm, điều ấy cuối cùng cũng thành hiện thực.
“Chỉ mong con gọi mình lúc con cần, biết vui đùa như bao đứa trẻ khác. Vậy thôi đã khiến bao mệt mỏi được xóa nhòa”, người cha nghẹn ngào.
Ở một góc khác của lớp học, bé L.Q.C. lon ton chạy ra ôm ba mẹ khi tan học. Trước đó cậu bé từng khép mình, chỉ quanh quẩn với chiếc điện thoại.
“Giờ con biết chạy ra ôm ba mẹ, biết vui đùa với cả nhà. Điều bình thường với nhiều gia đình lại là cả một phép màu với chúng tôi”, người mẹ nghẹn ngào.
Ít ai biết trước khi mở lớp can thiệp, cô Thơm từng là giáo viên tiểu học. Khi dạy ở vùng sâu, thấy ngày càng nhiều trẻ tự kỷ, chậm nói nhưng địa phương thiếu nơi hỗ trợ bài bản, chị quyết định theo học giáo dục đặc biệt, tự trau dồi chuyên môn rồi mở lớp.
Hành trình ấy chưa bao giờ dễ dàng. Có những hành vi chị phải hướng dẫn hàng trăm lần, có những âm tiết phải lặp đi lặp lại hàng chục lần mới giúp trẻ cất được tiếng nói đầu tiên.
“Đối với trẻ đặc biệt, nếu mình vội thì các con càng áp lực. Các con cần thời gian và cần người kiên nhẫn ở bên”, chị nói.
Điều đặc biệt ở lớp học này là sự linh hoạt trong cách tiếp cận. Với trẻ người Ê Đê chưa thể giao tiếp bằng tiếng phổ thông, cô Thơm chuyển sang nói tiếng Ê Đê. May mắn lớn lên gần buôn làng, hằng ngày được học và giao tiếp bằng tiếng Ê Đê nên đến nay cô sử dụng ngôn ngữ này thành thạo như tiếng mẹ đẻ.
“Muốn bước vào thế giới của các em thì trước hết phải nói bằng ngôn ngữ các em lớn lên cùng”, chị chia sẻ.
Không chỉ đồng hành với trẻ, cô Thơm còn hướng dẫn cha mẹ tiếp tục luyện tập cùng con sau mỗi buổi học. Những gia đình khó khăn còn được giảm học phí để trẻ không phải dừng can thiệp giữa chừng.
Theo bà Vũ Thị Thùy Dung – chuyên gia giáo dục đặc biệt (nghiên cứu sinh tại Trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn TP HCM), điều đáng quý ở cô Thơm là tinh thần không ngừng học hỏi, cập nhật phương pháp can thiệp và sự kiên trì đồng hành với từng trẻ.
“Chính điều đó đã giúp lớp học nhỏ giữa vùng quê trở thành điểm tựa của nhiều gia đình. Tôi tin với nền tảng chuyên môn cùng tình yêu và sự kiên trì dành cho trẻ đặc biệt, cô Thơm sẽ giúp thêm nhiều trẻ và gia đình có cơ hội thay đổi tích cực”, bà Dung nhận định.
Chiều muộn, những đứa trẻ lần lượt được cha mẹ đón về. Có em chạy ùa ra ôm ba, có em lí nhí chào mẹ. Đứng trước cửa lớp, cô Thơm dõi theo từng bóng nhỏ khuất dần trên con đường quê đất đỏ.
“Tôi chỉ mong mỗi đứa trẻ đến lớp đều có thêm một cơ hội để bước gần hơn với thế giới. Hạnh phúc đôi khi chỉ bắt đầu từ một ánh mắt biết nhìn, một cái ôm hay tiếng gọi ‘ba’, ‘mẹ’ sau hàng ngàn lần kiên nhẫn”, cô mỉm cười nói.
Sự việc xảy ra trưa 24/4 tại khu vực gần Khu công nghiệp cầu cảng Yên Lệnh, phường Duy Tiên. Nam sinh lớp 9 đang trên đường đi học về thì bị một nhóm học sinh lớp 7 cùng trường chặn lại, lao vào đánh tới tấp.
Video lan truyền trên mạng xã hội hai hôm nay, gây bức xúc về sự hung hãn. Theo đó, nhóm học sinh dùng dây thắt lưng vụt liên tiếp, đấm đá vào đầu, lưng và mặt nạn nhân. Dù em này cố gắng bỏ chạy, nhóm tiếp tục đuổi theo đánh, xung quanh nhiều học sinh đứng xem, thậm chí hò reo, cổ vũ.
Kết quả xác minh của nhà trường cho thấy có 7 học sinh đánh bạn, trong khi hai em lớp 9 đứng ngoài quay video.
Ngay sau sự việc, nạn nhân được gia đình đưa đến Bệnh viện Hưng Hà (Hưng Yên) thăm khám và điều trị. Em bị chấn thương phần mềm và vùng đầu, đã ổn định sức khỏe.
Trường cho biết yêu cầu các học sinh liên quan viết bản tường trình, mời phụ huynh đến làm việc và báo Công an phường Duy Tiên xác minh. Trong báo cáo của trường gửi Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Ninh Bình, gia đình các học sinh liên quan đề nghị chi trả toàn bộ viện phí và hỗ trợ thêm 16 triệu đồng, song gia đình nạn nhân không đồng ý, yêu cầu mức bồi thường cao hơn.
Các vụ học sinh đánh nhau xảy ra liên tiếp trong thời gian gần đây, gây bức xúc và lo ngại. Cùng đó, vấn đề gây tranh cãi là theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo, hình thức kỷ luật nặng nhất trong nhà trường với học sinh là nhắc nhở (tiểu học) và viết bản kiểm điểm (THCS, THPT).
Theo Bộ GD-ĐT, đây là lần đầu tiên áp dụng chấm môn ngữ văn theo kiểu rubric trong thi tốt nghiệp THPT. Cách chấm này về cơ bản là chuyển từ "đếm ý" sang đánh giá theo tiêu chí và mức độ cụ thể. Vậy cách chấm này như thế nào, có thuận lợi và khó khăn gì, giám khảo cần trang bị gì để đảm bảo việc chấm thi vừa chính xác, vừa công bằng?
Hiểu một cách đơn giản, rubric là bảng tiêu chí đánh giá theo mức độ, trong đó mỗi bài làm không chỉ được xem xét "có ý hay không" mà còn được đánh giá ở mức độ: đạt, khá, tốt hay xuất sắc (tương ứng với các con điểm).
Trước đây, việc chấm môn văn chủ yếu dựa vào đáp án, thang điểm và hướng dẫn chấm; giám khảo căn cứ vào bài làm để đối chiếu và cho điểm. Cách làm này tuy khá chính xác nhưng vẫn dễ lệch điểm do cảm tính cá nhân. Chấm theo rubric sẽ đưa ra hệ thống tiêu chí cụ thể hơn, giúp việc đánh giá trở nên rõ ràng và nhất quán hơn.
Chẳng hạn, với cách chấm truyền thống, một bài nghị luận xã hội thường được chia nhỏ điểm số theo các phần để chấm (các mục a, b, c, d, e của đáp án). Giám khảo đọc bài, xem thí sinh "có những ý nào" rồi cộng điểm tương ứng. Trong khi đó, với rubric, người chấm không chỉ dừng lại ở việc xác định "có ý" mà phải đánh giá chất lượng của từng phương diện như: mức độ đáp ứng yêu cầu đề, khả năng lập luận, độ phù hợp của dẫn chứng, tính mạch lạc trong diễn đạt… Ví dụ, cùng viết đúng một ý, nhưng một bài chỉ dừng ở mức trình bày sơ sài có thể được xếp mức "đạt" (điểm tương ứng), trong khi bài khác phân tích sâu, có phản biện sẽ được xếp mức "tốt" hoặc "xuất sắc". Điểm số vì thế không còn phụ thuộc chủ yếu vào việc "có đủ ý" mà vào mức độ triển khai ý đến đâu.
So với cách chấm truyền thống, rubric tạo ra sự dịch chuyển rõ rệt từ "có gì" sang "làm tốt đến đâu"; từ "cộng điểm từng ý" sang "đánh giá theo tiêu chí tổng thể"; từ chỗ dễ bị chi phối bởi cảm tính sang bám sát các mô tả cụ thể, chi tiết.
Chính vì vậy, rubric được kỳ vọng sẽ giảm bớt sự chênh lệch giữa các giám khảo, đồng thời tạo điều kiện để những bài viết có tư duy riêng, cách lập luận sáng rõ được ghi nhận xứng đáng.
Nói cách khác, nếu cách chấm cũ thiên về đánh giá kiến thức và mức độ "trúng ý", thì rubric hướng tới đánh giá năng lực viết. Cách chấm này phù hợp với định hướng phát triển phẩm chất, năng lực của chương trình Giáo dục phổ thông mới 2018.
Tuy mang lại nhiều kỳ vọng, nhưng việc chấm theo rubric cũng đặt ra không ít thách thức, đặc biệt trong bối cảnh phần lớn giám khảo đã quen với cách chấm truyền thống trong nhiều năm.
Khó khăn đầu tiên nằm ở thói quen nghề nghiệp. Không ít giám khảo có xu hướng đọc bài để "tìm ý" rồi cộng điểm, trong khi rubric đòi hỏi phải đọc bài để đánh giá chất lượng lập luận và tư duy. Bên cạnh đó, rubric cũng dễ gây lúng túng ở những bài "lưng chừng", chẳng hạn cho 1,5 hay 2 điểm của câu viết đoạn văn (2 điểm) trong bài làm. Những bài làm không hẳn yếu nhưng cũng chưa thực sự nổi bật, buộc giám khảo phải cân nhắc kỹ lưỡng giữa các mức đánh giá. Nếu thiếu tiêu chí rõ ràng, việc cho điểm rất dễ rơi vào cảm tính.
Vì vậy cần đến vai trò của Bộ GD-ĐT trong việc thiết kế rubric cụ thể, với mô tả rõ ràng cho từng mức độ, tránh các cách diễn đạt chung chung như "tương đối tốt" hay "khá hợp lý". Mỗi mức điểm phải gắn với những biểu hiện có thể nhận diện được trong bài làm. Cùng với đó, việc cung cấp cho giám khảo bài mẫu chuẩn hóa là hết sức cần thiết. Những bài được chấm sẵn ở các mức điểm khác nhau, kèm theo giải thích chi tiết, sẽ giúp giám khảo "căn chỉnh" cách nhìn, từ đó giảm đáng kể độ lệch khi chấm thực tế.
Hơn nữa, thay vì chỉ phổ biến văn bản, các hội đồng chấm thi cần tổ chức chấm thử, đối sánh kết quả, thảo luận những trường hợp lệch điểm để đi đến thống nhất. Đây là bước then chốt giúp giám khảo quen chấm theo rubric.
Bản thân giám khảo cũng cần chủ động thay đổi cách chấm, từ bỏ thói quen "đếm ý", chuyển sang đánh giá mức độ triển khai. Điều này đòi hỏi không chỉ kỹ năng chuyên môn mà còn cả sự linh hoạt trong tư duy. Giám khảo cần rèn luyện khả năng "định vị mức điểm" một cách nhanh chóng và chính xác. Trong thực tế chấm thi, việc xác định bài viết thuộc khoản điểm ngay từ đầu sẽ giúp tiết kiệm thời gian và đảm bảo tính nhất quán.
Mặt khác, dù rubric cho phép đánh giá linh hoạt, nhưng không vì thế mà nới lỏng tiêu chuẩn. Những bài lạc đề, sai bản chất vấn đề vẫn phải bị trừ điểm nghiêm túc, bất kể diễn đạt có trôi chảy đến đâu. Do vậy, rubric không làm thay công việc của giám khảo, mà ngược lại, đặt ra yêu cầu cao hơn đối với người chấm. Nó buộc giám khảo phải đọc kỹ hơn, nghĩ sâu hơn và chịu trách nhiệm rõ ràng hơn với từng điểm số mình cho.
Theo thông tin từ Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội, thủ khoa kỳ thi tuyển sinh vào lớp 10 năm nay là em Trần Minh Hà, học sinh Trường THCS Newton (phường Phú Diễn).
Trong kỳ thi tuyển sinh vào lớp 10 công lập năm học 2026 - 2027, Trần Minh Hà đạt 29,75 điểm.
Trong đó, Hà đạt 9,25 điểm ngữ văn, 9,5 điểm toán, 10 điểm tiếng Anh và được cộng 1 điểm ưu tiên.
Em đăng ký nguyện vọng 1 vào Trường THPT Phan Đình Phùng. Với kết quả này, Hà vượt 4 điểm so với mức điểm chuẩn của trường.
Trước đó, Trần Minh Hà là học sinh đội tuyển ngữ văn của Trường THCS Newton. Năm học 2025 - 2026, em giành giải nhất học sinh giỏi ngữ văn cấp thành phố. Ngoài thành tích học tập nổi bật, Hà còn tích cực tham gia các hoạt động ngoại khóa và thể thao.
Năm 2025, kỳ thi tuyển sinh lớp 10 tại Hà Nội ghi nhận 8 thủ khoa cùng đạt 28,75 điểm.
Theo bảng điểm chuẩn do Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội công bố tối nay, ba trường có điểm chuẩn cao nhất năm nay là THPT Yên Hòa, THPT Kim Liên và THPT Lê Quý Đôn - Hà Đông với cùng mức 26 điểm.
Trường THPT Yên Hòa, THPT Lê Quý Đôn - Hà Đông cũng là hai trường có tỉ lệ chọi (chỉ tính nguyện vọng 1) cao nhất thành phố, trung bình 8,6 điểm/môn thi.
Tiếp đến là THPT Phan Đình Phùng, THPT Nguyễn Thị Minh Khai và THPT Việt Đức cùng có điểm chuẩn 25,75 điểm (trung bình gần 8,6 điểm/môn thi).
Trường THPT Thăng Long điểm chuẩn 25,50 (8,5 điểm/môn thi).
Trường THPT Nguyễn Gia Thiều 25,25 điểm (trung bình 8,4 điểm/môn thi).
Trường THPT Nhân Chính 25 điểm (trung bình 8,3 điểm/môn thi).
Hai trường có mức điểm thấp hơn một chút là THPT Lê Quý Đôn - Đống Đa và THPT Trần Phú - Hoàn Kiếm cùng 24,75 điểm (trung bình 8,25 điểm/môn thi).