Tổng công ty Cảng hàng không Việt Nam (ACV) cho biết dự án sân bay Long Thành đang bước vào giai đoạn nước rút. Hàng loạt hạng mục trọng điểm được tăng tốc để kịp mục tiêu hoàn thành khai thác kỹ thuật trong tháng 9-2026 và khai thác thương mại vào đầu tháng 12-2026.
Hiện trạng “trái tim” sân bay Long Thành nhìn từ trên cao – Video: THUẬN VĂN
Ghi nhận của Tuổi Trẻ cho thấy bên trong sân bay Long Thành có hàng nghìn cán bộ, kỹ sư, công nhân đang tăng ca, tăng kíp, chạy đua với thời gian để đưa công trình trọng điểm quốc gia về đích theo kế hoạch.
Tại khu vực trung tâm nhà ga hành khách – “trái tim” của sân bay Long Thành, hệ trần nhôm áp mái lấy sáng đang dần hoàn thiện, tạo nên điểm nhấn kiến trúc độc đáo. Lấy cảm hứng từ nhụy hoa sen, hệ mái được thiết kế với những đường nét mềm mại, thanh thoát, gợi hình ảnh đóa sen đang bung nở.
ACV cho hay đã tổ chức các ca làm việc nối tiếp nhau với quyết tâm đưa dự án về đích đúng tiến độ theo chỉ đạo của Chính phủ.
Khi hoàn thành, sân bay Long Thành sẽ có công suất 100 triệu hành khách và 5 triệu tấn hàng hóa mỗi năm, trở thành cảng hàng không lớn nhất cả nước. Dự án được kỳ vọng là trung tâm trung chuyển hàng không của khu vực Đông Nam Á, từng bước nâng cao năng lực cạnh tranh với các sân bay quốc tế lớn trong khu vực và trên thế giới – Ảnh: THUẬN VĂN
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

Bộ Tư pháp vừa công bố tài liệu thẩm định dự thảo Nghị định quy định về tổ chức, hoạt động của thôn, tổ dân phố và chế độ, chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố.
Tại dự thảo, Bộ Nội vụ - cơ quan chủ trì soạn thảo đề xuất thôn, tổ dân phố được tổ chức tại xã, phường và đặc khu.
Trong đó, thôn được tổ chức ở xã, tổ dân phố được tổ chức ở phường; phân cấp cho UBND cấp tỉnh quyết định việc tổ chức loại hình thôn, tổ dân phố ở đặc khu để phù hợp với đặc điểm đô thị, nông thôn của từng đặc khu.
Về tiêu chí thành lập, dự thảo quy định cụ thể tiêu chí quy mô số hộ gia đình theo từng vùng, miền trên cơ sở rà soát quy định hiện hành, đánh giá mức độ tập trung dân cư và yêu cầu quản lý sau khi thực hiện sắp xếp đơn vị hành chính, tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp.
Theo đó, tại Hà Nội và TP.HCM, thôn có từ 500 hộ trở lên, tổ dân phố có từ 700 hộ trở lên; tại vùng trung du và miền núi phía bắc: thôn có từ 150 hộ trở lên, tổ dân phố có từ 300 hộ trở lên.
Tại vùng đồng bằng sông Hồng, thôn có từ 400 hộ trở lên, tổ dân phố có từ 550 hộ trở lên; tại vùng Bắc Trung bộ, thôn có từ 350 hộ trở lên, tổ dân phố có từ 450 hộ trở lên; tại vùng duyên hải Nam Trung bộ và Tây nguyên, thôn có từ 350 hộ trở lên, tổ dân phố có từ 500 hộ trở lên (riêng các tỉnh Gia Lai, Lâm Đồng và Đắk Lắk: thôn có từ 300 hộ trở lên, tổ dân phố có từ 450 hộ trở lên).
Tại vùng Đông Nam bộ: thôn có từ 400 hộ trở lên, tổ dân phố có từ 550 hộ trở lên; tại vùng đồng bằng sông Cửu Long, thôn có từ 400 hộ trở lên, tổ dân phố có từ 550 hộ trở lên.
Dự thảo còn quy định thôn, tổ dân phố phải có cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội thiết yếu phục vụ sinh hoạt cộng đồng; đồng thời giao UBND cấp tỉnh quy định quy mô của thôn, tổ dân phố phù hợp đối với các địa bàn biên giới, hải đảo, địa hình chia cắt phức tạp hoặc có yếu tố đặc thù khác.
Vẫn theo dự thảo, Bộ Nội vụ đề xuất quy định thống nhất người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố có 3 chức danh: bí thư chi bộ, trưởng thôn hoặc tổ trưởng tổ dân phố và trưởng ban công tác mặt trận.
Đồng thời, thực hiện điều chỉnh tăng mức khoán quỹ phụ cấp từ ngân sách nhà nước so với quy định hiện hành, bảo đảm phù hợp với quy mô thôn, tổ dân phố và khối lượng công việc sau sắp xếp (tăng từ mức 6,0 lần lên mức 8,0 lần mức lương cơ sở đối với thôn, tổ dân phố có yếu tố đặc thù; tăng từ 4,5 lần lên 6,5 lần mức lương cơ sở đối với các thôn, tổ dân phố còn lại).
Trên cơ sở mức khoán của ngân sách trung ương và khả năng cân đối của ngân sách địa phương, UBND cấp tỉnh trình HĐND cùng cấp quyết định mức phụ cấp cụ thể đối với từng chức danh, phụ cấp kiêm nhiệm và mức hỗ trợ đối với các chức danh khác ở thôn, tổ dân phố theo quy định của pháp luật có liên quan.
Về chế độ, chính sách, dự thảo tiếp tục quy định chế độ đào tạo, bồi dưỡng theo hướng bảo đảm đội ngũ này được nâng cao năng lực, kỹ năng thực hiện nhiệm vụ, nhất là kỹ năng ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số.
Đồng thời, bổ sung quy định quỹ khoán do ngân sách nhà nước bao gồm hỗ trợ đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế đối với người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố để bảo đảm chế độ, chính sách đối với đối tượng này theo quy định của luật Bảo hiểm xã hội hiện hành.
Tin Gốc: Thanh Niên
Thời Sự
Thời tiết hôm nay 8-7: Nắng nóng trở lại Trung Bộ, Nam Bộ và Bắc Bộ chiều tối mưa to
Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn quốc gia cho biết hôm nay 8-7, thời tiết Bắc Bộ mưa rào và dông vài nơi, từ chiều tối có nơi mưa to.
Thanh Hóa đến TP Huế ngày nắng, có nơi nắng nóng.
Các khu vực khác mưa rào và dông, riêng cao nguyên Trung Bộ và Nam Bộ chiều tối có nơi mưa to. Trong mưa dông khả năng có lốc, sét, mưa đá và gió giật mạnh.
Mưa dông kèm các hiện tượng lốc, sét, mưa đá và gió giật mạnh có thể ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp, làm gãy đổ cây cối, hư hại nhà cửa, các công trình giao thông, cơ sở hạ tầng.
Mưa lớn khả năng gây lũ quét trên các sông, suối nhỏ, sạt lở đất trên sườn dốc và tình trạng ngập úng tại các vùng trũng, thấp.
TP Hà Nội có mây, ngày nắng, chiều tối mưa rào, có nơi mưa to. Nhiệt độ thấp nhất 26-28 độ C, cao nhất 32-34 độ C.
Tây Bắc Bộ có mây, mưa rào, chiều tối và đêm có nơi mưa to. Nhiệt độ thấp nhất 24-27 độ C, cao nhất 31-34 độ C.
Đông Bắc Bộ có mây, mưa rào và dông, chiều tối có nơi mưa to. Nhiệt độ thấp nhất 25-28 độ C, cao nhất 31-34 độ C.
Thanh Hóa đến Huế có mây, ngày nắng, có nơi nắng nóng. Nhiệt độ thấp nhất 26-29 độ C, cao nhất 32-35 độ C.
Duyên hải Nam Trung Bộ có mây, ngày nắng, phía bắc có nơi nắng nóng. Nhiệt độ thấp nhất 25-28 độ C, cao nhất 31-34 độ C.
Cao nguyên Trung Bộ có mây, mưa rào và dông vài nơi, chiều tối có nơi mưa to. Nhiệt độ thấp nhất 20-23 độ C, cao nhất 26-29 độ C.
Nam Bộ có mây, mưa rào và dông, chiều tối có nơi mưa to. Nhiệt độ thấp nhất 25-28 độ C, cao nhất 30-33 độ C.
TP.HCM có mây, mưa rào và dông, chiều tối có nơi mưa to. Nhiệt độ thấp nhất 25-27 độ C, cao nhất 32-34 độ C.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

Xóm cắt lưới, phá dây thừng nằm sâu trong con đường nhỏ ngoằn ngoèo. Những người cắt lưới chọn vạt đất trống che bạt để hành nghề. Một nhóm người khác chọn sân nhà để ngồi phá dây thừng. Phần lớn họ từng là ngư dân lênh đênh ngoài khơi, nay "ngán" đi biển nên chọn nghề này, cùng một số phụ nữ địa phương. Tất cả đều miệt mài ngồi "giải phẫu" lưới và dây thừng để mưu sinh.
Trong túp lều dã chiến phủ tấm bạt nhựa che nắng, ông Cúc (tên thường gọi Tư Cúc) ngồi giữa những cuộn lưới chất ngổn ngang. Người đàn ông này thoăn thoắt đưa kéo cắt dọc theo biên lưới, tách phần dây và phần lưới ra thành 2 loại riêng biệt. "Lúc mới làm, tay phồng rộp hết, giờ quen rồi", ông vừa cười vừa giơ bàn tay chai sần để chứng minh.
Quê ở Lâm Đồng, ông Cúc vào Long Hải lập nghiệp với nghề đánh cá. Vài năm gần đây, ông rời ghe, vào bờ cắt lưới cho người chuyên thu gom lưới, dây thừng cũ về tái chế. "Đi biển giờ cũng khó kiếm ăn hơn trước, sóng gió mà cá cũng ít. Làm nghề cắt lưới nếu siêng năng cũng kiếm trên dưới chục triệu đồng mỗi tháng", ông nói, mắt vẫn không rời đường kéo.
Công việc cắt lưới tưởng đơn giản nhưng lại đòi hỏi sự kiên nhẫn và sức bền. Người thợ phải tỉ mỉ cắt từng đường sát mép lưới. Lưới sau khi cắt sẽ được những ông chủ bán cho người nuôi hàu, còn dây biên được gom lại bán riêng.
Trong khi đó, chị Hồng Chi đang ra sức kéo đống lưới lớn về lều rồi phăng từng mảng ra ngồi cắt. Tay chị di chuyển cây kéo rất nhanh, thành thạo dù sợi lưới không hề nhỏ. "Lưới cũ bỏ hầm bà lằng cả đống, mình phải kéo ra loại lưới cần cắt. Cắt xong thì phân loại lưới riêng, dây thừng riêng theo lớp lang. Việc này cũng mệt chứ không phải chơi. Mỗi ngày tôi cắt chừng 300 kg lưới", chị Chi cho biết.
Chị Chi làm nghề này đã 9 năm. Trước đó, chị làm đủ thứ việc lặt vặt. Chồng chị làm thợ hồ, thu nhập bấp bênh. Hai đứa con, một đã tốt nghiệp đại học, một đang học lớp 9 là động lực để chị bám trụ với công việc này. "Mình không có gì để lại cho con, chỉ mong con có cái chữ, nên phải ráng", chị nói, giọng chậm lại. Chị kể những ngày đầu dù có đeo găng, nhưng tay chị cũng bị phồng rộp; nhưng rồi qua thời gian, tay chai lại, động tác cũng thuần thục hơn. "Cái nghề này ai mới vô làm tay cũng phồng và mỏi", chị Chi chia sẻ.
Những người làm nghề thường ngồi thành từng nhóm nhỏ, mỗi người một góc. Không có tiếng nói chuyện rôm rả, chỉ có âm thanh của kéo cắt, của lưới sột soạt. Công việc lặp đi lặp lại, nhưng ai cũng chăm chú, bởi mỗi đường cắt là một phần thu nhập thêm của gia đình. "Lao động phổ thông ở vùng này mà kiếm được chục triệu một tháng là không dễ. Vậy mà làm ở đây, được chủ thương và trả công xứng đáng nên sống được", ông Tư Cúc tâm tình.
Anh Lê Văn Sị mới vào nghề vài ngày. Trước đây, anh đi biển thuê, thu nhập bấp bênh. "Giờ làm cái này gần nhà, có việc làm hoài, đỡ hơn", anh cho hay. Trông anh vẫn còn vụng về, những đường cắt chưa nhanh, nhưng thu nhập mỗi ngày cũng trên dưới 300.000 đồng. Giữa cái nắng miền biển, dưới những túp lều phủ bạt là những phận người mưu sinh. Đàn ông không còn đối mặt với biển khơi, phụ nữ ngồi một chỗ cũng có thể "cắt ra tiền" nên hầu như ai cũng vui.
Cách đó không xa, một nhóm đàn ông đang ngồi quanh những cuộn dây thừng to như bắp tay, bắp đùi người lớn. Những sợi dây thừng cũ, sậm màu, xơ xác bên ngoài, nhưng bên trong là những sợi nhỏ còn mới. Anh Nguyễn Văn Lý từng có hơn 20 năm đi biển ở địa phương này. Những năm tháng lênh đênh trên biển đã in hằn lên gương mặt rám nắng và đôi bàn tay thô ráp. Nhưng giờ, anh chọn ở lại bờ. "Đi biển tháng có tháng không. Giờ làm nghề này tuy thu nhập không cao đột biến nhưng ổn định", anh nhìn nhận.
Những người làm nghề phá dây thừng như anh Lý phải dùng chân ghì, tay kéo để tách từng dây nhỏ. Những cuộn dây thừng sau khi được "giải phẫu" sẽ được phân loại, bó lại thành từng lọn. Một số được bán trực tiếp, số khác còn tốt được bện thành dây thừng mới để bán cho ngư dân. Một vòng đời khép kín từ cũ thành mới, từ bỏ đi thành giá trị.
Bên cạnh anh Lý, anh Phạm Văn Tuấn (thường gọi là Lượm) cũng đang thoăn thoắt cuộn lại những sợi dây đã tách. "Tui nghỉ đi biển hơn chục năm rồi. Làm cái này đỡ sóng gió, ngồi trong mát, cũng có đồng ra đồng vô", anh cười hiền, đôi mắt ánh lên sự bình thản. Những đôi tay từng kéo lưới, buộc dây trên biển, giờ làm công việc tương tự nhưng trong một không gian khác ít sóng gió hơn, nhưng cũng kiếm được khoản tiền trang trải cuộc sống.
Một người thợ lớn tuổi dí dỏm: "Hồi xưa tụi tui làm ra lưới, giờ lại đi phá lưới". Câu nói nghe qua tưởng đùa, nhưng lại phản ánh một thực tế: khi nguồn lợi thủy sản giảm, khi chi phí ra khơi tăng cao, hoặc tuổi tác không còn cho phép, nhiều ngư dân buộc phải tìm hướng đi khác. Và nghề cắt lưới, phá dây thừng, dù "ngược đời" lại trở thành "cứu tinh" của một số người.
Chiều xuống, ánh nắng vàng đổ dài trên những cuộn lưới và dây thừng. Tiếng kéo cắt vẫn đều đặn như chưa từng có sự ngắt quãng. Những con người ở đây không nói nhiều về tương lai, họ chỉ lặng lẽ làm việc, từng chút một để mưu sinh. Ở làng biển Long Hải, không phải ai cũng còn ra khơi. Nhưng họ vẫn sống theo một cách khác âm thầm, bền bỉ và đầy nghị lực như thế.
Tin Gốc: Thanh Niên

