Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky ngày 15/7 thông báo miễn nhiệm Bộ trưởng Quốc phòng 35 tuổi Mykhailo Fedorov trong nỗ lực cải tổ sâu rộng chính phủ.
Đây là quyết định gây bất bình nhất mà Tổng thống Zelensky đưa ra trong hơn 4 năm chiến sự với Nga, bởi Fedorov được coi là gương mặt đại diên cho nỗ lực cải cách của quân đội Ukraine nhằm mang lại lợi thế trên chiến trường.
Fedorov được bổ nhiệm hồi tháng một, trở thành Bộ trưởng Quốc phòng trẻ nhất lịch sử Ukraine, và đã thúc đẩy chương trình máy bay không người lái (drone) toàn diện. Phó tư lệnh Không quân Ukraine Pavlo Elizarov đã nộp đơn xin từ chức để phản đối quyết định miễn nhiệm ông Fedorov.
Elizarov cho rằng động thái “thay tướng giữa dòng” như vậy sẽ gây ra nhiều tổn thất cho Ukraine ở tiền tuyến. Hàng nghìn người Ukraine cũng xuống đường biểu tình trên khắp cả nước hôm 16/7 để phản đối quyết định bãi nhiệm Bộ trưởng Fedorov.
Fedorov sau đó đã tiến hành động thái chưa từng có tiền lệ, tổ chức một cuộc họp báo tại Kiev để công khai chỉ trích Tổng tư lệnh quân đội, đại tướng Oleksandr Syrsky, người mà ông cho là phải chịu trách nhiệm về việc mình bị ép từ chức.
Fedorov cho biết tướng Syrsky đã liên tục cản trở mình thực hiện những cải tổ rất cần thiết trong quân đội. “Thay vì tìm cách đánh bại Nga bằng chiến thuật phi đối xứng, vốn là nhiệm vụ của một tổng tư lệnh, ông ấy lại tìm cách chia rẽ đất nước”, cựu bộ trưởng nói. “Với tình thế như vậy, tôi không biết làm thế nào để chiến thắng cuộc xung đột này”.
Ông thừa nhận từng đề xuất Tổng thống Zelensky thay thế cả Tổng tư lệnh Syrsky và Tổng tham mưu trưởng Andrii Hnatov, cho rằng đây là biện pháp để “Ukraine đánh bại Nga với tổn thất thấp nhất”.
Khi nhận thấy Tổng thống Zelensky muốn giữ hai tướng này, Fedorov nói rằng ông sẵn sàng tiếp tục hợp tác với họ. Tuy nhiên, ông cáo buộc Tổng tư lệnh Syrsky đã đưa ra tối hậu thư “hoặc Fedorov, hoặc tôi phải ra đi”.
Và Tổng thống Ukraine rõ ràng đã có quyết định của mình.
Tổng thống Zelensky được cho là đã mời Fedorov đảm nhận vai trò cố vấn sau khi rời ghế Bộ trưởng Quốc phòng, nhưng ông đã từ chối. Ông Zelensky sau đó điều động Yevhen Khmara, lãnh đạo Cơ quan An ninh Ukraine (SBU), giữ vị trí quyền Bộ trưởng Quốc phòng, động thái dường như nhằm xoa dịu dư luận Ukraine.
Tầm nhìn trái ngược
Phát biểu với báo giới, Tổng thống Zelensky cho biết cựu bộ trưởng Fedorov và Tổng tư lệnh Syrsky hầu như không thể ngồi chung một phòng. “Thực lòng, một tổng thống thời chiến không nên bị rơi vào thế phải lựa chọn như vậy”, ông nói.
Lesia Bidochko, giảng viên cao cấp tại Học viện Kiev-Mohyla, nhận định rạn nứt giữa hai người đã phơi bày bất đồng cơ bản trong quân đội Ukraine về cách thức tiếp tục nỗ lực đối đầu Nga.
“Với tư cách Tổng tư lệnh và là một đại tướng 4 sao, ông Syrsky nhìn nhận vấn đề dưới góc độ chỉ huy tác chiến và thực tế chiến trường, nơi các yêu cầu quân sự cấp bách, việc bổ sung quân số và hiệu quả chiến đấu được đặt lên hàng đầu”, bà nói.
“Về phần Fedorov, là một nhà quản lý giỏi và rất hiện đại, ông dường như coi các thách thức quân sự là những bài toán về tổ chức và quản trị, những vấn đề có thể được giải quyết bằng cách thay đổi cơ chế khuyến khích và đẩy nhanh tiến độ ra quyết định”, bà cho hay. “Ông ấy tập trung vào cải tổ mua sắm trang thiết bị, đổi mới trong lĩnh vực quốc phòng và số hóa quân đội”.
Với những người ủng hộ, cái tên Fedorov gắn liền với thành công của Ukraine trong việc ứng dụng công nghệ drone nhằm kìm chân lực lượng Nga.
Là đồng minh lâu năm của Tổng thống, từ thời ông Zelensky còn là một diễn viên hài nổi tiếng, Fedorov mới 28 tuổi khi đảm nhận vai trò chuyên gia quan hệ công chúng, dẫn dắt chiến dịch truyền thông năm 2019 giúp ông Zelensky đắc cử. Ngay sau khi nhậm chức, Tổng thống Zelensky đã bổ nhiệm ông làm Bộ trưởng Chuyển đổi số.
Trong thời gian điều hành Bộ này, Fedorov đã tiến hành cuộc cải tổ bộ máy hành chính của Ukraine bằng việc ra mắt ứng dụng điện thoại giúp người dân tiếp cận các dịch vụ công thiết yếu dễ dàng hơn. Ông cũng thúc đẩy việc mua sắm và sản xuất drone, đồng thời thiết lập mối quan hệ hợp tác chặt chẽ với các ông trùm công nghệ Mỹ.
Maria Engqvist, nhà phân tích kiêm giám đốc Chương trình Nghiên cứu Nga và Á-Âu thuộc Cơ quan Nghiên cứu Quốc phòng Thụy Điển, nhận định Fedorov đã nỗ lực mang tinh thần hiện đại hóa tương tự vào quân đội khi nhận ghế Bộ trưởng Quốc phòng.
“Việc Fedorov chuyển sang lĩnh vực quân sự ban đầu vấp phải một số chỉ trích, bởi tầm nhìn cải cách của ông phụ thuộc quá nhiều vào tác chiến drone và chiến tranh mạng nhằm đối phó tình trạng thiếu nhân lực”, Engqvist nói. Nhưng việc Fedorov chỉ tập trung vào khía cạnh kỹ thuật số không phải lúc nào cũng được lòng giới lãnh đạo quân sự Ukraine, bà lưu ý.
“Vấn đề là drone và những dòng mã không thể giành lại hay kiểm soát các vùng lãnh thổ trên thực địa, điều mà theo tôi hiểu vẫn là ưu tiên chiến lược của giới lãnh đạo Ukraine”, bà cho biết. “Việc này đòi hỏi cả nhân lực và khí tài, những thứ mà Ukraine đều đang thiếu”.
Tổng tư lệnh Syrsky lại là một hình mẫu hoàn toàn khác. Sinh ra tại Nga trước khi Liên Xô tan rã, ông từng tốt nghiệp Trường Chỉ huy Quân sự Cao cấp Moskva trước khi phục vụ trong Binh chủng Pháo binh Liên Xô.
Những người chỉ trích cáo buộc ông vẫn quá thiên về cấu trúc chỉ huy tập trung cao độ của thời kỳ đó và sẵn sàng đánh đổi sinh mạng binh lính để đạt được các mục tiêu chiến thuật.
Việc Syrsky chỉ huy chiến dịch phòng thủ đẫm máu kéo dài 9 tháng tại Bakhmut, nơi cả hai bên đều chịu tổn thất thảm khốc trước khi Ukraine buộc phải rút lui khỏi thành phố đổ nát này, đã khiến uy tín của ông bị giảm sút.
Dù vậy, ông vẫn đóng vai trò quyết định trong việc điều phối nỗ lực phòng thủ Kiev vào những ngày đầu Nga phát động chiến dịch tấn công Ukraine năm 2022, cũng như đẩy lùi lực lượng Moskva khỏi phần lớn tỉnh Kharkov cuối năm đó.
Bidochko cho rằng Fedorov cũng là một gương mặt gây ra ít nhiều tranh cãi trong nội bộ quân đội.
“Trong quân đội, các luồng ý kiến cũng rất trái chiều”, bà nói. “Những đơn vị mong muốn đổi mới hoan nghênh việc mua sắm trang thiết bị nhanh chóng hơn và chú trọng hơn vào công nghệ, nhưng một số đơn vị khác vẫn hoài nghi về những phương pháp mà họ cho là đã xem nhẹ thực tế của việc chỉ huy nơi tiền tuyến và vấn đề nhân lực”.
Khi được bổ nhiệm, Fedorov đã trở thành bộ trưởng quốc phòng đầu tiên công khai cuộc khủng hoảng đào ngũ của Ukraine. Ông thông báo rằng có đến hơn 200.000 người đã tự ý rời bỏ đơn vị. Hai triệu nam giới khác được cho là đang trốn nghĩa vụ quân sự.
Hồi tháng 6, Fedorov công bố các cải cách tuyển quân được mong đợi từ lâu, hứa hẹn tăng lương, ký hợp đồng có thời hạn và tuyển dụng quyết liệt hơn binh sĩ nước ngoài để bổ sung vào hàng ngũ.
Tuy nhiên, ông Zelensky được cho là đã nói với các nghị sĩ thuộc đảng của mình rằng những cải cách Fedorov đưa ra mang tính hình thức nhiều hơn là thực chất.
“Fedorov chỉ tạo ra vỏ bọc cải cách bằng những slide thuyết trình”, Politico dẫn lời một nghị sĩ giấu tên thuộc đảng cầm quyền Ukraine nói.
Nhưng Engqvist tin rằng nhân lực không phải một vấn đề có thể được giải quyết chỉ sau vài tháng. “Bất kỳ bộ trưởng quốc phòng Ukraine nào được giao giải quyết nhiệm vụ này sớm muộn gì cũng sẽ vấp phải bức tường đá vì đây là vấn đề có tính chất nhạy cảm chính trị”, bà nói.
Tuy nhiên, đối với Bidochko, để huy động nam giới ra tiền tuyến chiến đấu, chỉ những lời hứa hẹn thay đổi là không đủ.
“Fedorov cho rằng quân đội phải tiến bộ hơn về công nghệ và chuyên nghiệp hơn để thu hút người dân tự nguyện nhập ngũ. Điều đó nghe hợp lý nhưng cách tiếp cận này vẫn có giới hạn. Dù quân đội được tổ chức tốt đến đâu cũng không thể giải quyết được mâu thuẫn cốt lõi của một cuộc chiến khốc liệt. Ukraine vẫn cần rất nhiều người sẵn sàng chiến đấu”, bà nói. “Công nghệ có thể giảm bớt thương vong, tăng hiệu quả, nhưng không thể thay thế hoàn toàn bộ binh, công binh hay các đơn vị hậu cần”.
Sau cùng, theo bà, lập luận này dựa trên một lựa chọn mang tính khiên cưỡng, đó là liệu con người hay máy móc sẽ phải gánh vác gánh nặng của một cuộc chiến tiêu hao khốc liệt.
“Cuộc tranh luận về động viên quân phản ánh hai góc nhìn trái ngược về cuộc xung đột”, bà nhận xét. “Một bên chú trọng tăng cường quân số, bên còn lại muốn giảm phụ thuộc vào sức người bằng công nghệ, drone, tự động hóa và quản lý nguồn lực tốt hơn. Nhưng thực tế, Ukraine cần cả hai”.
Binh sĩ Denys - không phải tên thật - đã tham gia các chiến dịch tấn công tầm xa từ năm 2025. Bạn bè và ngay cả cha mẹ anh cũng không biết công việc thật sự của anh, do các quy định bảo mật cực kỳ nghiêm ngặt trong đơn vị.
"Đừng thu hút sự chú ý, đừng khoe khoang. Bạn sẽ không bao giờ có thể kể về những gì mình đã làm, ngay cả sau xung đột", anh Denys nói với AFP trong một cuộc phỏng vấn ngày 1.7.
Từng là lính thủy đánh bộ, anh Denys hiện phục vụ tại Trung tâm số 1 thuộc lực lượng máy bay không người lái (UAV) của Ukraine. Đơn vị này được cho là đứng sau nhiều cuộc tập kích lớn vào Nga, trong đó có vụ tấn công hồi tháng 6 nhằm vào một nhà máy lọc dầu gần Moscow và các đòn đánh vào Saint Petersburg khi thành phố này chuẩn bị khai mạc một hội nghị quốc tế lớn.
Ukraine cho rằng các cuộc tấn công như vậy là hành động đáp trả chính đáng trước những đợt oanh kích ban đêm của Nga nhằm vào các thành phố Ukraine. Các mục tiêu thường là kho nhiên liệu và nhà máy lọc dầu, trong nỗ lực làm suy giảm nguồn thu năng lượng phục vụ chiến dịch quân sự của Nga.
Theo anh Denys, chính mức độ nhạy cảm của nhiệm vụ buộc họ phải sống trong bí mật gần như tuyệt đối. "Chúng tôi là mục tiêu có giá trị rất cao và là ưu tiên hàng đầu của đối phương", anh nói.
Tên, tuổi và thân phận của các thành viên trong đơn vị đều được giữ kín. Họ không được chụp ảnh hay quay phim nếu không che mặt. Theo AFP, các phóng viên phải tuân thủ quy trình an ninh nghiêm ngặt mới được tiếp cận một trong những địa điểm phóng UAV từng được sử dụng cho các cuộc tấn công tầm xa hồi đầu năm nay.
"Chúng tôi hiểu rất rõ cái giá mà bản thân và người thân có thể phải trả. Vì vậy, quyết định quan trọng nhất là cố gắng ẩn mình nhiều nhất có thể", một binh sĩ có biệt danh Voron nói.
Ông Voron cho biết Nga sẽ làm mọi cách để truy tìm ít nhất một trong các nhóm tấn công tầm xa của Ukraine. Trước khi gia nhập đơn vị hiện tại, ông Voron từng làm ở một tổ chức có nhiệm vụ tìm kiếm và tấn công các đội UAV tầm xa của Nga.
Trước xung đột, ông Voron là họa sĩ và huấn luyện viên võ thuật. Ông đã kết hôn và có con. Ông nghĩ vợ mình "có lẽ nghi ngờ" công việc thật sự của ông, nhưng "bà ấy không hỏi gì".
Trên mạng xã hội, ông Voron vẫn đăng bài trên trang đơn vị cũ và chia sẻ hình ảnh có phù hiệu của lực lượng đó, nhằm khiến người quen tin rằng ông vẫn đang phục vụ ở nơi cũ. "Tất cả người thân và bạn bè tôi đều nghĩ tôi vẫn đang ở lực lượng đặc nhiệm", anh nói.
"Trong đời thường, các bạn sẽ không nhận ra chúng tôi", một sĩ quan tình báo quân sự Ukraine có mật danh Wolf nói với AFP. Theo ông, các thành viên đơn vị luôn cố giữ vẻ ngoài bình thường để hòa vào đời sống xung quanh.
"Mọi người thường hình dung chúng tôi như lính biệt kích mặc đồ ngụy trang, nhưng thực tế chúng tôi thường mặc áo sơ mi và quần jean", ông Voron nói.
Kỷ luật bảo mật được áp dụng trong từng chi tiết. Khi ở nơi công cộng, họ không được nói về nhiệm vụ. Thậm chí, những từ có thể gợi đến hoạt động tác chiến cũng bị tránh dùng. Việc liên lạc, di chuyển và sử dụng thiết bị cá nhân đều phải tuân theo quy định riêng. Nếu có nghi ngờ rò rỉ thông tin, các biện pháp kiểm tra nội bộ sẽ được áp dụng.
Các cuộc tập kích của Ukraine đã gây gián đoạn tại nhiều cơ sở nhiên liệu của Nga. Theo binh sĩ Denys, khi chiến dịch được mở rộng, hạn chế lớn nhất của đơn vị không phải là thiếu UAV mà là "thời gian trong một ngày".
Loạt quốc gia vùng Vịnh hôm 8/4 trải qua đêm bình yên đầu tiên kể từ khi chiến sự Trung Đông bùng phát ngày 28/2. Các nước trong khu vực như Bahrain, Các tiểu vương quốc Arab Thống nhất (UAE), Arab Saudi, Qatar, Kuwait hay Oman đều không ghi nhận bất cứ cuộc tấn công nào bằng tên lửa và máy bay không người lái (UAV) từ Iran, sau khi lệnh ngừng bắn hai tuần giữa Mỹ và Iran được công bố.
Người dân Tehran cũng đổ xuống đường vẫy cờ và hô khẩu hiệu ăn mừng sau khi lệnh ngừng bắn được công bố. Thủ đô Iran mang không khí như kỳ nghỉ lễ khi tiếng bom đạn đã ngừng. Nhiều cửa hàng đóng cửa, trong khi các quán cà phê ngoài trời ở những khu phố cao cấp lại chật kín khách. Các trạm kiểm soát do lực lượng vũ trang canh gác, từng xuất hiện dày đặc khắp thành phố những tuần gần đây, cũng không còn.
Tuy nhiên, nỗi thấp thỏm chưa phải đã đi qua. Hội đồng An ninh Quốc gia Tối cao Iran tuyên bố lệnh ngừng bắn không đồng nghĩa với việc chiến sự đã chấm dứt. "Chúng tôi vẫn luôn trong trạng thái sẵn sàng chiến đấu. Chỉ cần đối phương mắc sai lầm dù là nhỏ nhất, họ sẽ phải đối mặt với toàn bộ sức mạnh đáp trả của chúng tôi", hội đồng cho biết.
Chính phủ Iran cho rằng lệnh ngừng bắn là một chiến thắng, khi họ đã khiến Mỹ phải "đầu hàng". Trong khi đó, chính quyền Tổng thống Donald Trump cũng mô tả thỏa thuận tạm ngừng giao tranh này là một chiến thắng vì các mục tiêu quân sự cốt lõi đã hoàn thành.
Nhưng Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Pete Hegseth tuyên bố lực lượng quân sự đã được triển khai đến Trung Đông sẽ "giữ nguyên vị trí, luôn sẵn sàng, cảnh giác và chuẩn bị tái khởi động chiến dịch bất cứ lúc nào", cho thấy nguy cơ với khu vực chưa qua đi.
Điểm mấu chốt trong thỏa thuận ngừng bắn là việc khai thông eo biển Hormuz chưa rõ ràng. Trong khi ông Trump tuyên bố Iran đã đồng ý "mở cửa hoàn toàn, lập tức và an toàn Hormuz", Ngoại trưởng Iran Abbas Araghchi lại nói việc đi qua eo biển sẽ do lực lượng vũ trang nước này điều phối. Tehran đã thu phí tàu bè băng qua eo biển kể từ khi cuộc chiến nổ ra, hành động mà họ đang tìm cách duy trì lâu dài để lấy kinh phí tái thiết sau xung đột.
Iran đã nhất trí mở lại eo biển, nhưng hoạt động vận chuyển dầu qua tuyến hàng hải quan trọng này vẫn gần như bị đình trệ do thiếu sự hướng dẫn rõ ràng từ Tehran, theo CNN. Chỉ có 10 tàu đi qua eo biển Hormuz kể từ khi lệnh ngừng bắn có hiệu lực, theo thống kê của AFP.
Các bên trung gian và môi giới hàng hải nói rằng Iran yêu cầu tàu hàng phải thỏa thuận trước về phí quá cảnh, sau đó thanh toán bằng tiền điện tử hoặc đồng nhân dân tệ. Mức phí phụ thuộc vào kích thước tàu, bao gồm phí quá cảnh cơ bản, hộ tống an ninh và xử lý hành chính.
Theo Mohammed Baharoon, tổng giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Chính sách Công B'huth Dubai, tổ chức tư vấn tại UAE, Vệ binh Cách mạng Hồi giáo Iran (IRGC) đã chịu tổn thất nặng nề sau hơn 5 tuần xung đột, nhưng lực lượng này đang nắm trong tay "lá bài tẩy" là quyền kiểm soát eo biển Hormuz, vốn được quy định trong thỏa thuận ngừng bắn.
Tổng thống Trump ngày 9/4 cảnh báo Iran không thu phí tàu di chuyển qua eo biển Hormuz, chỉ trích Tehran đang điều hành "rất tệ". Tuy nhiên, Baharoon cho rằng lời đe dọa như vậy sẽ không thể khiến IRGC chùn bước.
Dữ liệu theo dõi tàu thuyền ngày 8/4 cho thấy chỉ có một lượng rất ít tàu di chuyển qua hành lang mà Iran thiết lập hồi tháng trước trong vùng lãnh hải của mình và không có dấu hiệu khôi phục lưu thông bình thường qua tuyến hàng hải thông thường vốn đi qua vùng biển Oman.
"Kết quả thực sự cho vấn đề này sẽ ngã ngũ sau cuộc đàm phán tại Islamabad. Nếu Iran rời bàn đàm phán mà vẫn giữ được bất kỳ hình thức kiểm soát nào đối với eo biển Hormuz, đó là một chiến thắng tuyệt đối cho họ", Nadim Koteich, nhà phân tích kiêm cố vấn chính trị UAE, cho hay.
"Nếu thế giới thành công trong việc tước bỏ khả năng vũ khí hóa eo biển Hormuz của Iran, giống như cách họ từng bị tước bỏ khả năng vũ khí hóa uranium, thì cuộc chiến này, dù cái giá phải trả lớn đến mức nào, vẫn là một thất bại chiến lược đối với Cộng hòa Hồi giáo", Koteich nói thêm.
Theo Bader al-Saif, giáo sư lịch sử tại Đại học Kuwait, việc biến eo biển Hormuz thành vấn đề then chốt của cuộc chiến đã là một thành công lớn đối với Iran.
"Mọi chuyện bắt đầu từ vấn đề hạt nhân, nhưng Iran đã biến nó thành chuyện ở eo biển Hormuz", ông nói. "Vì vậy, thay vì tập trung vào vấn đề cốt lõi, một vấn đề phụ giờ đây lại trở thành trọng tâm. Tuy nhiên, những vấn đề cốt lõi đó vẫn hiện hữu và cần phải được giải quyết dứt điểm".
Chuyên gia Baharoon cho rằng Iran là bên duy nhất hài lòng với kết quả này, trong khi các đồng minh của Mỹ ở vùng Vịnh vẫn sẽ phải hứng chịu hậu quả nặng nề về kinh tế nếu Tehran tiếp tục hạn chế dòng chảy dầu khí qua eo biển Hormuz.
"Giờ đây, họ đã tái lập vị thế giống như một cảnh sát vùng Vịnh", Baharoon nhận định. "Chúng ta thức dậy với một thỏa thuận không giảm bớt rủi ro, mà trái lại, còn khiến ta đối mặt nguy cơ lớn hơn".
Tương lai khu vực
Ngoài ra, lệnh ngừng bắn hai tuần không đồng nghĩa với việc chấm dứt hoàn toàn tiếng súng. Phái đoàn Mỹ và Iran nhiều khả năng sẽ gặp trực tiếp ở Islamabad, Pakistan, vào cuối tuần này để thảo luận về thỏa thuận ngừng bắn lâu dài, nhưng chưa có gì đảm bảo nỗ lực này sẽ thành công.
"Điều quan trọng là cần nhìn nhận vấn đề một cách khách quan. Đây chỉ là lệnh ngừng bắn tạm thời trong hai tuần, không phải một thỏa thuận", Hamad Althunayyan, chuyên gia phân tích chính trị kiêm giáo sư tại Đại học Kuwait, cho hay. "Thời hạn này có thể được gia hạn nhưng xung đột cũng có thể tái diễn nếu vòng đàm phán đầu tiên không thành công".
Việc ông Trump chuyển từ lời đe dọa "hủy diệt cả một nền văn minh" vào 7/4 đến chấp nhận ngừng bắn với Iran một ngày sau khiến nhiều quốc gia vùng Vịnh hoài nghi về việc liệu Washington sẽ quyết tâm đến mức nào để vừa hoàn thành các mục tiêu đề ra, vừa bảo vệ các đồng minh khu vực, Mahdi Ghuloom, nhà nghiên cứu người Bahrain tại tổ chức tư vấn ORF Trung Đông, nhận định.
"Tổng thống Trump đã quyết định thỏa hiệp và với hành động đó, ông ấy rõ ràng đang gạt các đồng minh của mình tại vùng Vịnh sang một bên", Ghuloom nói.
Theo Wall Street Journal, chắc chắn không quốc gia vùng Vịnh nào ủng hộ việc Trump đe dọa phá hủy hạ tầng năng lượng và oanh tạc khiến Iran "trở lại thời kỳ đồ đá", bởi họ mới là bên có thể phải hứng chịu hậu quả từ đòn trả đũa của Tehran. Hôm 8/4, cảm giác nhẹ nhõm có thể thấy rõ tại Dubai, Doha và Kuwait khi họ tránh được nguy cơ các nhà máy điện và cơ sở khử mặn của mình bị Iran tấn công.
"Mỹ và Israel phát động chiến dịch tấn công mà không tính đến lợi ích của các nước vùng Vịnh, biến chúng tôi thành những bên chịu tổn thương gián tiếp", al-Saif cho biết thêm. "Nỗi lo sợ hiện nay là tình trạng này sẽ kéo dài sang cả thời bình và đây là điều chúng tôi không thể chấp nhận và sẽ đấu tranh để ngăn chặn".
Giới lãnh đạo vùng Vịnh đến nay chưa công khai chỉ trích quyết định ngừng bắn của Tổng thống Trump. Arab Saudi đã ra tuyên bố nói rằng quyền tự do hàng hải tại eo biển Hormuz phải được đảm bảo mà không kèm theo bất kỳ hạn chế nào.
Anwar Gargash, cố vấn ngoại giao của Tổng thống UAE, đã ca ngợi lệnh ngừng bắn là một chiến thắng đối với nước này, nơi phải hứng chịu phần lớn các cuộc tấn công từ Iran trong 5 tuần qua.
"UAE đã giành thắng lợi trong một cuộc chiến mà chúng tôi đã tìm mọi cách né tránh. Chúng tôi đã vượt qua nhờ nỗ lực phòng thủ kiên định, giúp bảo vệ chủ quyền, phẩm giá và những thành tựu của đất nước", ông tuyên bố.
Thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu cho biết ông đã phối hợp với Tổng thống Trump, người mà theo ông đã khẳng định rằng sẽ đảm bảo Iran không còn là mối đe dọa về hạt nhân, tên lửa hay khủng bố đối với Mỹ, Israel, vùng Vịnh cũng như toàn bộ thế giới. Trong khi đó, lãnh đạo phe đối lập Israel Yair Lapid lại tỏ ra ít lạc quan hơn.
"Chưa bao giờ có một thảm họa chính trị nào lớn như vậy trong lịch sử của chúng ta", ông nói. "Israel thậm chí còn không có ghế trong bàn đàm phán khi các quyết định liên quan đến lợi ích an ninh quốc gia cốt lõi được đưa ra thảo luận".
Theo Ali Shihabi, chuyên gia phân tích tại Arab Saudi, cuộc xung đột đã khiến Iran "suy yếu trầm trọng và họ sẽ cần rất nhiều nỗ lực cũng như thời gian để tái thiết đất nước".
Song 5 tuần qua, Tehran cũng đã cho thấy năng lực của họ trong việc tung ra các đòn trả đũa nhắm vào loạt mục tiêu khắp vùng Vịnh, gây tổn thất cho nền kinh tế khu vực, Nikolay Kozhanov, chuyên gia về Iran tại Đại học Qatar, nhận định.
"Các quốc gia còn lại ở vùng Vịnh hiện rơi vào thế không còn lựa chọn nào khác ngoài việc phải tìm cách thỏa thuận với Iran", Kozhanov nói.
Theo thông báo được đưa ra: "Việc khôi phục tên gọi USPACOM nhằm tôn vinh nguồn gốc lịch sử sâu sắc của bộ tư lệnh này". Và thông báo cũng khẳng định khu vực hoạt động của USPACOM vẫn như USINDOPACOM là trải dài từ vùng biển ngoài khơi bờ Tây của Mỹ đến biên giới phía tây của Ấn Độ, với cam kết vững chắc trong việc duy trì khu vực tự do và cởi mở cùng với các đồng minh và đối tác trong khu vực như trước.
Được thành lập từ năm 1947, bộ tư lệnh trên mang tên USPACOM (còn gọi là PACOM) cho đến năm 2018 thì được đổi tên thành USINDOPACOM (còn gọi là INDOPACOM) để phản ánh chiến lược Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương (Indo-Pacific) dưới thời Tổng thống Mỹ Donald Trump nhiệm kỳ 1. Chính vì thế, việc giờ đây Mỹ khôi phục lại tên PACOM được đánh giá là sự thay đổi quan điểm của Tổng thống Trump trong nhiệm kỳ thứ 2.
Trả lời Thanh Niên ngày 20.6, cựu đại tá Carl O.Schuster (cựu Giám đốc bộ phận điều hành của Trung tâm tình báo hỗn hợp - Bộ Tư lệnh Thái Bình Dương của hải quân Mỹ) chỉ ra: "Việc "hồi sinh" PACOM phản ánh mối quan ngại và sự tập trung ngày càng tăng của Mỹ đối với Trung Quốc. Thực tế, INDOPACOM không hoạt động trên toàn bộ Ấn Độ Dương, mà chỉ phụ trách khu vực Ấn Độ Dương phía tây và tây bắc Sri Lanka. Trong khi đó, tên gọi INDOPACOM có thể được hiểu là hoạt động trên toàn bộ Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương, nên điều này không còn đúng".
"PACOM chịu trách nhiệm về quan hệ quân sự với Ấn Độ và Sri Lanka cũng như các quốc gia phía đông của 2 nước này. Nhưng hoạt động trên biển của PACOM lại kết thúc ở phía tây và tây bắc Sri Lanka. Vùng biển đó thuộc quyền quản lý của Bộ Tư lệnh Trung tâm Mỹ (CENTCOM)", cựu đại tá Schuster giải thích thêm.
GS Stephen Robert Nagy (ĐH Cơ Đốc giáo quốc tế - Nhật Bản, học giả tại Viện Nghiên cứu các vấn đề quốc tế của Nhật) thì nhận định: "Tôi nghĩ việc đổi tên INDOPACOM trở lại thành PACOM phản ánh trọng tâm chính của bộ tư lệnh này là phòng thủ ở khu vực Thái Bình Dương. Washington dưới thời Tổng thống Trump hiện nay dường như cho rằng Ấn Độ và các nước khác trong khu vực nên tự lo cho an ninh của mình nhiều hơn là trông chờ Mỹ gánh vác trách nhiệm phòng thủ các tuyến đường biển giao thông xuyên qua Indo-Pacific".
"Xu hướng chung của chính quyền Mỹ dưới thời Tổng thống Trump nhiệm kỳ 2 là các đồng minh và đối tác như Ấn Độ phải gánh vác trách nhiệm lớn hơn về an ninh và ổn định trong khu vực, bởi Nhà Trắng đang có quan điểm chỉ hợp tác với các quốc gia sẵn sàng hy sinh nguồn lực, nếu đồng minh hay đối tác nào không sẵn sàng tự vệ và không ủng hộ Mỹ khi xảy ra khủng hoảng hay xung đột, thì tại sao Mỹ lại phải bảo vệ các đồng minh hay đối tác này?
Việc thiếu sự hợp tác giữa các đồng minh và đối tác với Mỹ để đối phó với Iran và ổn định eo biển Hormuz, hoặc thực sự tăng cường bảo vệ Ukraine trong cuộc xung đột với Nga, đã củng cố quan điểm trên và được phản ánh trong việc đổi tên. Nói một cách đơn giản, các đồng minh và bạn bè cần phải tự lo cho bản thân nhiều hơn, nếu không Washington sẽ tiếp tục chuyển đổi các thể chế quốc phòng và chính sách đối ngoại theo lợi ích của Mỹ chứ không phải lợi ích của các đồng minh và đối tác", GS Nagy phân tích thêm.
Trong khi đó, TS Satoru Nagao (Viện nghiên cứu Hudson, Mỹ) cho rằng việc Washington "hồi sinh" PACOM là một động thái quan trọng vì ba lý do sau.
"Thứ nhất, INDOPACOM có liên quan Indo-Pacific, nên việc loại bỏ từ "INDO" khỏi INDOPACOM có nghĩa là Mỹ muốn hạ thấp tầm quan trọng của khu vực này", TS Nagao phân tích.
Thứ hai, theo ông, việc hạ thấp tầm quan trọng của Indo-Pacific đồng nghĩa với việc Mỹ đang hạ thấp lợi ích của Ấn Độ. Khái niệm Indo-Pacific xuất phát từ bài phát biểu của cố Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe tại Quốc hội Ấn Độ hồi năm 2007. Mang chủ đề "Sự giao thoa của hai vùng biển", bài phát biểu này cũng đề cập sự hợp tác với Mỹ và Úc. Nhóm "Bộ tứ" (gồm Mỹ - Nhật Bản - Úc - Ấn Độ) cũng xuất phát từ bài phát biểu này. Đến năm 2012, ông Abe đã giải thích ý tưởng này trong bài viết "Kim cương an ninh dân chủ của châu Á".
Để đối phó với Trung Quốc, "Bộ tứ" cần sự hợp tác. Khái niệm Indo-Pacific và "Bộ tứ" chỉ hình thành khi nhóm tập trung vào Ấn Độ. Sinh thời, Thủ tướng Abe có quan hệ tốt với cả Tổng thống Trump lẫn Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi, nên ông Abe đã thuyết phục hai nhà lãnh đạo còn lại về Indo-Pacific và "Bộ tứ" không chỉ dành cho Nhật Bản mà còn cho cả Mỹ và Ấn Độ. Kết quả là vào năm 2018, Mỹ đã đổi tên PACOM thành INDOPACOM.
"Nhưng thực tế là Mỹ chưa làm được nhiều ở Ấn Độ Dương. Kế hoạch thành lập hạm đội 1 phụ trách Ấn Độ Dương vẫn chưa được thực hiện. Và Ấn Độ đã do dự trong việc biến "Bộ tứ" thành một liên minh. Mỹ đã thất vọng trước sự do dự của Ấn Độ", TS Nagao đánh giá và cho rằng đó là lý do chữ "INDO" mất đi trong tên của bộ tư lệnh trên.
Thứ ba, theo vị chuyên gia, Ấn Độ không phải là quốc gia duy nhất bị Mỹ hạ thấp tầm quan trọng. Gần đây, thái độ của Mỹ đối với NATO là một ví dụ điển hình. Phát biểu trong Đối thoại Shangri-La vừa qua tại Singapore, Bộ trưởng Chiến tranh Mỹ Peter Hegseth cho biết: "Chúng tôi yêu cầu các đồng minh và đối tác tăng ngân sách quốc phòng lên mức 3,5% GDP, chúng tôi đang vượt xa con số đó. Nhưng đối với những ai tin rằng họ có thể tiếp tục hưởng lợi từ sự hào phóng của người đóng thuế Mỹ, hãy nghe chúng tôi nói. Những ngày đó đã qua rồi". Đối chiếu với thông điệp này, Mỹ đang "hạ bậc" mức quan hệ hợp tác với Ấn Độ và châu Âu.
Chính vì thế, việc đổi tên INDOPACOM thành PACOM thực sự là một thông điệp quan trọng trong chính sách quốc phòng của Mỹ.