Nơi đây hấp dẫn du khách bởi vẻ đẹp hoang sơ của những khối đá granite hàng triệu năm tuổi, hòa quyện cùng hệ sinh thái rừng ngập mặn và những câu chuyện lịch sử đặc biệt.
Bước chân lên đảo, du khách sẽ ngỡ ngàng trước vẻ đẹp hài hòa giữa cảnh quan hoang sơ và những câu chuyện huyền bí. Nơi đây có Giếng Tiên, Bàn Chân Tiên, Sân Tiên – những địa danh gắn liền với truyền thuyết về các vị tiên đã từng đặt chân đến.
Trên đỉnh cao nhất của hòn là Lăng Ông Nam Hải, nơi thờ bộ xương cá voi dài tới 13 m. Ngư dân miền biển quanh năm tin rằng cá Ông là vị thần cứu nhân độ thế, che chở cho họ mỗi khi ra khơi đánh bắt.
Hằng năm, lễ hội Nghinh Ông diễn ra vào ngày 23.5 âm lịch, thu hút đông đảo ngư dân và du khách thập phương về cầu mong bình an, sóng yên biển lặng.
Không chỉ là danh thắng, Hòn Đá Bạc còn là một chứng nhân lịch sử quan trọng. Đây từng là căn cứ của Trung đội pháo 105 ly thời kháng chiến thống nhất đất nước.
Đặc biệt, nơi đây là Trung tâm chỉ huy của Kế hoạch phản gián CM12 – một chiến công vang dội của lực lượng Công an nhân dân trong những năm 1981 – 1984, đánh bại âm mưu xâm nhập và lật đổ của các thế lực phản động.
Ghi nhớ chiến tích đó, ngày 22.6.2009, Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch đã công nhận Hòn Đá Bạc là di tích lịch sử quốc gia. Ngày nay, tại khu di tích có Tượng đài chiến thắng CM12, Nhà trưng bày và Đền thờ Bác Hồ, trở thành địa chỉ đỏ giáo dục truyền thống cách mạng.
Nhờ vẻ đẹp thiên nhiên hùng vĩ cùng bề dày lịch sử, Hòn Đá Bạc đang ngày càng trở thành điểm đến hấp dẫn trong hành trình khám phá vùng đất cuối trời Tổ quốc.
Tin Gốc: Thanh Niên

Ngày 19 tháng 5 năm 2026, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta kỷ niệm 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại trong một thời điểm có ý nghĩa đặc biệt. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đã thành công rực rỡ, xác định những định hướng chiến lược đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới, xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội; cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026-2031 đã mở ra một chương mới với yêu cầu rất cao về đổi mới tư duy, nâng cao chất lượng thể chế, hiệu lực quản trị và năng lực phục vụ Nhân dân. Hệ thống chính trị đang từng bước vận hành theo mô hình tổ chức mới, tinh gọn hơn, thông suốt hơn, đòi hỏi hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả cao hơn, gắn bó mật thiết hơn với Nhân dân và đáp ứng tốt hơn yêu cầu phát triển đất nước trong tình hình mới.
Trong bước chuyển lớn ấy, chúng ta càng nhận thức sâu sắc hơn giá trị trường tồn của tư tưởng Hồ Chí Minh - nền tảng tinh thần, ngọn đuốc soi đường, kim chỉ nam cho mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam, của dân tộc Việt Nam. Nếu Văn kiện Đại hội XIV của Đảng xác định con đường phát triển mới của đất nước, thì tư tưởng Hồ Chí Minh chính là ánh sáng soi đường để chúng ta đi trên con đường ấy với bản lĩnh vững vàng, mục tiêu đúng đắn, phương pháp khoa học và niềm tin sâu sắc vào Nhân dân.
Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là người tìm ra con đường cứu nước, giải phóng dân tộc, mà còn là người đặt nền móng tư tưởng cho sự nghiệp xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước Việt Nam trong thời đại mới. Ở Người, độc lập dân tộc gắn liền với tự do, hạnh phúc của Nhân dân, với Chủ nghĩa xã hội. Giải phóng dân tộc là điểm khởi đầu của một hành trình lớn: xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, Nhân dân được làm chủ, được sống ấm no, tự do, hạnh phúc, được học hành, được phát triển toàn diện và được thụ hưởng thành quả của cách mạng.
Đó là chiều sâu nhân văn, là giá trị bền vững và cũng là sức sống thời đại của tư tưởng Hồ Chí Minh. Tư tưởng ấy không chỉ soi sáng con đường giành độc lập, thống nhất đất nước trong thế kỷ XX, mà còn tiếp tục soi sáng công cuộc bảo vệ toàn vẹn chủ quyền, lãnh thổ, đổi mới, cải cách, phát triển nhanh và bền vững trong thế kỷ XXI. Trong kỷ nguyên mới, khi đất nước đứng trước yêu cầu vươn lên mạnh mẽ, nâng cao năng lực tự chủ chiến lược, bắt kịp các xu thế phát triển của thời đại, tư tưởng Hồ Chí Minh càng trở thành điểm tựa tinh thần, nền tảng tư duy và phương hướng hành động có ý nghĩa quyết định.
Đại hội XIV của Đảng là dấu mốc rất quan trọng trong tiến trình phát triển của đất nước. Đại hội không chỉ tổng kết chặng đường phát triển, nhìn lại những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử sau 40 năm đổi mới, mà còn xác lập phương pháp luận, tầm nhìn và những quyết sách chiến lược cho giai đoạn phát triển trong tương lai. Đó là con đường phát triển nhanh và bền vững ; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, hoạt động hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả; xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân; phát triển đất nước dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số; phát triển văn hóa, con người Việt Nam trở thành nền tảng, nguồn lực nội sinh và động lực quan trọng; xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, chủ động hội nhập quốc tế sâu rộng; củng cố quốc phòng, an ninh vững mạnh.
Nhìn sâu xa, những định hướng chiến lược ấy chính là sự kế thừa, vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện lịch sử mới. Tư tưởng Hồ Chí Minh không phải là những mệnh đề bất biến, khép kín, mà là một hệ thống quan điểm sống động, luôn gắn với thực tiễn, lấy thực tiễn làm điểm xuất phát, lấy lợi ích của dân tộc và hạnh phúc của Nhân dân làm mục tiêu cao nhất, lấy tự chủ, dân chủ, đổi mới, sáng tạo và hành động làm phương thức để hiện thực hóa lý tưởng cách mạng.
Trước hết, tư tưởng “dân là gốc” của Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục là trục xuyên suốt của mọi chủ trương, đường lối, chính sách trong giai đoạn hiện nay. Trong tư tưởng của Người, Nhân dân là chủ thể của lịch sử, là nguồn sức mạnh vô tận của cách mạng, là mục tiêu phục vụ cao nhất của Đảng và Nhà nước. Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân. Chính quyền từ Trung ương đến cơ sở đều là công bộc của dân. Cán bộ, đảng viên phải gần dân, hiểu dân, tin dân, trọng dân, học dân, vì dân và có trách nhiệm với Nhân dân.
Tinh thần ấy đặt ra yêu cầu rất rõ đối với công cuộc đổi mới hiện nay: mọi cải cách phải lấy Nhân dân làm trung tâm, lấy phục vụ Nhân dân tốt hơn làm mục tiêu và lấy sự hài lòng, niềm tin, hạnh phúc của Nhân dân làm thước đo đánh giá. Tinh gọn bộ máy không phải chỉ để giảm đầu mối, giảm tầng nấc, giảm chi phí, mà sâu xa hơn là để bộ máy gần dân hơn, sát cơ sở hơn, xử lý công việc nhanh hơn, phục vụ người dân và doanh nghiệp tốt hơn. Phân cấp, phân quyền để rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, phát huy tính chủ động, sáng tạo, tự chịu trách nhiệm của từng cấp, từng ngành, từng địa phương. Chuyển đổi số là nhằm hiện đại hóa phương tiện quản lý, tạo ra nền quản trị minh bạch hơn, thuận tiện hơn, công bằng hơn, chu đáo hơn và nhanh chóng hơn.
Thứ hai, tư tưởng độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường của Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục soi sáng con đường phát triển đất nước trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược, chuyển dịch chuỗi cung ứng, cách mạng công nghiệp lần thứ tư và những biến động sâu sắc của thế giới. Sinh thời, Người luôn nhấn mạnh độc lập dân tộc phải gắn với tự lực, tự cường; phải dựa vào sức mình là chính, đồng thời tranh thủ sự ủng hộ, hợp tác quốc tế; phải kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại.
Ngày nay, tư tưởng ấy được phát triển trong yêu cầu xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, có sức chống chịu cao, có năng lực cạnh tranh quốc tế, chủ động hội nhập sâu rộng nhưng không lệ thuộc; phát triển mạnh khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số; làm chủ những lĩnh vực công nghệ chiến lược; hình thành lực lượng sản xuất mới và phương thức sản xuất mới. Khát vọng “sánh vai với các cường quốc năm châu” mà Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi gắm cho các thế hệ Việt Nam hôm nay đã trở thành yêu cầu phát triển thực tiễn, đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta phải đổi mới mạnh mẽ tư duy, hành động quyết liệt, vượt qua tâm lý tự bằng lòng, vượt qua nguy cơ tụt hậu, nhất là tụt hậu về công nghệ, năng suất và chất lượng phát triển.
Thứ ba, tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng tiếp tục là nền tảng đặc biệt quan trọng cho công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong giai đoạn mới. Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn Đảng ta là Đảng cầm quyền; mỗi cán bộ, đảng viên phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; phải giữ gìn Đảng thật trong sạch; phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của Nhân dân. Người coi đạo đức là gốc của người cách mạng, coi sự gắn bó máu thịt với Nhân dân là nguồn sức mạnh và là điều kiện tồn tại, phát triển của Đảng.
Trong điều kiện hiện nay, yêu cầu ấy càng có ý nghĩa sống còn. Một đất nước muốn phát triển nhanh và bền vững phải có một Đảng thật sự trong sạch, vững mạnh, đủ bản lĩnh, trí tuệ, đạo đức, uy tín và năng lực lãnh đạo. Một hệ thống chính trị tinh gọn muốn vận hành hiệu quả phải có đội ngũ cán bộ đủ phẩm chất, năng lực, trách nhiệm, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Một nền quản trị hiện đại muốn thành công phải được đặt trên nền tảng kỷ luật, kỷ cương, liêm chính, minh bạch và trách nhiệm giải trình.
Vì vậy, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, quan liêu không chỉ là nhiệm vụ xây dựng Đảng, mà còn là nhiệm vụ phát triển. Chống tham nhũng là để làm trong sạch bộ máy, củng cố niềm tin của Nhân dân, bảo vệ nguồn lực quốc gia, tạo môi trường lành mạnh cho phát triển. Chống lãng phí là để khơi thông nguồn lực, sử dụng hiệu quả tài sản công, thời gian công, cơ hội phát triển của đất nước. Chống tiêu cực là giữ gìn kỷ cương, ngăn chặn tha hóa quyền lực, tạo nền tảng công bằng, văn minh cho phát triển đất nước bền vững; Chống quan liêu là để bộ máy không xa dân, chính sách không xa thực tiễn, cán bộ không vô cảm trước đời sống Nhân dân.
Thứ tư, tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết toàn dân tộc tiếp tục là nguồn sức mạnh chiến lược trong kỷ nguyên mới. Người khẳng định đoàn kết là truyền thống cực kỳ quý báu của dân tộc ta, là nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng. Đoàn kết trong Đảng, đoàn kết toàn dân, đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế; đoàn kết giữa các giai cấp, tầng lớp, dân tộc, tôn giáo, đồng bào trong nước và người Việt Nam ở nước ngoài - đó là phương thức tập hợp lực lượng và cũng là nghệ thuật xây dựng sức mạnh quốc gia của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại.
Trong giai đoạn hiện nay, đại đoàn kết không chỉ là yêu cầu chính trị, mà còn là nguồn lực phát triển. Đất nước muốn vươn mình phải khơi dậy và phát huy cao nhất trí tuệ, bản lĩnh, khát vọng, sức sáng tạo và tinh thần cống hiến của mọi người Việt Nam. Công nhân, nông dân, trí thức, doanh nhân, văn nghệ sĩ, thanh niên, phụ nữ, cựu chiến binh, đồng bào các dân tộc, các tôn giáo, người Việt Nam ở nước ngoài đều là những lực lượng quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới không thể chỉ dựa vào nguồn lực nhà nước, mà phải huy động, giải phóng và kết nối mọi nguồn lực xã hội, mọi tiềm năng sáng tạo của Nhân dân.
Thứ năm, tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa, con người tiếp tục soi sáng yêu cầu phát triển bền vững của đất nước. Với Người, văn hóa không đứng ngoài chính trị, kinh tế, xã hội, mà phải soi đường cho quốc dân đi. Con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của cách mạng. Phát triển đất nước không chỉ là tăng trưởng kinh tế, mà là nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân cách, xây dựng đạo đức, phát triển văn hóa, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân.
Trong kỷ nguyên mới, phát triển nhanh phải đi đôi với phát triển bền vững; tăng trưởng kinh tế phải đi đôi với tiến bộ, công bằng xã hội; đổi mới công nghệ phải đi đôi với phát triển con người; hội nhập quốc tế phải đi đôi với giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc. Một quốc gia chỉ thật sự hùng cường khi có nền kinh tế mạnh, thể chế hiện đại, quốc phòng- an ninh vững chắc, văn hóa giàu bản sắc, con người phát triển toàn diện và xã hội nhân văn, nghĩa tình, kỷ cương, sáng tạo.
Từ đó có thể thấy, các quyết sách đổi mới trong thời gian gần đây, từ tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, sắp xếp đơn vị hành chính, vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp; đổi mới thể chế, hoàn thiện pháp luật; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, cải cách hành chính, chuyển đổi số; phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo; phát triển kinh tế tư nhân, nâng cao hiệu quả kinh tế nhà nước, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ; phát triển văn hóa, con người, nâng cao chất lượng giáo dục, chăm sóc sức khỏe Nhân dân, bảo đảm an sinh xã hội; đến chủ động hội nhập quốc tế, củng cố quốc phòng, an ninh, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực đều cần được soi chiếu bằng tư tưởng Hồ Chí Minh. Soi chiếu để giữ đúng mục tiêu. Soi chiếu để lựa chọn đúng phương pháp. Soi chiếu để mọi đổi mới không xa rời Nhân dân, mọi phát triển không đánh mất bản sắc, mọi cải cách không tách khỏi lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
Vì vậy, kỷ niệm 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bối cảnh hiện nay không chỉ là dịp tưởng nhớ, tri ân công lao trời biển của Người. Đây còn là dịp để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta tự soi lại mình trước tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người; củng cố niềm tin vào con đường đã lựa chọn; nâng cao trách nhiệm trước Tổ quốc, trước Nhân dân; biến tư tưởng Hồ Chí Minh thành hành động cách mạng cụ thể trong từng cơ quan, từng địa phương, từng cán bộ, đảng viên và từng người dân.
Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh hôm nay không thể dừng ở những lời nói đúng, những khẩu hiệu hay, những phong trào hình thức. Điều quan trọng hơn là phải chuyển hóa thành đạo đức công vụ, kỷ luật thực thi, văn hóa liêm chính, tinh thần đổi mới sáng tạo, trách nhiệm phục vụ Nhân dân, năng lực tổ chức thực hiện và kết quả cụ thể trong đời sống. Mỗi chủ trương đúng phải đi vào cuộc sống. Mỗi chính sách phải đến được với người dân. Mỗi cán bộ phải lấy sự hài lòng, niềm tin và hạnh phúc của Nhân dân làm thước đo công việc của mình.
Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc đặt ra yêu cầu rất cao đối với toàn bộ hệ thống chính trị. Chúng ta phải kiên định nhưng không bảo thủ; đổi mới nhưng không chệch hướng; phát triển nhanh nhưng phải bền vững; hội nhập sâu rộng nhưng phải giữ vững độc lập, tự chủ; xây dựng bộ máy tinh gọn nhưng phải bảo đảm phục vụ Nhân dân tốt hơn; phát triển kinh tế mạnh mẽ nhưng phải bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội và hạnh phúc của Nhân dân. Đó cũng chính là tinh thần Hồ Chí Minh trong điều kiện mới: kiên định mục tiêu, sáng tạo phương pháp, thực tiễn trong hành động, nhân văn trong mục đích, lấy dân làm gốc và lấy lợi ích quốc gia-dân tộc làm tối thượng.
Càng trong bước chuyển lớn của lịch sử, chúng ta càng phải giữ vững tư tưởng Hồ Chí Minh. Càng tiến bước trên con đường hiện đại hóa, chúng ta càng phải trở về sâu sắc hơn với những giá trị nền tảng mà Người để lại: độc lập, tự do; dân là gốc; đoàn kết; tự lực, tự cường; cần, kiệm, liêm, chính; Đảng trong sạch; Nhà nước phục vụ Nhân dân; phát triển vì con người và vì hạnh phúc của Nhân dân.
Dưới ánh sáng Hồ Chí Minh, với bản lĩnh, trí tuệ, ý chí và khát vọng Việt Nam, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta nhất định sẽ thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, thực hiện thành công hai mục tiêu chiến lược 100 năm, hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước hùng cường, sánh vai với các cường quốc năm châu như Bác Hồ kính yêu hằng mong muốn./.
Tô Lâm
Tổng Bí thư BCH TƯ Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam
Tin Gốc: Dân Trí

Trong quản trị quốc gia, những tháng ngày đầu của một Chính phủ nhiệm kỳ mới là thời gian xác lập cách thức vận hành. Đó là lúc Chính phủ trả lời những câu hỏi căn bản: sẽ quản lý hay kiến tạo, kiểm soát hay trao quyền, tập trung hay phân cấp?
Lịch sử cải cách cho thấy, những chính phủ thành công không phải là những chính phủ ban hành nhiều chính sách nhất, mà là những chính phủ định hình được “hệ điều hành” tốt cho cả nhiệm kỳ ngay từ những bước đi đầu tiên.
Trong bối cảnh đó, việc Chính phủ ban hành đồng loạt 8 nghị quyết về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính và điều kiện kinh doanh ngay trong tháng đầu tiên của nhiệm kỳ không chỉ là một quyết sách hành chính thông thường. Đó là một tuyên bố chính trị - thể chế về cách Chính phủ lựa chọn hành động.
Điều này hoàn toàn phù hợp với cam kết khi phát biểu nhậm chức của Thủ tướng Lê Minh Hưng: xây dựng một Chính phủ hiện đại, kiến tạo và phục vụ nhân dân, đoàn kết một lòng dưới sự lãnh đạo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng mà hạt nhân là đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm.
Một quyết định chưa từng có: quy mô, tốc độ và cách tiếp cận điểm gây ấn tượng mạnh nhất trước hết là quy mô cải cách.
Theo các nghị quyết được ban hành, Chính phủ tiến hành sửa đổi, bổ sung đồng bộ 163 văn bản quy phạm pháp luật, trong đó có tới 155 nghị định - một con số chưa từng có trong các đợt cải cách trước đây.
Trên cơ sở đó, 184 thủ tục hành chính được bãi bỏ, 134 thủ tục được phân cấp, và 349 thủ tục được đơn giản hóa. Không dừng lại ở đó, Chính phủ còn quyết định bãi bỏ 890 điều kiện kinh doanh, đồng thời đưa tỷ lệ thủ tục hành chính do cấp Trung ương trực tiếp giải quyết xuống còn khoảng 27%.
Mục tiêu đặt ra là giảm hơn 50% thời gian và chi phí tuân thủ cho người dân và doanh nghiệp.
Những con số này không chỉ phản ánh quy mô, mà còn cho thấy một cách tiếp cận mới: đổi mới một cách căn cơ và có hệ thống, thay vì điều chỉnh từng phần nhỏ lẻ như trước đây.
Điểm thứ hai là tốc độ triển khai. Việc ban hành đồng loạt 8 nghị quyết ngay trong tháng đầu nhiệm kỳ cho thấy đây không phải là những quyết định mang tính thử nghiệm, mà là những lựa chọn đã được cân nhắc kỹ lưỡng và triển khai với quyết tâm cao.
Trong quản trị công, tốc độ không đơn thuần là yếu tố kỹ thuật. Khi cải cách được thực hiện nhanh và đồng bộ, đó là dấu hiệu của một chính phủ không chỉ có ý chí, mà còn có năng lực hành động.
Điểm thứ ba, và quan trọng hơn cả, là cách tiếp cận. Những gì diễn ra không chỉ là “cắt giảm thủ tục”, mà là thiết kế lại cách vận hành của hệ thống hành chính. Chính phủ không chỉ giảm số lượng quy định, mà đang thay đổi logic vận hành của quyền lực nhà nước một cách thực chất và hiệu quả.
Nếu nhìn sâu vào nội dung của 8 nghị quyết, có thể thấy rõ ba chuyển dịch lớn - ba lựa chọn mang tính chiến lược của Chính phủ trong cách thức vận hành.
Trong một thời gian dài, hệ thống quản lý của chúng ta vận hành theo logic tiền kiểm: phải xin phép trước khi làm, phải được chấp thuận trước khi triển khai. Cách tiếp cận này giúp giảm rủi ro, nhưng lại tạo ra chi phí tuân thủ lớn, làm chậm dòng chảy của nền kinh tế.
Với 8 nghị quyết lần này, việc bãi bỏ hàng loạt điều kiện kinh doanh và thủ tục tiền kiểm cho thấy một chuyển dịch rõ ràng: từ kiểm soát trước sang quản trị rủi ro trong quá trình vận hành.
Nhà nước không còn đứng ở vị trí “giữ cửa”, mà chuyển sang vai trò thiết lập tiêu chuẩn, giám sát và xử lý vi phạm trên cơ sở dữ liệu và quy định của pháp luật. Đây là một thay đổi không chỉ về công cụ, mà về triết lý quản lý. Không phải kiểm soát trước để tránh rủi ro, mà là quản lý rủi ro một cách chủ động và linh hoạt.
Một trong những nội dung nổi bật của các nghị quyết là việc phân cấp 134 thủ tục hành chính, qua đó giảm mạnh tỉ lệ thủ tục do cấp Trung ương trực tiếp giải quyết.
Điều này cho thấy một lựa chọn rõ ràng: Trung ương không còn ôm việc, mà chuyển sang tập trung vào thiết kế thể chế và giám sát, trong khi trao quyền thực thi cho địa phương.
Phân quyền, nếu chỉ dừng lại ở giao việc, sẽ không tạo ra thay đổi thực chất. Nhưng nếu đi kèm với trách nhiệm giải trình và đo lường kết quả, nó sẽ trở thành động lực để nâng cao hiệu quả quản trị.
Ở đây, điều đáng chú ý không phải chỉ là “phân cấp bao nhiêu”, mà là cách phân quyền trong hệ thống hành chính - một yếu tố cốt lõi của năng lực thực thi quốc gia.
Từ kiểm soát sang kiến tạo: Định vị lại vai trò của Nhà nước
Có lẽ chuyển dịch sâu sắc nhất nằm ở cách Chính phủ định vị lại vai trò của mình đối với nền kinh tế.
Khi 890 điều kiện kinh doanh được bãi bỏ, thông điệp gửi đi là rất rõ: doanh nghiệp không còn là đối tượng cần được kiểm soát chặt chẽ, mà là chủ thể cần được trao quyền để phát triển. Nhà nước không đứng ở vị trí “cấp phép để cho tồn tại”, mà chuyển sang vai trò kiến tạo môi trường để phát triển.
Đây chính là bước chuyển từ một nền hành chính quản lý sang một nền hành chính kiến tạo - một chuyển dịch đã được nhắc đến nhiều năm, nhưng chỉ thực sự trở nên rõ nét khi được cụ thể hóa bằng những quyết định có quy mô lớn như lần này.
Những chuyển dịch nói trên không chỉ mang ý nghĩa về mặt thể chế, mà còn có tác động trực tiếp đến người dân, doanh nghiệp và toàn bộ nền kinh tế.
Với doanh nghiệp, việc cắt giảm thủ tục và điều kiện kinh doanh đồng nghĩa với việc giảm đáng kể chi phí tuân thủ - không chỉ là chi phí chính thức, mà cả những chi phí không chính thức vốn là một gánh nặng lâu nay.
Quy trình nhanh hơn, rõ ràng hơn cũng giúp doanh nghiệp tăng tốc độ ra quyết định, nâng cao khả năng cạnh tranh.
Với người dân, việc giảm thủ tục và giảm tiếp xúc trực tiếp với cơ quan hành chính sẽ góp phần giảm rủi ro nhũng nhiễu, đồng thời nâng cao chất lượng dịch vụ công.
Với nền kinh tế, ý nghĩa lớn nhất là khơi thông dòng chảy nguồn lực. Khi các rào cản thủ tục được dỡ bỏ, nguồn vốn, ý tưởng và năng lực sản xuất có thể vận hành nhanh hơn, hiệu quả hơn.
Đây chính là điều kiện cần để đạt được các mục tiêu tăng trưởng cao trong giai đoạn tới. Quan trọng hơn, những quyết định này góp phần tái thiết niềm tin - niềm tin của doanh nghiệp vào môi trường kinh doanh, niềm tin của người dân vào hiệu quả của bộ máy hành chính.
Đúng như Thủ tướng Lê Minh Hưng đã phát biểu khi nhậm chức: tôi ý thức sâu sắc rằng, lòng tin của nhân dân là nguồn lực lớn nhất của quốc gia.
Thực tế, trong tất cả các cuộc làm việc với các bộ ngành sau khi nhậm chức, Thủ tướng luôn nhấn mạnh yêu cầu tập trung, dứt khoát cắt giảm thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh.
Ông nêu rõ, đây là một trong những giải pháp nhanh nhất, ngắn nhất để hoàn thiện thể chế, tạo môi trường kinh doanh lành mạnh, tác động trực tiếp ngay tới tăng trưởng với mục tiêu 2 con số và quan trọng hơn cả, sẽ giúp củng cố niềm tin của người dân và doanh nghiệp.
Thách thức của lựa chọn: cải cách thực chất tuy nhiên, cũng cần nhìn nhận một cách thẳng thắn rằng, lựa chọn này đi kèm với những thách thức không nhỏ.
Thứ nhất, chuyển sang hậu kiểm đòi hỏi một hệ thống dữ liệu và năng lực giám sát hiện đại. Nếu không có công cụ phù hợp, việc giảm tiền kiểm có thể dẫn đến rủi ro trong quản lý.
Thứ hai, phân quyền đòi hỏi phải thiết lập cơ chế kiểm soát quyền lực mới. Nếu không, có thể xuất hiện tình trạng buông lỏng hoặc “đẩy trách nhiệm” giữa các cấp.
Thứ ba, và quan trọng nhất, là thay đổi tư duy của bộ máy. Nếu tư duy quản lý cũ vẫn tồn tại, thì cải cách trên giấy có thể không chuyển hóa thành thay đổi trong thực tế.
Thủ tướng Lê Minh Hưng đã chỉ rõ, điều quan trọng là tinh thần chỉ đạo của Trung ương, Bộ Chính trị và Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm về đổi mới tư duy phải được quán triệt không chỉ ở cấp lãnh đạo các bộ hay địa phương, mà phải xuống tới cấp các vụ cục, đơn vị trực thuộc, cấp thực thi.
Bởi lẽ, cải cách lớn nhất không nằm ở văn bản, mà nằm ở cách bộ máy thực thi nó mỗi ngày. Một lựa chọn đã được xác lập những tháng ngày đầu không quyết định toàn bộ nhiệm kỳ, nhưng nó quyết định hướng đi của Chính phủ.
Với việc ban hành 8 nghị quyết lần này, Chính phủ đã phát đi một tín hiệu rõ ràng: lựa chọn con đường cải cách thực chất, trao quyền và kiến tạo phát triển.
Với quyết tâm mạnh mẽ, những quyết định này không chỉ làm cho thủ tục nhanh hơn, chi phí thấp hơn. Quan trọng hơn, nó có thể làm cho nền kinh tế vận hành theo một logic hoàn toàn khác - logic của niềm tin, của hiệu quả và của tăng trưởng. Chính phủ đã cam kết là hành động, nỗ lực hết sức mình để kiến tạo cho sự phát triển, đem đến cuộc sống tốt đẹp hơn cho người dân.
Tin Gốc: Thanh Niên

Cuối giờ chiều 29.5, Đội tìm kiếm cứu nạn cứu hộ và trợ giúp nhân đạo (Hội Chữ thập đỏ tỉnh Vĩnh Long) cho biết, sau 1 ngày tìm kiếm, đội đã tìm thấy thi thể nam thiếu niên đuối nước mất tích chiều 28.5 và bàn giao cho chính quyền địa phương xử lý theo quy định.
Theo đó, tiếp nhận thông tin về việc nam thiếu niên 15 tuổi đuối nước mất tích do tắm sông vào chiều qua (28.5), Đội tìm kiếm cứu nạn cứu hộ và trợ giúp nhân đạo tỉnh Vĩnh Long đã sử dụng 2 ca nô và 8 thành viên tham gia hỗ trợ tìm kiếm.
Sau gần 1 ngày tìm kiếm, đội đã tìm thấy thi thể em Đ.G.B (15 tuổi, ở phường Thanh Đức) gần nơi đuối nước mất tích chiều 28.5. Đội đã bàn giao thi thể em B. lại cho chính quyền địa phương để thực hiện các thủ tục đưa về cho gia đình an táng.
Như Thanh Niên đã thông tin, khoảng 16 giờ ngày 28.5, 2 em Đ.G.B, V.K.T (15 tuổi) và T.C.T (14 tuổi, cùng ở phường Thanh Đức) đi tắm sông tại chân cầu Bạch Đằng, thuộc khóm 1, phường Thanh Đức.
Khoảng 30 phút sau, anh Lê Nguyễn Minh Quân (20 tuổi, ở khóm 1, phường Thanh Đức) ngồi câu cá tại bậc thềm gần chân cầu Bạch Đằng, nơi 3 em này đang tắm, thì nghe tiếng kêu cứu của 2 bé trai.
Anh Quân nhanh chóng lao xuống cứu 2 bé. Một tay anh kéo bé C.T, còn bé B. thì anh cõng trên lưng. Khi vào gần bờ, anh Quân đẩy C.T vào bờ; còn bé B. trên lưng thì vùng vẫy văng lại phía sau và chìm xuống.
Anh Quân lặn xuống tìm nhưng không gặp nên nhanh chóng lên bờ gọi người trợ giúp và người dân gọi báo lực lượng chức năng.
Tiếp nhận thông tin, Công an phường Thanh Đức triển khai lực lượng nhanh chóng có mặt tại hiện trường và liên hệ lực lượng Cảnh sát PCCC và cứu nạn cứu hộ công an tỉnh Vĩnh Long tiến hành tìm kiếm cứu hộ.
Đến 19 giờ 30 phút cùng ngày, lực lượng cứu hộ vẫn chưa tìm thấy bé B. Do đêm tối, trời mưa, thủy triều lên cao và tại ngã ba sông Long Hồ và sông Cổ Chiên có dòng nước chảy xiết nên việc tìm kiếm nạn nhân bị đuối nước mất tích tạm dừng lại.
Tin Gốc: Thanh Niên

