TS Hà Anh Đức, Cục trưởng Cục Quản lý khám, chữa bệnh, Bộ Y tế, cho biết, Bộ Y tế đang hoàn thiện, sớm ban hành đề án Phát triển hệ thống cấp cứu ngoại viện giai đoạn 2026 – 2030 và tầm nhìn đến năm 2035, với mục tiêu 100% tỉnh, thành kiện toàn mạng lưới cấp cứu ngoại viện theo chuẩn quốc gia.
“Theo đề án, các cơ sở y tế tham gia cấp cứu ngoại viện; Bộ Y tế phối hợp Bộ Tài chính xây dựng giá cấp cứu ngoại viện và thanh toán chi phí cấp cứu từ quỹ bảo hiểm y tế.
Bộ Công an triển khai sử dụng tổng đài một đầu số duy nhất, vận hành trung tâm tiếp nhận và xử lý thông tin khẩn nguy cấp tỉnh; phối hợp Bộ Y tế và các bộ, ngành xây dựng cơ chế điều phối liên ngành; các quy định về miễn trừ trách nhiệm cho người tham gia cấp cứu tại hiện trường…”.
Ông Đức cho biết tại hội thảo xin ý kiến về đề án Phát triển hệ thống cấp cứu ngoại viện giai đoạn 2026 – 2030 được Bộ Y tế tổ chức ngày 17.4.
Theo ông Đức, hệ thống cấp cứu sẽ ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong tiếp nhận, điều phối và quản lý hoạt động cấp cứu ngoại viện. Trong năm 2026 sẽ triển khai nền tảng quản lý hệ thống cấp cứu ngoại viện toàn quốc, kết nối các cơ sở cấp cứu ngoại viện tại T.Ư và địa phương, công lập và ngoài công lập.
Đồng thời tăng cường phối hợp liên ngành trong cấp cứu ngoại viện, trong đó lực lượng y tế – phòng, cháy chữa cháy, cứu hộ cứu nạn, Bộ Công an đóng vai trò nòng cốt; 100% tỉnh, thành có nội dung phối hợp liên ngành y tế – công an về triển khai cấp cứu ngoại viện.
Tại hội thảo, theo đại diện Bộ Công an, dự kiến, khi hoàn thiện hệ thống, các xe cứu thương sẽ gắn định vị và kết nối với hệ thống giao thông thông minh, để đảm bảo đơn vị điều phối kết nối nhanh nhất với xe cứu thương tiếp nhận người bệnh; và trường hợp có ùn tắc giao thông, hệ thống giao thông thông minh sẽ mở làn xanh hỗ trợ vận chuyển cấp cứu được thông suốt, rút ngắn thời gian người bệnh được đến đơn vị tiếp nhận, tăng cơ hội được cấp cứu, điều trị, cứu sống.
Theo Bộ Y tế, tại Việt Nam, các tổng đài tiếp nhận và điều phối thông tin cấp cứu ngoại viện tiếp nhận gần 1 triệu cuộc gọi mỗi năm, trong đó có khoảng 10 – 20% số cuộc gọi được xác định có nhu cầu cấp cứu; 91% số cuộc gọi cấp cứu được đáp ứng kịp thời. Tỷ lệ cứu sống người bệnh tăng lên, đặc biệt trong các tình huống nguy kịch như ngừng tuần hoàn, tai nạn giao thông, thảm họa, thiên tai.
Hiện chưa có sự điều phối tổng thể về hệ thống cấp cứu ngoại viện trên toàn quốc; việc điều phối triển khai hoạt động rời rạc, phân mảnh theo từng ngành (y tế, công an, phòng cháy chữa cháy…), từng địa phương. Hệ thống cấp cứu ngoại viện mới chỉ đáp ứng được dưới 10% nhu cầu cấp thiết (đột quỵ, tai nạn).
Thời gian phản ứng trung bình cấp cứu ngoại viện trong khoảng 10 đến trước 20 phút; 15% người bệnh được đội cấp cứu tiếp cận từ 20 – 60 phút, cao hơn nhiều so với tiêu chuẩn quốc tế là không quá 8 phút (ở đô thị), tối đa không quá 15 phút (nông thôn), trong khi các tình huống thường gặp nhất khi cấp cứu ngoại viện là đột quỵ, suy hô hấp, và chấn thương do tai nạn giao thông, là các cấp cứu y tế nguy hiểm, có thể gây tử vong hoặc di chứng nặng nề, đòi hỏi xử lý nhanh chóng.
PGS.TS Nguyễn Huy Thắng - Trưởng khoa bệnh lý mạch máu não Bệnh viện Nhân dân 115 - cho biết tình trạng nắng nóng kéo dài và gay gắt có thể làm gia tăng nguy cơ đột quỵ trong cộng đồng.
Hiện khoa đang điều trị khoảng 200 bệnh nhân đột quỵ, phần lớn trong độ tuổi từ 50 đến 70. Tuy nhiên đáng chú ý là ngày càng xuất hiện nhiều ca bệnh ở người trẻ, thậm chí mới ngoài 30 tuổi.
Theo ông Thắng, thời tiết nóng ẩm khiến cơ thể mất nước nhanh chóng. Khi cơ thể thiếu nước, máu trở nên cô đặc hơn, làm tăng nguy cơ hình thành huyết khối trong lòng mạch, đặc biệt là hệ tĩnh mạch. Nguy cơ này càng cao nếu con người phải tiếp xúc trực tiếp với ánh nắng trong thời gian dài, hoặc khi thân nhiệt tăng cao vượt ngưỡng 40 độ C.
Không chỉ thời tiết nóng, trời lạnh giá cũng có thể gây tác động tương tự. Khi trời lạnh, nhiều người có xu hướng uống ít nước hơn, dẫn đến tình trạng mất nước tiềm ẩn. Đồng thời sự thay đổi nhiệt độ đột ngột nóng hay lạnh đều có thể ảnh hưởng đến sự co giãn của hệ mạch máu, làm tăng huyết áp và gia tăng gánh nặng cho tim.
Điều này đặc biệt nguy hiểm đối với người lớn tuổi hoặc những người có bệnh nền như tăng huyết áp nhưng chưa được kiểm soát tốt.
Các nghiên cứu quốc tế gần đây cũng đã chỉ ra mối liên hệ giữa thời tiết và nguy cơ đột quỵ. Tại hội nghị của Hội Tim mạch châu Âu năm 2022, một nghiên cứu tại Nhật Bản trên 3.367 người từ 65 tuổi trở lên ở thành phố Okayama cho thấy nguy cơ đột quỵ tăng rõ rệt vào khoảng một tháng sau mùa mưa.
Cứ mỗi 1 độ C nhiệt độ tăng thêm, nguy cơ đột quỵ xuất huyết não tăng 24% và nguy cơ đột quỵ thiếu máu não tăng 36%.
Một nghiên cứu khác tại 8 thành phố lớn ở Trung Quốc với quy mô dân số lên tới 48 triệu người cũng ghi nhận cả thời tiết quá nóng (28-34 độ C) lẫn quá lạnh (4-23 độ C) đều làm tăng nguy cơ đột quỵ.
Tuy nhiên tác động của thời tiết nóng thường xảy ra trong 3 ngày đầu tiếp xúc, trong khi ảnh hưởng của thời tiết lạnh có thể kéo dài khoảng 2 tuần.
Theo bác sĩ Thắng, những thời điểm chuyển mùa, khi nhiệt độ biến động mạnh, là giai đoạn nguy cơ cao nhất bị đột quỵ. Sau đó cơ thể dần thích nghi nên mức độ ảnh hưởng có thể giảm xuống.
Tại Việt Nam, hiện chưa có nghiên cứu quy mô lớn nào đánh giá cụ thể mối liên hệ giữa thời tiết và đột quỵ.
Theo ghi nhận thực tế trong lâm sàng, mối liên quan này là có cơ sở. Các chuyên gia nhận định thời tiết nên được xem là yếu tố thúc đẩy, chứ không phải nguyên nhân trực tiếp gây đột quỵ, ngoại trừ những trường hợp tăng thân nhiệt nghiêm trọng.
Tuy nhiên, khi nhiệt độ tăng cao trong mùa hè, để tối đa hóa lợi ích của việc ăn trứng, chuyên gia dinh dưỡng đưa ra một số lời khuyên.
Tiến sĩ Jinal Patel, chuyên gia dinh dưỡng trưởng tại Bệnh viện Zynova Shalby, Mumbai, (Ấn Độ) giải thích: Trứng là một trong những nguồn cung cấp protein chất lượng cao và các chất dinh dưỡng thiết yếu như vitamin B12, D và sắt. Một quả trứng cung cấp khoảng 6 - 7 gram protein chất lượng cao, chứa tất cả các axit amin thiết yếu mà cơ thể cần.
Giải đáp về số lượng nên ăn trong những ngày hè nóng bức một cách an toàn, chuyên gia Jinal Patel khuyến nghị: Ăn 1 - 2 quả trứng mỗi ngày là ổn, theo tờ Hindustan Times.
Đặc biệt, vào mùa hè, cảm giác thèm ăn giảm xuống, ăn trứng càng phù hợp vì giúp no lâu hơn.
Tuy nhiên, nhiệt độ tăng cao tạo điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn phát triển, làm tăng nguy cơ ngộ độc thực phẩm. Vì vậy, bạn cần chú ý đến cách bảo quản và xử lý trứng.
Chuyên gia Patel giải thích: Xử lý trứng không đúng cách có thể làm tăng nguy cơ nhiễm khuẩn và các vấn đề cho dạ dày. Ăn trứng bị nhiễm khuẩn hoặc nấu chưa chín kỹ có thể làm tăng nguy cơ ngộ độc thực phẩm, dẫn đến tiêu chảy, đau bụng, nôn mửa và đau bụng.
Chuyên gia Patel khuyên, bạn cần cẩn thận và thực hiện các biện pháp phòng ngừa sau:
Tuy trứng an toàn với đa số người khỏe mạnh, nhưng một số nhóm người cần thận trọng hơn khi sử dụng:
Người có cholesterol LDL cao hoặc bệnh tim mạch: nên theo dõi lượng trứng, đặc biệt là lòng đỏ, và chú ý tổng thể chế độ ăn thay vì chỉ nhìn vào trứng đơn lẻ.
Người mắc tiểu đường: có thể ăn trứng nhưng cần trao đổi với bác sĩ hoặc chuyên gia dinh dưỡng để điều chỉnh lượng phù hợp với nguy cơ tim mạch và kiểm soát đường huyết.
Người dị ứng trứng: cần tránh vì có thể gây phản ứng từ nhẹ đến nghiêm trọng.
Phụ nữ mang thai, người lớn tuổi hoặc suy giảm miễn dịch: nên tránh trứng sống hoặc chưa chín kỹ để giảm nguy cơ nhiễm khuẩn Salmonella.
Bác sĩ Howard E. LeWine, làm việc tại chuyên trang sức khỏe Harvard Health Publishing (ĐH Harvard, Mỹ), cho biết với đa số người khỏe mạnh, ăn khoảng 1 quả trứng/ngày không làm tăng nguy cơ bệnh tim nếu kết hợp chế độ ăn lành mạnh.
Khi nồng độ đường glucose trong máu tăng cao hoặc dao động bất thường, các cấu trúc tinh vi trong mắt như thủy tinh thể, võng mạc sẽ sớm bị ảnh hưởng. Nhiều trường hợp, người bệnh chưa có triệu chứng toàn thân rõ ràng nhưng đã bắt đầu nhìn mờ và một số biểu hiện bất thường khác, theo chuyên trang sức khỏe Medical News Today (Anh).
Điều cần lưu ý là những dấu hiệu này thường thoáng qua, dễ bị phớt lờ hoặc nhầm với mỏi mắt do làm việc nhiều. Những dấu hiệu thường gặp cảnh báo sớm rối loạn đường huyết gồm:
Nhìn mờ là dấu hiệu thường gặp nhất khi đường huyết bắt đầu mất ổn định. Người bệnh có thể thấy thị lực lúc rõ lúc mờ, đặc biệt là sau khi ăn hoặc vào những thời điểm đường huyết thay đổi nhanh.
Nguyên nhân là do lượng đường glucose trong máu tăng cao làm thay đổi áp suất thẩm thấu, kéo nước vào thủy tinh thể, khiến cấu trúc này bị biến dạng tạm thời và làm sai lệch khả năng khúc xạ ánh sáng. Khi đó, hình ảnh không còn được hội tụ chính xác lên võng mạc, dẫn đến nhìn mờ.
Khi đường huyết tiếp tục cao, độ cong của thủy tinh thể cũng thay đổi theo, khiến thị lực không ổn định. Đây thường là dấu hiệu sớm và có thể hồi phục nếu kiểm soát đường huyết kịp thời. Nhưng nếu kéo dài, nguy cơ tổn thương võng mạc sẽ tăng lên.
Một số người nhận thấy trong tầm nhìn xuất hiện các chấm nhỏ, sợi mảnh hoặc đốm đen lơ lửng, giống như "ruồi bay". Hiện tượng này liên quan đến sự thay đổi trong dịch kính hoặc do rò rỉ máu từ các mạch máu nhỏ trong võng mạc.
Khi đường huyết cao kéo dài, các mao mạch ở võng mạc sẽ yếu và dễ tổn thương hơn. Hệ quả dẫn đến rò rỉ dịch hoặc xuất huyết, tạo ra các đốm lạ trong tầm nhìn. Ở giai đoạn đầu, các đốm có thể xuất hiện ít và thoáng qua nên nhiều người chủ quan. Tuy nhiên, nếu số lượng tăng lên hoặc kèm theo cảm giác chớp sáng, đây có thể là dấu hiệu của tổn thương nghiêm trọng hơn và cần được kiểm tra sớm.
Một dấu hiệu ít được chú ý là sự thay đổi trong cách nhìn màu sắc. Người bệnh có thể cảm thấy màu sắc kém rực rỡ, khó phân biệt các tông màu gần nhau hoặc mọi thứ trông nhạt màu hơn bình thường.
Điều này xảy ra khi các tế bào cảm thụ ánh sáng trong võng mạc, đặc biệt là tế bào nón, chịu trách nhiệm nhận biết màu sắc, bị ảnh hưởng do thiếu ô xy và dinh dưỡng.
Khó nhìn vào ban đêm hoặc trong môi trường thiếu sáng cũng có thể là dấu hiệu cảnh báo. Người bệnh có thể cảm thấy mắt thích nghi chậm với bóng tối hoặc nhìn không rõ trong điều kiện ánh sáng yếu.
Nguyên nhân là do các tế bào que trong võng mạc, chịu trách nhiệm giúp mắt nhìn trong điều kiện thiếu sáng, bị ảnh hưởng. Khi đường huyết cao làm tổn thương các mao mạch nuôi võng mạc, chức năng của các tế bào này suy giảm, theo Medical News Today.