Trong quản trị quốc gia, những tháng ngày đầu của một Chính phủ nhiệm kỳ mới là thời gian xác lập cách thức vận hành. Đó là lúc Chính phủ trả lời những câu hỏi căn bản: sẽ quản lý hay kiến tạo, kiểm soát hay trao quyền, tập trung hay phân cấp?
Lịch sử cải cách cho thấy, những chính phủ thành công không phải là những chính phủ ban hành nhiều chính sách nhất, mà là những chính phủ định hình được “hệ điều hành” tốt cho cả nhiệm kỳ ngay từ những bước đi đầu tiên.
Trong bối cảnh đó, việc Chính phủ ban hành đồng loạt 8 nghị quyết về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính và điều kiện kinh doanh ngay trong tháng đầu tiên của nhiệm kỳ không chỉ là một quyết sách hành chính thông thường. Đó là một tuyên bố chính trị – thể chế về cách Chính phủ lựa chọn hành động.
Điều này hoàn toàn phù hợp với cam kết khi phát biểu nhậm chức của Thủ tướng Lê Minh Hưng: xây dựng một Chính phủ hiện đại, kiến tạo và phục vụ nhân dân, đoàn kết một lòng dưới sự lãnh đạo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng mà hạt nhân là đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm.
Một quyết định chưa từng có: quy mô, tốc độ và cách tiếp cận điểm gây ấn tượng mạnh nhất trước hết là quy mô cải cách.
Theo các nghị quyết được ban hành, Chính phủ tiến hành sửa đổi, bổ sung đồng bộ 163 văn bản quy phạm pháp luật, trong đó có tới 155 nghị định – một con số chưa từng có trong các đợt cải cách trước đây.
Trên cơ sở đó, 184 thủ tục hành chính được bãi bỏ, 134 thủ tục được phân cấp, và 349 thủ tục được đơn giản hóa. Không dừng lại ở đó, Chính phủ còn quyết định bãi bỏ 890 điều kiện kinh doanh, đồng thời đưa tỷ lệ thủ tục hành chính do cấp Trung ương trực tiếp giải quyết xuống còn khoảng 27%.
Mục tiêu đặt ra là giảm hơn 50% thời gian và chi phí tuân thủ cho người dân và doanh nghiệp.
Những con số này không chỉ phản ánh quy mô, mà còn cho thấy một cách tiếp cận mới: đổi mới một cách căn cơ và có hệ thống, thay vì điều chỉnh từng phần nhỏ lẻ như trước đây.
Điểm thứ hai là tốc độ triển khai. Việc ban hành đồng loạt 8 nghị quyết ngay trong tháng đầu nhiệm kỳ cho thấy đây không phải là những quyết định mang tính thử nghiệm, mà là những lựa chọn đã được cân nhắc kỹ lưỡng và triển khai với quyết tâm cao.
Trong quản trị công, tốc độ không đơn thuần là yếu tố kỹ thuật. Khi cải cách được thực hiện nhanh và đồng bộ, đó là dấu hiệu của một chính phủ không chỉ có ý chí, mà còn có năng lực hành động.
Điểm thứ ba, và quan trọng hơn cả, là cách tiếp cận. Những gì diễn ra không chỉ là “cắt giảm thủ tục”, mà là thiết kế lại cách vận hành của hệ thống hành chính. Chính phủ không chỉ giảm số lượng quy định, mà đang thay đổi logic vận hành của quyền lực nhà nước một cách thực chất và hiệu quả.
Nếu nhìn sâu vào nội dung của 8 nghị quyết, có thể thấy rõ ba chuyển dịch lớn – ba lựa chọn mang tính chiến lược của Chính phủ trong cách thức vận hành.
Trong một thời gian dài, hệ thống quản lý của chúng ta vận hành theo logic tiền kiểm: phải xin phép trước khi làm, phải được chấp thuận trước khi triển khai. Cách tiếp cận này giúp giảm rủi ro, nhưng lại tạo ra chi phí tuân thủ lớn, làm chậm dòng chảy của nền kinh tế.
Với 8 nghị quyết lần này, việc bãi bỏ hàng loạt điều kiện kinh doanh và thủ tục tiền kiểm cho thấy một chuyển dịch rõ ràng: từ kiểm soát trước sang quản trị rủi ro trong quá trình vận hành.
Nhà nước không còn đứng ở vị trí “giữ cửa”, mà chuyển sang vai trò thiết lập tiêu chuẩn, giám sát và xử lý vi phạm trên cơ sở dữ liệu và quy định của pháp luật. Đây là một thay đổi không chỉ về công cụ, mà về triết lý quản lý. Không phải kiểm soát trước để tránh rủi ro, mà là quản lý rủi ro một cách chủ động và linh hoạt.
Một trong những nội dung nổi bật của các nghị quyết là việc phân cấp 134 thủ tục hành chính, qua đó giảm mạnh tỉ lệ thủ tục do cấp Trung ương trực tiếp giải quyết.
Điều này cho thấy một lựa chọn rõ ràng: Trung ương không còn ôm việc, mà chuyển sang tập trung vào thiết kế thể chế và giám sát, trong khi trao quyền thực thi cho địa phương.
Phân quyền, nếu chỉ dừng lại ở giao việc, sẽ không tạo ra thay đổi thực chất. Nhưng nếu đi kèm với trách nhiệm giải trình và đo lường kết quả, nó sẽ trở thành động lực để nâng cao hiệu quả quản trị.
Ở đây, điều đáng chú ý không phải chỉ là “phân cấp bao nhiêu”, mà là cách phân quyền trong hệ thống hành chính – một yếu tố cốt lõi của năng lực thực thi quốc gia.
Từ kiểm soát sang kiến tạo: Định vị lại vai trò của Nhà nước
Có lẽ chuyển dịch sâu sắc nhất nằm ở cách Chính phủ định vị lại vai trò của mình đối với nền kinh tế.
Khi 890 điều kiện kinh doanh được bãi bỏ, thông điệp gửi đi là rất rõ: doanh nghiệp không còn là đối tượng cần được kiểm soát chặt chẽ, mà là chủ thể cần được trao quyền để phát triển. Nhà nước không đứng ở vị trí “cấp phép để cho tồn tại”, mà chuyển sang vai trò kiến tạo môi trường để phát triển.
Đây chính là bước chuyển từ một nền hành chính quản lý sang một nền hành chính kiến tạo – một chuyển dịch đã được nhắc đến nhiều năm, nhưng chỉ thực sự trở nên rõ nét khi được cụ thể hóa bằng những quyết định có quy mô lớn như lần này.
Những chuyển dịch nói trên không chỉ mang ý nghĩa về mặt thể chế, mà còn có tác động trực tiếp đến người dân, doanh nghiệp và toàn bộ nền kinh tế.
Với doanh nghiệp, việc cắt giảm thủ tục và điều kiện kinh doanh đồng nghĩa với việc giảm đáng kể chi phí tuân thủ – không chỉ là chi phí chính thức, mà cả những chi phí không chính thức vốn là một gánh nặng lâu nay.
Quy trình nhanh hơn, rõ ràng hơn cũng giúp doanh nghiệp tăng tốc độ ra quyết định, nâng cao khả năng cạnh tranh.
Với người dân, việc giảm thủ tục và giảm tiếp xúc trực tiếp với cơ quan hành chính sẽ góp phần giảm rủi ro nhũng nhiễu, đồng thời nâng cao chất lượng dịch vụ công.
Với nền kinh tế, ý nghĩa lớn nhất là khơi thông dòng chảy nguồn lực. Khi các rào cản thủ tục được dỡ bỏ, nguồn vốn, ý tưởng và năng lực sản xuất có thể vận hành nhanh hơn, hiệu quả hơn.
Đây chính là điều kiện cần để đạt được các mục tiêu tăng trưởng cao trong giai đoạn tới. Quan trọng hơn, những quyết định này góp phần tái thiết niềm tin – niềm tin của doanh nghiệp vào môi trường kinh doanh, niềm tin của người dân vào hiệu quả của bộ máy hành chính.
Đúng như Thủ tướng Lê Minh Hưng đã phát biểu khi nhậm chức: tôi ý thức sâu sắc rằng, lòng tin của nhân dân là nguồn lực lớn nhất của quốc gia.
Thực tế, trong tất cả các cuộc làm việc với các bộ ngành sau khi nhậm chức, Thủ tướng luôn nhấn mạnh yêu cầu tập trung, dứt khoát cắt giảm thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh.
Ông nêu rõ, đây là một trong những giải pháp nhanh nhất, ngắn nhất để hoàn thiện thể chế, tạo môi trường kinh doanh lành mạnh, tác động trực tiếp ngay tới tăng trưởng với mục tiêu 2 con số và quan trọng hơn cả, sẽ giúp củng cố niềm tin của người dân và doanh nghiệp.
Thách thức của lựa chọn: cải cách thực chất tuy nhiên, cũng cần nhìn nhận một cách thẳng thắn rằng, lựa chọn này đi kèm với những thách thức không nhỏ.
Thứ nhất, chuyển sang hậu kiểm đòi hỏi một hệ thống dữ liệu và năng lực giám sát hiện đại. Nếu không có công cụ phù hợp, việc giảm tiền kiểm có thể dẫn đến rủi ro trong quản lý.
Thứ hai, phân quyền đòi hỏi phải thiết lập cơ chế kiểm soát quyền lực mới. Nếu không, có thể xuất hiện tình trạng buông lỏng hoặc “đẩy trách nhiệm” giữa các cấp.
Thứ ba, và quan trọng nhất, là thay đổi tư duy của bộ máy. Nếu tư duy quản lý cũ vẫn tồn tại, thì cải cách trên giấy có thể không chuyển hóa thành thay đổi trong thực tế.
Thủ tướng Lê Minh Hưng đã chỉ rõ, điều quan trọng là tinh thần chỉ đạo của Trung ương, Bộ Chính trị và Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm về đổi mới tư duy phải được quán triệt không chỉ ở cấp lãnh đạo các bộ hay địa phương, mà phải xuống tới cấp các vụ cục, đơn vị trực thuộc, cấp thực thi.
Bởi lẽ, cải cách lớn nhất không nằm ở văn bản, mà nằm ở cách bộ máy thực thi nó mỗi ngày. Một lựa chọn đã được xác lập những tháng ngày đầu không quyết định toàn bộ nhiệm kỳ, nhưng nó quyết định hướng đi của Chính phủ.
Với việc ban hành 8 nghị quyết lần này, Chính phủ đã phát đi một tín hiệu rõ ràng: lựa chọn con đường cải cách thực chất, trao quyền và kiến tạo phát triển.
Với quyết tâm mạnh mẽ, những quyết định này không chỉ làm cho thủ tục nhanh hơn, chi phí thấp hơn. Quan trọng hơn, nó có thể làm cho nền kinh tế vận hành theo một logic hoàn toàn khác – logic của niềm tin, của hiệu quả và của tăng trưởng. Chính phủ đã cam kết là hành động, nỗ lực hết sức mình để kiến tạo cho sự phát triển, đem đến cuộc sống tốt đẹp hơn cho người dân.
"Rừng nghiến nguyên sinh nhân dân tự bảo vệ" - tấm biển xi măng phủ rêu mốc được người làng Đông Đằng, xã Bắc Sơn cắm cạnh sơ đồ mô tả vị trí, diện tích rừng của ngành nông nghiệp tỉnh Lạng Sơn lập từ nhiều năm trước.
Khu rừng nguyên sinh có 184 cây nghiến, đường kính 0,2-2,04 m tập trung trên núi đá vôi. Ngọn núi nằm trong hệ thống núi đá vôi cổ, cao trung bình 600 m, trải dài ôm trọn thung lũng Bắc Sơn. Dưới chân là Đông Đằng, làng người Tày gốc với 625 nhân khẩu quần tụ trong những nếp nhà sàn.
Toàn bộ 13,3 ha rừng nghiến đã được ngành chức năng quản lý, đánh số từ năm 2013. Nghiến thuộc nhóm IIA trong danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm theo phân loại của Bộ Nông nghiệp và Môi trường. Trên thân cây nghiến lớn nhất rừng già chi chít nu gỗ, phần dị dạng hình thành trong quá trình cây sinh trưởng liên quan rối loạn hoặc tổn thương. Nu gỗ cứng, vân cuộn đẹp, thường bị săn lùng chế tác đồ mỹ nghệ hoặc vật phong thủy.
Trước khi được đánh số quản lý, khu rừng tồn tại hàng trăm năm cùng lịch sử lập làng. Những cây cổ thụ nguyên vẹn trước hết nhờ luật lệ vô hình nhưng nghiêm khắc của cộng đồng: không được mang ra khỏi rừng thứ gì, kể cả gỗ mục.
Trưởng thôn Dương Hữu Chung kể quy ước bắt nguồn từ nếp sống người Tày, khi những hộ dân đầu tiên đến khai khẩn, dựng nhà dưới chân núi. Người Tày biết cây nghiến có bộ rễ khỏe, sống ôm chặt lấy đá có thể ngăn xói lở. Chống sạt lở, đá lăn mùa mưa lũ, dân làng dặn nhau không được chặt cây hay mang lâm sản khỏi rừng.
Lời nhắc nhở dần hình thành các quy ước và được duy trì thông qua "hội hiếu"- thiết chế mạnh nhất của làng. Tổ chức hình thành từ nghi lễ truyền thống, chuyên lo tang ma, hiếu hỉ trong làng. Hội hiếu cho thấy đám ma không chỉ là việc riêng của mỗi nhà mà còn cần sự chia sẻ, giúp sức của thân tộc, bản làng.
Hội hiếu quy định không được chặt cây, mang sản vật ra khỏi rừng. Người vi phạm lần đầu phạt nhẹ nhất 500.000 đồng, bị nhắc nhở trước toàn thôn. Không có chuyện vi phạm đến lần thứ ba, bởi chỉ cần tái phạm lần hai, người đó sẽ bị dân làng họp bàn và khai trừ khỏi hội hiếu.
Mắc lỗi, người ta vẫn có thể sống ở làng, nhưng đám ma không có người khiêng quan tài, nhà có việc không còn ai giúp. Trên cả tiền bạc hay những quy định hành chính, điều khiến người dân e ngại nhất là bị loại khỏi hội hiếu, đồng nghĩa không còn nhận được tương trợ trong những việc hệ trọng của đời người.
Đông Đằng có 138 hộ. Trưởng thôn xòe tay đếm một người Dao, hai người Nùng, 5 người Kinh, còn lại là người Tày - tất cả đều mang họ Dương. Người nơi khác đến thường thắc mắc quan hệ huyết thống, nhưng thực tế họ thuộc nhiều nhánh: Dương Thần, Dương Thời, Dương Văn, Dương Đình, Dương Hữu...
Theo luật, sau ba đời có thể kết hôn. Nhưng người Tày ở đây nói "chín đời cũng không lấy" vì người già ngại xưng hô lộn xộn. Sống dựa vào đồng tộc, làng bản, nỗi sợ bị tách khỏi cộng đồng khiến mỗi người đều tuân thủ quy ước chung.
"Có dân thì thành làng bản. Nhưng rừng có trước làng. Muốn an cư thì phải giữ rừng. Lời dặn của cha ông truyền đời và tất cả thành viên trong làng đều tự nguyện tuân theo", trưởng thôn 9X kết luận.
Những quy ước hội hiếu nơi này thường trở thành "bản lề" giúp cộng đồng gìn giữ phong tục, xây dựng đời sống văn hóa. Trưởng hội thường là người cao tuổi, có uy tín, do người dân trực tiếp bình bầu. Việc lớn nhỏ của Đông Đằng thường đưa ra tổ chức này bàn bạc, lắng nghe ý kiến người dân trước khi lên các cấp chính quyền.
Một phần điều lệ hội hiếu sau này được đưa vào hương ước thôn Đông Đằng, quy định tất cả người dân có trách nhiệm bảo vệ rừng, không chặt cây đốt phá, khai thác trái phép, không săn bẫy động vật. Các hộ không phát rừng làm nương rẫy và có biện pháp chủ động phòng chống cháy rừng mùa khô. Cuối năm họp tổng kết, 138 gia đình đều ký cam kết bảo vệ rừng.
"Người lạ gần như không thể tiếp cận để phá hoại rừng hay trộm cây", chị Dương Thị Khuyên, người dân cho biết. Bởi muốn vào rừng phải đi qua làng, nhà dân ở sát chân núi sẽ lập tức báo tin khi phát hiện người lạ lên rừng.
Trong ký ức chung của dân làng, trường hợp duy nhất vi phạm là người dân lấy củi ở lối khác rồi ngược sang rừng này. Người dân phát hiện lập tức báo thành viên hội hiếu lên kiểm tra. Người vi phạm dù không cố ý vẫn tự nguyện ký biên bản và nộp phạt 500.000 đồng. Khoản tiền được sung quỹ dùng cho việc chung.
Người Đông Đằng bền bỉ tuân thủ lệ làng một phần xuất phát từ niềm tin tín ngưỡng khi thờ Ông Đuôi - vị thần đại diện cho núi rừng. Dưới gốc đa cổ thụ ngay cửa rừng vẫn còn dấu tích phiến đá lớn nguyên khối khắc dòng chữ cổ chưa được giải nghĩa, trên đặt bát hương cũng tạc từ đá. Người lớn trong làng dặn trẻ nhỏ không được trèo lên phiến đá, không vệ sinh hay nói bậy tại khu vực này. Niềm tin càng được củng cố qua một số lần chứng kiến người xâm phạm "ngẩn ngơ như ma nhập", gia đình phải mang đồ lễ vào cúng tạ lỗi thần linh.
Nhưng nỗi lo đôi lúc không đến từ con người mà còn từ những biến đổi bất thường của tự nhiên. Năm 2020, người dân phát hiện kén sâu giăng như tơ nhện trắng vườn nhà. Vào rừng kiểm tra, họ thấy loài thân như sâu róm, răng đỏ sắc như cưa, ăn trụi lá nghiến. Ngành chức năng phải cấp thuốc sinh học, cho máy móc về phun ba ngày mới kiểm soát được.
Rừng che chở cho làng, chống xói lở, trải dài ôm trọn thung lũng Bắc Sơn. Dưới chân là đồng ruộng ven suối với những nếp nhà sàn của các làng Đông Đằng, Trí Yên, Quỳnh Sơn - nơi vừa được công nhận là Làng du lịch tốt nhất thế giới năm 2025.
Trưởng thôn cho biết trong kế hoạch phát triển du lịch, địa phương sẽ thiết kế tuyến đường từ chân núi để tham quan rừng nghiến nguyên sinh. Song nguyên tắc cốt lõi là rừng phải được giữ nguyên trạng như cách mà các thế hệ trước đã làm. Với mức thu nhập bình quân đầu người 56 triệu đồng mỗi năm chủ yếu từ trồng thuốc lá, hoa màu, cây ăn quả, anh Chung kỳ vọng người dân có thể làm giàu trên chính quê hương mình từ thành quả của bảo vệ rừng.
Không riêng cây nghiến, người dân Đông Đằng được giao khoán bảo vệ tổng cộng 427 ha rừng thuộc Khu bảo tồn Bắc Sơn. Một số khoảnh rừng không có nghiến vẫn đa dạng các loài lý, bông, vàng tâm sinh trưởng. Biết địa chất núi đá vôi hợp cho loài sinh trưởng, người dân đôi lúc sẽ đưa cây con mọc sát chân núi lên trồng trong rừng. Sinh trưởng chậm, nhiều thân nghiến bằng ngón út sau vài chục năm mới lớn bằng cổ tay. Ven bìa rừng, một vài cây mọc thẳng thắp thành hàng rào tự nhiên, ngăn cách rừng với khu dân cư.
Tổ tuần tra bảo vệ rừng được thành lập bảy năm trước, ngoài lực lượng chuyên trách còn có trai tráng thôn Đông Đằng. Họ tuần tra định kỳ mỗi tháng một lần, tăng tần suất vào mùa khô. Mỗi chuyến đi các thành viên mang cơm nắm, dụng cụ, luồn lách kiểm tra từng gốc nghiến, chụp ảnh và báo cáo hiện trạng về trung tâm quản lý. Điểm nghỉ chân ưa thích của cả đội là dưới tán đại thụ đường kính thân 2,04 m, mọc đầy nu gỗ và phong lan rừng. Sau mỗi chuyến tuần tra, kinh phí hỗ trợ mỗi thành viên nhận được là 200.000 đồng.
"Kể cả khi không có tiền, người dân nơi này đã giữ rừng từ nhiều đời trước và sẽ tiếp tục giữ cho những đời sau", anh Chung nói, tự hào về truyền thống quê mình, ngôi làng người Tày cũng là nôi cách mạng của đội du kích Bắc Sơn.
Chiều 15/5, lãnh đạo Công ty cổ phần đầu tư và phát triển xây dựng miền Bắc cho biết, một hố chứa rác thải tại nhà máy xử lý rác miền Bắc (xã Nghĩa Giang, Quảng Ngãi) do đơn vị này quản lý đã bị cháy.
Vụ cháy xảy ra vào chiều 14/5, đến tối cùng ngày ngọn lửa bùng phát, lan rộng. Hố này rộng khoảng 1ha, chứa lượng rác thải tồn đọng từ năm 2018. Phát hiện sự việc, công ty đã thông báo với Phòng Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ (Công an tỉnh Quảng Ngãi) để được hỗ trợ.
Cảnh sát đã điều động 5 xe chữa cháy cùng hàng chục cán bộ, chiến sĩ đến hiện trường. Đến sáng 15/5, lực lượng chức năng đã khống chế được đám cháy, không để cháy lan ra các khu vực bên cạnh. Tuy nhiên lượng rác quá nhiều nên hiện nay ngọn lửa vẫn còn cháy âm ỉ, khói trắng bốc lên mù mịt.
Theo lãnh đạo Công ty cổ phần đầu tư và phát triển xây dựng miền Bắc, do thời tiết nắng nóng kéo dài, trong khi hố chứa rác có nhiều vật dụng dễ phát sinh ngọn lửa nên gây ra đám cháy.
Liên quan đến vụ việc này, ông Đỗ Tâm Hiển, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ngãi, đã yêu cầu các đơn vị chức năng của tỉnh phối hợp với Công ty cổ phần đầu tư và phát triển xây dựng miền Bắc để xử lý sự cố.
Phó Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ngãi cũng giao Sở Y tế chủ trì, phối hợp với UBND các xã Nghĩa Giang, Phước Giang, Nghĩa Hành khảo sát khu vực bị ảnh hưởng bởi khói, bụi từ vụ cháy để có biện pháp bảo vệ sức khỏe cho người dân.
Theo ghi nhận của Tuổi Trẻ Online, tại đầu hẻm 561 đường Điện Biên Phủ, khu phố 4, phường Bàn Cờ có một xe ô tô màu trắng đậu lâu ngày, phủ bụi dày và xuất hiện nhiều dấu hiệu xuống cấp, rỉ sét.
Người dân khu vực cho biết chiếc xe xuất hiện tại đây từ sau Tết và không thấy ai đến chạy đi.
Ông Trung, người thường xuyên đi qua khu vực, cho biết nhiều người bắt đầu vứt rác lên nắp ca pô, dưới gầm xe và sát bờ tường gần đó. Mùi hôi từ rác thải và nước đọng khiến người dân rất khó chịu.
"Gió mạnh thổi qua là mùi hôi bay khắp nơi, đi ngang rất khó chịu", ông Trung nói.
Ngoài gây mất mỹ quan đô thị, chiếc xe còn chiếm dụng một phần mặt đường, khiến việc lưu thông vào hẻm và khu chợ bên trong gặp khó khăn.
Theo tìm hiểu, ô tô do ông L.T. đứng tên đăng ký, địa chỉ trên đường Cách Mạng Tháng 8, phường 12, quận Tân Bình cũ.
Trao đổi với Tuổi Trẻ Online, lãnh đạo UBND phường Bàn Cờ cho biết địa phương đã chỉ đạo công an và các đơn vị liên quan rà soát, xác minh chủ phương tiện để liên hệ xử lý.
Tuy nhiên sau khi tra cứu thông tin đăng ký, lực lượng chức năng vẫn chưa liên lạc được với chủ xe.
Đến trưa 16-5, Công an phường Bàn Cờ phối hợp cùng các đơn vị liên quan lập biên bản, niêm phong và cẩu phương tiện về trụ sở để tiếp tục xử lý theo quy định.
Sau khi di dời xe, lực lượng chức năng cũng thu gom rác thải, vệ sinh khu vực và xử lý mùi hôi nhằm trả lại mỹ quan, bảo đảm lưu thông cho người dân.
Rác được vứt ở những chỗ kín như gầm ô tô hay bên cạnh bờ tường. Ảnh chụp ngày 14-5 - Ảnh: PHẠM HOÀNG