Ham muốn cao nhưng còn kiểm soát được, không ép buộc ai, không gây hại cho bản thân, gia đình hay xã hội thì không gọi là cuồng dâm.
Cuồng dâm là hành vi không kiểm soát được hành vi tình dục, bỏ bê các vấn đề sức khỏe và trách nhiệm gia đình. Cũng có bệnh nhân cố kiểm soát các hành vi nhưng không thành công. Người bệnh bị thôi thúc lặp đi lặp lại, không kiểm soát được, ảnh hưởng quan hệ, sức khỏe, tài chính, pháp lý hoặc gây tổn hại cho người khác.
Chứng cuồng dâm để lại nhiều hậu quả cho người bệnh. Về sinh lý, bệnh ảnh hưởng sức khỏe thể chất. Người có hành vi tình dục quá mức sẽ thường băn khoăn, đấu tranh tâm lý, gây tình trạng lo âu, trầm cảm. Ngoài ra, bệnh gây hậu quả về xã hội, nghề nghiệp.
Nếu đột ngột tăng ham muốn kèm thay đổi tính cách, nói năng bốc đồng, mất ngủ, tiêu tiền bất thường, sa sút trí nhớ hoặc hành vi không phù hợp, người bệnh cần đánh giá thêm về thần kinh, tâm thần, thuốc đang dùng và bệnh lý nền.
Nhiều trường hợp tăng ham muốn nhưng sợ ảnh hưởng tâm lý liền vội vàng đi triệt dục là sai lầm. Thủ thuật này không làm mất ham muốn, không làm giảm testosterone, không làm mất khả năng cương hay cực khoái. Còn các biện pháp làm giảm nội tiết nam chỉ được đặt ra trong những bệnh lý đặc biệt, ví dụ một số trường hợp ung thư tuyến tiền liệt, chứ không dùng để “trị” ham muốn bình thường.
Một nghiên cứu của Viện nghiên cứu Kinsey cho thấy trung bình từ 18 đến 29 tuổi, con người quan hệ tình dục 112 lần mỗi năm. Ở lứa tuổi 30 đến 39, quan hệ khoảng 86 lần mỗi năm được xem là lành mạnh, theoMen Journal.Tiến sĩ trị liệu tình dục Ian Kerner cho rằng hầu hết các cặp đôi nên có quan hệ tình dục ít nhất một lần mỗi tuần. Trong giai đoạn say mê, hay còn gọi là tuần trăng mật, các cặp vợ chồng thường có xu hướng quan hệ tình dục mỗi khi họ ở cùng nhau trong không gian riêng. Sau này, các cặp đôi nên duy trì quan hệ một đến hai lần mỗi tuần là lý tưởng cho một cuộc sống tình dục lành mạnh.
Khi các điều chỉnh về thói quen sinh hoạt, lối sống không mang lại hiệu quả, cặp đôi nên tìm đến sự giúp đỡ của các bác sĩ chuyên khoa để được hỗ trợ. Ngoài ra, các cặp đôi cần thẳng thắn trao đổi về mong muốn cũng như nhu cầu về chuyện tình dục của mình, tránh bất đồng và ức chế kéo dài, ảnh hưởng hạnh phúc gia đình.
Thạc sĩ - bác sĩ nội trú Ngô Thanh Hùng,Trường đại học Khoa học Sức khỏe, Đại học Quốc gia TP.HCM, cho biết đi bộ, chạy bộ đều thuộc nhóm bài tập hiếu khí (aerobic), nhưng chúng khác biệt rõ rệt về động lực học, cường độ trao đổi chất và áp lực lên hệ cơ xương khớp. Sự lựa chọn giữa đi bộ và chạy bộ không đơn thuần là một câu hỏi về sở thích, mà là một quyết định lâm sàng dựa trên tình trạng sinh lý, mục tiêu chuyển hóa và khả năng chịu đựng chấn thương của từng cá nhân.
Sự khác biệt cơ bản nhất về mặt lâm sàng nằm ở giai đoạn bay (flight phase). Trong đi bộ, luôn có ít nhất 1 chân tiếp xúc với mặt đất tại mọi thời điểm, trong khi chạy bộ bao gồm một khoảng thời gian ngắn mà 2 chân đều rời khỏi mặt đất. Khi chân tiếp đất sau giai đoạn bay, cơ thể phải hấp thụ một lực phản hồi từ mặt đất cực lớn. Nghiên cứu cho thấy lực này trong đi bộ chỉ dao động từ 1 đến 1,5 lần trọng lượng cơ thể, nhưng trong chạy bộ, nó có thể tăng vọt lên mức 2,5 đến 3,5 lần trọng lượng cơ thể. Áp lực này tác động trực tiếp lên sụn khớp, dây chằng và cấu trúc xương, tạo ra cả những kích thích sinh học tích cực lẫn những rủi ro chấn thương tiềm tàng.
Đơn vị tương đương chuyển hóa (MET) là một công cụ hữu hiệu để so sánh cường độ. Đi bộ nhanh (khoảng 5 - 6 km/giờ) tiêu tốn khoảng 3,5 đến 5 METs; trong khi chạy bộ (tốc độ > 8 km/ giờ) bắt đầu từ 8,0 METs và có thể vượt quá 15 METs ở các vận động viên chuyên nghiệp. Điều này giải thích tại sao chạy bộ có thể đốt cháy lượng calo gấp đôi hoặc gấp 3 lần đi bộ trong cùng một khoảng thời gian.
Việc lựa chọn đi bộ hay chạy bộ cần được cá nhân hóa dựa trên đánh giá chi tiết về tình trạng bệnh lý của người bệnh.
Người bệnh béo phì và hội chứng chuyển hóa. Đối với những người có BMI > 30, chạy bộ không phải là lựa chọn ưu tiên ban đầu do áp lực lên khớp gối và cổ chân quá lớn. Đi bộ nhanh trên mặt phẳng nghiêng là một giải pháp thay thế tốt, giúp tăng nhịp tim và tiêu thụ năng lượng như chạy bộ nhưng vẫn giữ được cơ chế tác động thấp của đi bộ. Người bệnh nên bắt đầu với 10 - 15 phút mỗi ngày và tăng dần lên 30 - 60 phút trước khi cân nhắc chuyển sang chạy bộ nhẹ nhàng.
Người cao tuổi (trên 60 tuổi). Đi bộ là tiêu chuẩn vàng cho nhóm người này. Nó không chỉ cải thiện sức khỏe tim mạch mà còn tăng cường sự thăng bằng và khả năng phối hợp, từ đó giảm nguy cơ té ngã - một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở người cao tuổi. Khuyến nghị tối thiểu là 150 phút đi bộ ở cường độ trung bình mỗi tuần, kết hợp với các bài tập sức mạnh và thăng bằng ít nhất 2 ngày mỗi tuần.
Người bệnh có bệnh lý tim mạch ổn định. Sau khi được bác sĩ chuyên khoa sàng lọc và đánh giá nguy cơ, người bệnh nên thực hiện các bài tập hiếu khí mức độ nhẹ đến trung bình. Đi bộ nhanh thường được ưu tiên vì tính an toàn và khả năng kiểm soát nhịp tim dễ dàng. Tuy nhiên, cần tham vấn y tế nếu có các dấu hiệu như đau thắt ngực không ổn định, suy tim mất bù hoặc rối loạn nhịp tim phức tạp khi có vận động thể lực ở cường độ trung bình - cao.
Người khỏe mạnh nhưng thiếu thời gian. Đối với những người trẻ bận rộn, chạy bộ là lựa chọn tối ưu về mặt hiệu suất. Chỉ cần 75 phút chạy bộ mỗi tuần có thể mang lại lợi ích sức khỏe tương đương với 150 phút đi bộ. Việc kết hợp các khoảng chạy nhanh ngắn (HIIT) vào thói quen đi bộ cũng là một cách hiệu quả để nâng cao thể tích khí lưu thông và sức bền tim phổi.
Hưởng ứng Ngày Sức khỏe toàn dân 7-4, Bệnh viện Đa khoa Sơn Uyên (Bắc Ninh) ký kết hợp tác triển khai giải pháp tầm soát rung nhĩ và sàng lọc nguy cơ tai biến, đột quỵ trong cộng đồng.
Việt Nam là một trong những quốc gia có tỉ lệ đột quỵ cao nhất thế giới, với khoảng 200.000 ca mỗi năm. Như vậy, trung bình mỗi ngày tại nước ta có khoảng 548 ca tai biến, đột quỵ. Bên cạnh đó, bệnh đang có xu hướng trẻ hóa.
Đáng lo ngại, nhiều trường hợp xảy ra đột ngột, không có dấu hiệu cảnh báo rõ ràng trước đó. Trong số các nguyên nhân quan trọng, rung nhĩ - một dạng rối loạn nhịp tim - được xem là "thủ phạm thầm lặng" làm gia tăng nguy cơ hình thành cục máu đông, gây tắc mạch máu não dẫn tới đột quỵ.
Theo các nghiên cứu cho thấy rung nhĩ có thể làm tăng nguy cơ đột quỵ gấp 5 lần, nhưng thường bị bỏ sót vì không xuất hiện liên tục. Ở người trẻ, tình trạng này thường bị nhầm với mệt mỏi hay stress, khiến nhiều ca chỉ được phát hiện khi đã có biến chứng.
Thực tế cho thấy phần lớn người bệnh không biết mình mắc rung nhĩ do triệu chứng mơ hồ, dễ bị bỏ qua. Việc phát hiện thường chỉ diễn ra khi đã xuất hiện biến chứng. Đây chính là khoảng trống mà chương trình hợp tác lần này hướng tới. Theo đó, công nghệ tầm soát rung nhĩ được tích hợp ngay trong máy đo huyết áp gia đình.
Điểm đáng chú ý của công nghệ này là khả năng phát hiện bất thường nhịp tim ngay trong thao tác đo huyết áp thông thường.
Nhờ đó người sử dụng có thể tự theo dõi sức khỏe tim mạch tại nhà, phát hiện sớm dấu hiệu loạn nhịp để đi khám kịp thời, thay vì chỉ phát hiện khi biến chứng đã xảy ra.
Ông Tạ Văn Luận, đại diện đơn vị cung cấp, chia sẻ: "Mỗi chiếc máy đo có chức năng phát hiện rung nhĩ được trao đi là thêm một gia đình được bảo vệ trước bóng đen của tai biến, đột quỵ. Chúng tôi mong muốn góp phần làm giảm con số 548 ca tai biến mỗi ngày trong tương lai gần".
Trong bối cảnh hệ thống y tế đang đối mặt với áp lực lớn từ các bệnh không lây nhiễm, đặc biệt là bệnh tim mạch và đột quỵ, việc ứng dụng công nghệ để phát hiện sớm, can thiệp sớm là hướng đi mang tính bền vững. Các chuyên gia cũng kỳ vọng sẽ phát triển chương trình thành mô hình điểm để nhân rộng tại nhiều địa phương khác.
Khi công nghệ tầm soát rung nhĩ được phổ biến rộng rãi, người dân có thể chủ động hơn trong việc theo dõi sức khỏe tim mạch, qua đó giảm thiểu nguy cơ đột quỵ.
Trong chiến lược chăm sóc sức khỏe hiện đại, y tế dự phòng đang ngày càng được coi trọng. Và đôi khi sự thay đổi lớn lại bắt đầu từ những hành động rất nhỏ như một lần đo huyết áp mỗi ngày.
Để phòng chống bệnh rung nhĩ hiệu quả, các bác sĩ khuyến cáo mỗi người cần xây dựng lối sống lành mạnh: kiểm soát huyết áp, tiểu đường, duy trì cân nặng hợp lý, bỏ thuốc lá, hạn chế rượu bia, caffeine và tập thể dục vừa sức.
Theo gia đình, khoảng 2-3 tuần trước khi nhập viện, bệnh nhi N.T.D. (13 tháng tuổi, trú tại Phú Thọ) xuất hiện tình trạng sưng to vùng bìu trái. Khi sờ vào thấy khối rắn, nhưng trẻ không sốt, không quấy khóc bất thường nên gia đình vẫn theo dõi rồi đưa đến cơ sở y tế gần nhà.
Sau khi thăm khám tại cơ sở y tế địa phương và được chẩn đoán nang tinh hoàn trái, gia đình tiếp tục theo dõi tại nhà.
Tuy nhiên, chỉ trong vòng một tuần gần đây, vùng bìu trái của bé sưng to lên nhanh chóng, buộc gia đình phải đưa cháu nhập viện tại Bệnh viện Bệnh nhiệt đới Trung ương.
Bác sĩ Trần Thượng Việt, Trưởng khoa ngoại tiết niệu và nam học, Bệnh viện Bệnh nhiệt đới Trung ương, cho biết thời điểm nhập viện, bệnh nhi có khối phồng vùng bẹn trái, có thể đẩy lên được.
Siêu âm ghi nhận cạnh tinh hoàn trái có khối kích thước khoảng 2 x 3cm, mật độ chắc, ấn không đau. Dựa trên các triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng, trẻ được chẩn đoán nang mào tinh hoàn trái, một bệnh lý thuộc diện ống phúc tinh mạc thường gặp ở trẻ nhỏ và có chỉ định can thiệp ngoại khoa.
Tuy nhiên, khi vừa tiến hành rạch da phẫu thuật, kíp mổ đã đối mặt với tình huống ngoài dự kiến. "Ngay khi mở ra, chúng tôi nhận thấy tinh hoàn trái của bệnh nhi to bất thường, gấp khoảng 3 lần kích thước bình thường và có màu sắc bất thường. Nhận định đây có thể là tổn thương ác tính, kíp mổ lập tức tiến hành sinh thiết tức thì", bác sĩ Việt chia sẻ.
Kết quả sinh thiết cho thấy hình ảnh Carcinoma, một dạng ung thư xuất phát từ tế bào biểu mô có tính chất xâm lấn.
Để ngăn chặn nguy cơ di căn sang tinh hoàn còn lại và các cơ quan khác, các bác sĩ đã đưa ra quyết định cắt bỏ hoàn toàn tinh hoàn trái của bệnh nhi. Sau hơn 1 giờ phẫu thuật, ca mổ diễn ra thành công. Một ngày sau mổ, bệnh nhi tỉnh táo, tiếp xúc tốt, bú tốt, vết mổ khô, tiến triển ổn định.
Theo bác sĩ Vũ Xuân Ngọc - phụ trách khoa giải phẫu bệnh bệnh viện, cho biết kết quả xét nghiệm giải phẫu bệnh khẳng định trẻ mắc u tế bào mầm ác tính. Đây là loại u phát sinh từ các tế bào sinh sản, còn gọi là tế bào mầm.
U tế bào mầm ác tính có khả năng lan sang các bộ phận khác của cơ thể nếu không được phát hiện và xử trí kịp thời. Sự lan rộng của ung thư (di căn) có thể gây tổn thương các cơ quan và gây khó khăn cho việc điều trị.
Hiện tại bệnh nhi đang dần hồi phục sức khỏe và tiếp tục được theo dõi sát sao để có phác đồ điều trị bổ trợ phù hợp, nhằm đảm bảo trẻ có thể phát triển khỏe mạnh trong tương lai.