Tháng 4 có hai kỳ nghỉ lễ gần nhau gồm Giỗ Tổ Hùng Vương (3 ngày, từ 25/4 đến 27/4) và dịp 30/4-1/5 (4 ngày, từ 30/4 đến 3/5). Xen giữa hai kỳ nghỉ lễ là hai ngày làm việc bình thường (ngày 28 và 29/4).
Theo thông tin từ Sở Du lịch công bố chiều 20/4, thành phố Hà Nội tổ chức nhiều hoạt động văn hóa, nghệ thuật, triển lãm để phục vụ người dân và du khách.
Trong hai ngày 30/4 và 1/5, Sở Du lịch phối hợp Ban Quản lý Lăng tặng nước, sữa và bánh cho du khách đến thăm Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, khách tham quan có cơ hội trải nghiệm các triển lãm “Sơn ta sử tích” hay “Chạm vào chiều sâu di sản”.
Trong khi đó, Trung tâm Giao lưu Văn hóa Phố cổ Hà Nội tổ chức nhiều hoạt động tọa đàm để nghệ nhân chia sẻ về chuyện nghề và các làng nghề truyền thống.
Nếu chọn hồ Trúc Bạch làm điểm dừng chân, du khách có thể khám phá những hoạt động tại bảo tàng đường phố đầu tiên ở Việt Nam.
Tại Làng Văn hóa Du lịch các dân tộc Việt Nam, không gian phiên chợ vùng cao cùng các nghi lễ đặc trưng như cúng thần rừng của đồng bào dân tộc cũng được tái hiện để phục vụ khách tham quan.
Với khách muốn rời nội đô, có thể chọn các điểm ở ngoại thành như Ba Vì, Sóc Sơn, Hương Sơn, Sơn Tây để trải nghiệm các loại hình du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, cộng đồng gắn liền với văn hóa bản địa.
Nhiều sản phẩm mới được đưa vào khai thác như “Sắc hoa Tường Phiêu” tại xã Phúc Thọ, “Con đường Đạo học” tại xã Ô Diên hay du lịch cộng đồng bản Miền ở xã Ba Vì là các gợi ý dành cho du khách muốn tham quan vùng ven.
Bên cạnh đó, Hà Nội cũng đẩy mạnh phát triển các sản phẩm du lịch đường bộ, đường sắt chất lượng cao như tàu du lịch hai tầng “Năm Cửa Ô – The Hanoi Train”.
Để đảm bảo chất lượng dịch vụ và an ninh dịp nghỉ lễ, Sở Du lịch yêu cầu các đơn vị, cá nhân kinh doanh trên địa bàn nâng cao chất lượng phục vụ và niêm yết giá công khai. Các đơn vị phải cam kết không để xảy ra tình trạng chèo kéo, “chặt chém” du khách. Cơ quan chức năng cũng lưu ý các bên cung cấp dịch vụ đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, góp phần xây dựng môi trường du lịch văn minh và thân thiện.
Tin Gốc: Vnexpress

Có những vùng đất lớn lên từ lớp lớp phù sa bồi đắp qua hàng trăm năm, từ những mùa nước nổi và từ sự nhẫn nại của con người sống giữa bốn bề sông nước. Cù Lao Giêng (tỉnh An Giang) là một vùng đất như thế.
Sau sáp nhập đơn vị hành chính, xã Cù Lao Giêng hôm nay có diện tích tự nhiên gần 69km² với hơn 70.000 dân sinh sống hoàn toàn trên dải cù lao nằm giữa sông Tiền. Bốn bề sông nước vừa tạo nên vẻ biệt lập đặc trưng, vừa hình thành nên một không gian văn hóa, sinh kế và đời sống rất riêng của cư dân miền Tây Nam Bộ.
Hàng thế kỷ qua, dòng phù sa đỏ nặng từ thượng nguồn vẫn lặng lẽ bồi đắp cho vùng đất này những cánh đồng màu mỡ, những vườn cây trái sum suê và cả một nếp sống đặc trưng của cư dân miền sông nước. Nhưng nếu chỉ nhìn Cù Lao Giêng hôm nay qua những vườn xoài trĩu quả hay những tuyến đường bê tông rộng mở thì vẫn chưa đủ để kể hết câu chuyện của vùng đất này.
Bởi trước khi trở thành vùng trồng xoài lớn nhất tỉnh An Giang, nơi đây từng là một xứ lúa nghèo giữa sông Tiền, nơi cuộc sống của nhiều thế hệ người dân gắn với ruộng đồng, mùa nước nổi và những chuyến xuồng ghe xuôi ngược theo con nước.
Người già ở Cù Lao Giêng vẫn nhớ rất rõ hình ảnh của những cánh đồng ngày trước. Khi ấy, quanh cù lao gần như là ruộng lúa nối tiếp nhau. Mùa nước nổi về, phù sa phủ lên mặt ruộng một lớp màu mỡ, người dân xuống giống rồi chờ ngày gặt hái. Nhà nào cũng sống nhờ đất. Có người làm thêm nghề chài lưới, bắt cá trên sông, nhưng cái gốc của cuộc sống vẫn là cây lúa.
Những buổi sáng trên cù lao ngày ấy bắt đầu bằng tiếng người gọi nhau ra đồng, mùi rơm mới, tiếng máy suốt lúa vọng giữa cánh đồng còn đẫm hơi sương. Cuộc sống tuy nghèo nhưng bình yên theo cách rất riêng của miền Tây.
Người dân khi đó không nghĩ nhiều đến những khái niệm lớn lao như phát triển hay hội nhập. Điều họ mong mỏi chỉ đơn giản là mùa màng đừng thất bát, nước đừng lên quá lớn và con cái có cơ hội học hành tốt hơn cha mẹ.
Ít ai biết rằng Cù Lao Giêng cũng là một trong những vùng đất được khai phá khá sớm ở Nam Bộ. Từ thế kỷ XVIII, khi những đoàn lưu dân người Việt theo hành trình Nam tiến xuôi về phương Nam mở cõi, vùng đất giữa sông Tiền này đã dần hình thành những xóm làng đầu tiên.
Khi ấy, nơi đây vẫn còn là vùng đất hoang sơ với lau sậy, rừng rậm và những bãi bồi ngập nước. Những cư dân đầu tiên chủ yếu đến từ miền Trung và miền Bắc, mang theo tập quán trồng lúa nước, đào mương, đắp bờ và dựng xóm làng ven sông. Họ sống nhờ phù sa, nhờ con nước và mở đất bằng chính đôi tay mình.
Suốt hàng trăm năm, phù sa sông Tiền không chỉ bồi đắp nên ruộng đồng màu mỡ mà còn tạo nên chiều sâu văn hóa rất riêng cho vùng cù lao này. Dòng họ Nguyễn Tộc ở Cù Lao Giêng đến nay vẫn gìn giữ tục thờ Ba quan thượng đẳng - những bậc tiền nhân được vua Gia Long truy phong danh hiệu cao quý để ghi nhận công lao mở đất và giữ gìn xóm làng.
Mảnh đất phù sa ấy cũng sản sinh nhiều nhân vật có ảnh hưởng lớn trong lịch sử Việt Nam hiện đại, trong đó có cố Bộ trưởng Nguyễn Văn Hưởng - một trong những bác sĩ tiêu biểu của nền y học cách mạng Việt Nam, và cố Bộ trưởng Ung Văn Khiêm - nhà ngoại giao nổi bật trong giai đoạn đầu xây dựng nền ngoại giao cách mạng.
Người dân nơi đây vẫn nhắc về họ bằng niềm tự hào của một vùng đất nhỏ nhưng đã góp phần làm nên những con người mang tầm vóc quốc gia.
Điều đặc biệt của Cù Lao Giêng không chỉ nằm ở lịch sử khai phá hay những mùa trái ngọt, mà còn ở chiều sâu văn hóa hiếm nơi nào ở miền Tây còn giữ được nguyên vẹn như vậy.
Từ cuối thế kỷ XIX, các giáo sĩ phương Tây đã đến đây truyền giáo, xây dựng nhà thờ, trường học và bệnh viện.
Đến nay, Nhà thờ Cù Lao Giêng vẫn được xem là một trong những nhà thờ cổ kính nhất Nam Kỳ còn giữ gần như nguyên vẹn kiến trúc châu Âu cổ.
Mỗi buổi chiều, khi ánh nắng phủ xuống những bức tường vàng cũ kỹ và tiếng chuông ngân lên giữa hàng cây cổ thụ, không gian nơi đây khiến người ta có cảm giác như thời gian đang trôi chậm lại.
Nhưng Cù Lao Giêng không chỉ có Công giáo. Trên cùng một dải cù lao nhỏ, đình thần chùa chiềng và tín ngưỡng dân gian cùng tồn tại suốt hàng trăm năm như một phần tự nhiên của đời sống cộng đồng.
Chùa Ông Đạo Nằm gắn với câu chuyện tu hành khổ hạnh của Hòa thượng Tịnh Nghiêm, còn Chùa Chim gây ấn tượng với quần thể tượng Phật quy mô lớn giữa không gian sông nước thanh tịnh.
Không ngại đường xa, khách hành hương vẫn tìm về nơi này mỗi ngày. Anh Văn Thắng, một du khách đến từ Tân Châu, chia sẻ rằng đây đã là lần thứ ba anh đưa gia đình đến Cù Lao Giêng để cầu an và vãn cảnh.
"Không gian ở đây rất thanh tịnh, yên bình và có cảm giác khác hẳn nhiều nơi khác. Đến đây thấy lòng nhẹ lại", anh nói.
Không chỉ có chiều sâu văn hóa, Cù Lao Giêng còn đang mở ra hướng đi mới bằng du lịch sinh thái và du lịch cộng đồng. Ở nơi này, thiên nhiên, kiến trúc và ký ức làng quê hòa quyện với nhau theo cách rất tự nhiên.
Khu du lịch sinh thái Cồn Én là một trong những điểm đến tiêu biểu. Không gian nơi đây tái hiện ký ức miền quê bằng chất liệu gỗ lũa, những mái nhà mộc mạc và cảnh quan gần như giữ nguyên vẻ nguyên sơ của vùng sông nước.
Chị Nguyễn Thị Ngọc Yến, Giám đốc điều hành khu du lịch, cho biết đơn vị đang hướng đến mở rộng dịch vụ lưu trú, đầu tư thêm các hoạt động trải nghiệm để phục vụ khách quốc tế nhiều hơn trong thời gian tới.
Theo chị, du khách tìm đến Cù Lao Giêng không phải để tìm sự náo nhiệt mà để tìm sự bình yên, cảm giác được sống chậm giữa miền quê còn giữ nguyên bản sắc.
"Du lịch ở Cù Lao Giêng vì thế cũng không đi theo hướng đô thị hóa ồn ào. Người ta tìm đến nơi này vì những con đường nhỏ chạy dọc bờ sông, vì tiếng chuông chùa buổi chiều, vì những khu vườn xanh rợp bóng và vì cảm giác được trở về một miền Tây cũ kỹ nhưng đầy sức sống".
Dẫu vậy, gốc rễ của Cù Lao Giêng vẫn là nông nghiệp. Và sự chuyển mình lớn nhất của vùng đất này bắt đầu khi người dân nhận ra đất phù sa nơi đây đặc biệt phù hợp với cây xoài.
Ban đầu chỉ vài hộ chuyển đổi từ đất lúa sang cây ăn trái. Nhưng rồi từ những khu vườn nhỏ lẻ, cây xoài dần phủ xanh cả cù lao. Những cánh đồng lúa năm nào lần lượt nhường chỗ cho những vườn xoài trải dài đến tận mé sông.
Đến nay, Cù Lao Giêng đã trở thành vùng trồng xoài lớn nhất tỉnh An Giang với gần 5.000ha. Trên hơn 4.300ha đất sản xuất, phần lớn diện tích hiện là cây ăn trái với nhiều vùng trồng được cấp mã số xuất khẩu và áp dụng tiêu chuẩn VietGAP.
Hợp tác xã GAP Cù Lao Giêng thành lập năm 2020 được xem là bước ngoặt lớn của nông nghiệp địa phương. Anh Nguyễn Minh Hiền – Chủ tịch HTX cho biết xoài Cù Lao Giêng có ưu thế nhờ thổ nhưỡng và khí hậu đặc biệt, giúp trái xoài có độ bóng đẹp và chất lượng cao hơn nhiều nơi khác.
"Từ trước tới nay, xoài Cù Lao Giêng luôn được thị trường đánh giá cao về mẫu mã và chất lượng. Khi làm theo quy trình VietGAP, GlobalGAP và có mã số vùng trồng, trái xoài đi được vào các thị trường khó tính hơn, đầu ra cũng ổn định hơn cho nông dân", anh Hiền nói.
Từ một vùng sản xuất nhỏ lẻ, xoài nơi đây giờ đã xuất khẩu sang Mỹ, Hàn Quốc, Úc và New Zealand. Hiện HTX có hơn 50 thành viên chính thức cùng hàng trăm hộ liên kết sản xuất theo quy trình tiêu chuẩn nhằm xây dựng sinh kế bền vững cho người dân.
Không chỉ có cây trái, nghề nuôi cá bè cũng phát triển mạnh với hơn 1.000 lồng bè nuôi cá tra và cá diêu hồng, cho sản lượng khoảng 3.600 tấn mỗi năm. Những bè cá nối dài trên sông cùng các vườn xoài xanh ngút mắt đang tạo nên diện mạo kinh tế mới cho vùng cù lao giữa sông Tiền.
Sự đổi thay ấy hiện diện rõ nhất trong cuộc sống của người dân. Ông Lê Ngọc Bia, năm nay 71 tuổi, vẫn nhớ những năm tháng vợ chồng ông phải bán bún tươi, bán trứng vịt để nuôi hai con ăn học.
"Ngày đó cực lắm, chỉ mong đủ tiền cho con học hết phổ thông", ông kể.
Giờ đây, con trai lớn của ông đã là giáo viên, người con út làm việc trong doanh nghiệp thủy sản, cuộc sống gia đình cũng ổn định hơn sau hàng chục năm chắt chiu từ đất.
Ông Phạm Văn Khang cũng từng bắt đầu chỉ với hai công ruộng, một chiếc xuồng nhỏ đánh cá và một con bò cái gây giống. Sau nhiều năm tích cóp, ông đã dựng được căn nhà mới khang trang bên con đường ven sông.
Những câu chuyện như vậy không hiếm ở Cù Lao Giêng, bởi sự đổi thay nơi đây không đến từ những dự án đồ sộ mà đến từ từng gia đình, từng khu vườn và từng mùa trái ngọt.
Suốt nhiều năm, yếu tố địa lý sông nước từng khiến Cù Lao Giêng gặp không ít khó khăn trong phát triển hạ tầng, y tế, giáo dục và đời sống dân sinh. Nhưng từ khi chính thức được công nhận là xã đảo của tỉnh An Giang, vùng đất này bắt đầu bước sang một giai đoạn phát triển mới.
Danh xưng "xã đảo" không chỉ mang ý nghĩa địa lý mà còn mở ra nhiều cơ chế đặc thù về đầu tư giao thông, điện, nước sạch, trường học, y tế và an sinh xã hội. Người dân được hỗ trợ phát triển sản xuất, tiếp cận vốn ưu đãi và các chương trình giảm nghèo.
Đặc biệt, toàn bộ cư dân trên địa bàn được hỗ trợ 100% bảo hiểm y tế - một chính sách được người dân xem là rất thiết thực đối với một vùng còn nhiều lao động nông nghiệp và lao động tự do.
Theo ông Võ Minh Nâng – Bí thư Đảng uỷ xã Cù Lao Giêng, trong nhiệm kỳ 2025–2030, địa phương đặt mục tiêu phát triển toàn diện trên nền tảng kinh tế bền vững và thích ứng với biến đổi khí hậu.
Theo đó, Cù Lao Giêng sẽ lấy nông nghiệp công nghệ cao và đặc sản xoài làm trọng tâm, đồng thời đẩy mạnh chuyển đổi số, phát triển du lịch cộng đồng và xây dựng nông thôn mới hiện đại.
Chiều xuống trên sông Tiền, nắng cuối ngày phủ vàng những vườn xoài trải dài ven sông. Cuộc sống ở Cù Lao Giêng hôm nay đã khác rất nhiều so với thời chỉ sống bằng ruộng lúa và những mùa nước nổi. Đường sá rộng hơn, nhà cửa khang trang hơn, người trẻ có thêm cơ hội học hành và làm ăn, du lịch bắt đầu tìm đến, nông nghiệp bước vào hành trình chuyển đổi mới.
Nhưng giữa tất cả những đổi thay ấy, vùng đất này vẫn giữ được điều quý nhất: tinh thần của một miền Tây sống nhờ phù sa, nhờ đất và nhờ sự bền bỉ của con người.
Và có lẽ, đó mới chính là vẻ đẹp sâu nhất của Cù Lao Giêng hôm nay - một xã đảo đang bước vào tương lai mới nhưng vẫn giữ nguyên hồn vía của miền sông nước Nam Bộ.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

Sáng 20-4, lãnh đạo UBND xã Tịnh Khê, cho biết đã triển khai lắp đặt hệ thống phao nổi, khoanh vùng khu vực tắm biển an toàn tại bãi biển Mỹ Khê, kéo dài khoảng 850m (từ khu vực quán cà phê Bosom đến nhà hàng Mỹ Khê).
Việc bố trí hệ thống phao giúp xác định rõ ranh giới khu vực được phép tắm biển, hỗ trợ người dân và du khách dễ nhận diện phạm vi an toàn, hạn chế bơi ra xa, nơi thường xuất hiện dòng chảy xa bờ nguy hiểm.
Tại các khu vực được xác định có dòng chảy xa bờ, địa phương bố trí thêm phao cảnh báo dọc bờ biển, vừa cảnh báo nguy hiểm, vừa hỗ trợ công tác cứu hộ khi xảy ra sự cố.
Thời gian qua, bãi biển Mỹ Khê xảy ra nhiều vụ đuối nước đáng tiếc. Vào tháng 2-2026, một vụ đuối nước xảy ra khi hai học sinh tắm biển, trong đó một em tử vong do bị sóng cuốn ra xa trong điều kiện biển động.
Trước đó không lâu, vào mùng 5 Tết 2026, một vụ việc nghiêm trọng khác xảy ra khi một gia đình ba người tắm biển bị dòng chảy cuốn trôi, khiến một bé trai 10 tuổi và cha tử vong, một bé gái được cứu sống.
Những vụ việc liên tiếp cho thấy nguy cơ mất an toàn tại khu vực biển Mỹ Khê, đặc biệt vào thời điểm biển động hoặc khi người dân, du khách chủ quan tắm xa khu vực an toàn.
Trước thực tế đó, ngoài việc thả phao khoanh vùng, xã Tịnh Khê cũng tăng cường tuyên truyền, khuyến cáo người dân và du khách tuân thủ quy định an toàn khi tắm biển; không bơi ra xa, không tắm khi thời tiết xấu hoặc biển có dấu hiệu nguy hiểm.
Địa phương đồng thời rà soát, sửa chữa và bổ sung trang thiết bị phục vụ cứu hộ cứu nạn, đảm bảo lực lượng chức năng luôn trong trạng thái sẵn sàng ứng phó khi có tình huống khẩn cấp.
Chính quyền xã Tịnh Khê cho biết sẽ tiếp tục phối hợp các lực lượng chức năng thường xuyên kiểm tra, nhắc nhở, xử lý kịp thời các tình huống phát sinh, góp phần giảm thiểu rủi ro đuối nước tại bãi biển du lịch nổi tiếng này.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

Theo cập nhật cuối tháng 3 của TasteAtlas, danh sách 10 món bị đánh giá tệ nhất thế giới năm 2026 được tổng hợp từ hơn 483.000 lượt chấm điểm hợp lệ, với mức điểm trung bình dưới 2/5.
Đại diện TasteAtlas cho biết bảng xếp hạng không nhằm đưa ra kết luận cuối cùng về ẩm thực toàn cầu, mà hướng đến việc tôn vinh đặc sản địa phương, khơi gợi niềm tự hào văn hóa và thúc đẩy khám phá những món ăn mới.
Volcano pizza, Thụy Điển
Volcano pizza là món ăn của Thụy Điển, do đầu bếp Halmat Givra sáng tạo tại nhà hàng Nya Gul & Bla.
Món gây ấn tượng với hình dáng "núi lửa", gồm vòng bánh lớn phủ đầy phô mai, giăm bông, salami, thịt xông khói và thăn bò. Ở trung tâm là khoai tây chiên và salad ăn kèm sốt.
Với nhiều hương vị kết hợp, volcano pizza thường được lựa chọn cho các nhóm đông người, đáp ứng đa dạng khẩu vị trong cùng một món ăn. Ảnh: Kenny
Theo cập nhật cuối tháng 3 của TasteAtlas, danh sách 10 món bị đánh giá tệ nhất thế giới năm 2026 được tổng hợp từ hơn 483.000 lượt chấm điểm hợp lệ, với mức điểm trung bình dưới 2/5.
Đại diện TasteAtlas cho biết bảng xếp hạng không nhằm đưa ra kết luận cuối cùng về ẩm thực toàn cầu, mà hướng đến việc tôn vinh đặc sản địa phương, khơi gợi niềm tự hào văn hóa và thúc đẩy khám phá những món ăn mới.
Volcano pizza, Thụy Điển
Volcano pizza là món ăn của Thụy Điển, do đầu bếp Halmat Givra sáng tạo tại nhà hàng Nya Gul & Bla.
Món gây ấn tượng với hình dáng "núi lửa", gồm vòng bánh lớn phủ đầy phô mai, giăm bông, salami, thịt xông khói và thăn bò. Ở trung tâm là khoai tây chiên và salad ăn kèm sốt.
Với nhiều hương vị kết hợp, volcano pizza thường được lựa chọn cho các nhóm đông người, đáp ứng đa dạng khẩu vị trong cùng một món ăn. Ảnh: Kenny
Đầu cừu, Iceland
Svið là món ăn độc đáo của Iceland, bao gồm đầu cừu bổ đôi và nấu chín. Đầu cừu sau đó được nướng trên lửa (để loại bỏ lông) rồi ăn. Món ăn này thường được dùng kèm với củ cải nghiền, khoai tây nghiền, đặc biệt là trong lễ hội giữa mùa đông truyền thống của Iceland. Mặc dù svið nổi tiếng nhưng nhiều người có thể thấy kỳ lạ khi phải nhìn thẳng vào mắt con vật trong đĩa thức ăn của mình. Ảnh: Reykia
Đầu cừu, Iceland
Svið là món ăn độc đáo của Iceland, bao gồm đầu cừu bổ đôi và nấu chín. Đầu cừu sau đó được nướng trên lửa (để loại bỏ lông) rồi ăn. Món ăn này thường được dùng kèm với củ cải nghiền, khoai tây nghiền, đặc biệt là trong lễ hội giữa mùa đông truyền thống của Iceland. Mặc dù svið nổi tiếng nhưng nhiều người có thể thấy kỳ lạ khi phải nhìn thẳng vào mắt con vật trong đĩa thức ăn của mình. Ảnh: Reykia
Thorramatur, Iceland
Thorramatur là tập hợp các món ăn truyền thống của Iceland, thường được thưởng thức trong tháng Þorri (từ giữa tháng 1 đến giữa tháng 2). Thực đơn gồm các món cá và thịt chế biến theo phương pháp cổ truyền, cắt nhỏ, dùng kèm bánh mì lúa mạch đen và bơ trong các bữa tiệc buffet.
Những món tiêu biểu có thể kể đến như cá mập lên men, thịt cừu hun khói, đầu cừu hay xúc xích huyết, thường ăn cùng rượu. Ảnh: CC BY -SA
Thorramatur, Iceland
Thorramatur là tập hợp các món ăn truyền thống của Iceland, thường được thưởng thức trong tháng Þorri (từ giữa tháng 1 đến giữa tháng 2). Thực đơn gồm các món cá và thịt chế biến theo phương pháp cổ truyền, cắt nhỏ, dùng kèm bánh mì lúa mạch đen và bơ trong các bữa tiệc buffet.
Những món tiêu biểu có thể kể đến như cá mập lên men, thịt cừu hun khói, đầu cừu hay xúc xích huyết, thường ăn cùng rượu. Ảnh: CC BY -SA
Bánh huyết, Thụy Điển
Bánh kếp huyết (blood pancakes) là món ăn phổ biến tại Thụy Điển, Phần Lan và Na Uy. Món được chế biến từ hỗn hợp bột bánh kếp truyền thống, nhưng bổ sung thêm huyết động vật.
Bánh có thể được làm mỏng như crêpe hoặc dày, dai hơn, với đặc trưng là màu nâu sẫm. Khi chế biến, người ta thường thêm hành và gia vị, sau đó ăn kèm với quả việt quất đỏ (lingonberry) tươi hoặc mứt lingonberry.
Tại Phần Lan và Thụy Điển, loại bánh này còn được bán sẵn như một sản phẩm chế biến tiện lợi. Ảnh: Jocelynmcbride
Bánh huyết, Thụy Điển
Bánh kếp huyết (blood pancakes) là món ăn phổ biến tại Thụy Điển, Phần Lan và Na Uy. Món được chế biến từ hỗn hợp bột bánh kếp truyền thống, nhưng bổ sung thêm huyết động vật.
Bánh có thể được làm mỏng như crêpe hoặc dày, dai hơn, với đặc trưng là màu nâu sẫm. Khi chế biến, người ta thường thêm hành và gia vị, sau đó ăn kèm với quả việt quất đỏ (lingonberry) tươi hoặc mứt lingonberry.
Tại Phần Lan và Thụy Điển, loại bánh này còn được bán sẵn như một sản phẩm chế biến tiện lợi. Ảnh: Jocelynmcbride
Cá hồi Navarra, Tây Ban Nha
Cá hồi Navarra là món ăn truyền thống từ vùng Navarre, nguyên liệu chính gồm cá hồi, giăm bông serrano, bột mì, chanh, rau mùi tây, dầu ô liu và muối. Cá hồi được ướp muối, lăn qua bột mì và chiên trong dầu ô liu cho đến khi vàng giòn và chín tới. Sau đó, cá được người nấu nhồi với những miếng giăm bông serrano đã xào và vắt nước chanh lên trên. Ảnh: Pinano Restaurant
Cá hồi Navarra, Tây Ban Nha
Cá hồi Navarra là món ăn truyền thống từ vùng Navarre, nguyên liệu chính gồm cá hồi, giăm bông serrano, bột mì, chanh, rau mùi tây, dầu ô liu và muối. Cá hồi được ướp muối, lăn qua bột mì và chiên trong dầu ô liu cho đến khi vàng giòn và chín tới. Sau đó, cá được người nấu nhồi với những miếng giăm bông serrano đã xào và vắt nước chanh lên trên. Ảnh: Pinano Restaurant
Milcao, Chile
Milcao là món ăn truyền thống có nguồn gốc từ quần đảo Chiloé Archipelago (Chile). Món được làm từ khoai tây bào, khoai tây nghiền, kết hợp với mỡ heo và gia vị, tạo thành dạng bánh khoai.
Theo truyền thống, milcao phải sử dụng khoai tây bản địa của vùng Chiloé. Những chiếc bánh này là thành phần quan trọng trong các món đặc trưng như reitimiento và curanto. Hiện milcao có nhiều biến tấu như chiên, nướng, hấp, luộc, làm ngọt hoặc thêm tóp mỡ. Ảnh: Lapinio
Milcao, Chile
Milcao là món ăn truyền thống có nguồn gốc từ quần đảo Chiloé Archipelago (Chile). Món được làm từ khoai tây bào, khoai tây nghiền, kết hợp với mỡ heo và gia vị, tạo thành dạng bánh khoai.
Theo truyền thống, milcao phải sử dụng khoai tây bản địa của vùng Chiloé. Những chiếc bánh này là thành phần quan trọng trong các món đặc trưng như reitimiento và curanto. Hiện milcao có nhiều biến tấu như chiên, nướng, hấp, luộc, làm ngọt hoặc thêm tóp mỡ. Ảnh: Lapinio
Blodpalt, Thụy Điển
Blodpalt gắn liền với các vùng phía bắc của Thụy Điển và Lapland của Phần Lan. Đây là loại bánh bao màu nâu sẫm, được làm từ bột lúa mạch đen hoặc lúa mạch và tiết động vật. Theo truyền thống, bánh được làm từ tiết tuần lộc, hiện món ăn với nhiều biến thể, sử dụng tiết của nhiều loại động vật, các loại gia vị khác nhau. Ảnh: Renberg
Blodpalt, Thụy Điển
Blodpalt gắn liền với các vùng phía bắc của Thụy Điển và Lapland của Phần Lan. Đây là loại bánh bao màu nâu sẫm, được làm từ bột lúa mạch đen hoặc lúa mạch và tiết động vật. Theo truyền thống, bánh được làm từ tiết tuần lộc, hiện món ăn với nhiều biến thể, sử dụng tiết của nhiều loại động vật, các loại gia vị khác nhau. Ảnh: Renberg
Kugel Yerushalmi, Israel
Kugel Yerushalmi là món hầm làm từ mì, nổi tiếng với màu sắc đậm, kết cấu đặc và hương vị kết hợp giữa vị ngọt và vị tiêu cay nồng. Việc sử dụng đường caramel và tiêu đen đã trở thành đặc trưng của món ăn, tạo nên sự khác biệt so với các món hầm mì khác có thành phần từ sữa hoặc hương vị nhẹ hơn. Ảnh: Nancooks
Kugel Yerushalmi, Israel
Kugel Yerushalmi là món hầm làm từ mì, nổi tiếng với màu sắc đậm, kết cấu đặc và hương vị kết hợp giữa vị ngọt và vị tiêu cay nồng. Việc sử dụng đường caramel và tiêu đen đã trở thành đặc trưng của món ăn, tạo nên sự khác biệt so với các món hầm mì khác có thành phần từ sữa hoặc hương vị nhẹ hơn. Ảnh: Nancooks
Lươn đông lạnh, Anh
Lươn đông lạnh là món ăn đường phố truyền thống của người Cockney, có từ thế kỷ 18. Ban đầu, đây là một cách rẻ và dễ để làm một món ăn với nguồn lươn bản địa dồi dào ở sông Thames.
Món có kết cấu mềm, vị nhẹ, hơi mặn, đôi khi được so sánh với cá trích ngâm nhưng ít mùi tanh hơn. Món lươn thường ăn kèm tiêu trắng và giấm, có thể dùng nóng hoặc lạnh, trong đó giấm ớt để tăng hương vị. Ảnh: Gigazine
Lươn đông lạnh, Anh
Lươn đông lạnh là món ăn đường phố truyền thống của người Cockney, có từ thế kỷ 18. Ban đầu, đây là một cách rẻ và dễ để làm một món ăn với nguồn lươn bản địa dồi dào ở sông Thames.
Món có kết cấu mềm, vị nhẹ, hơi mặn, đôi khi được so sánh với cá trích ngâm nhưng ít mùi tanh hơn. Món lươn thường ăn kèm tiêu trắng và giấm, có thể dùng nóng hoặc lạnh, trong đó giấm ớt để tăng hương vị. Ảnh: Gigazine
Chapalele, Chile
Chapalele là loại bánh mì truyền thống của Chile, làm từ hai nguyên liệu chính là khoai tây và bột mì, có nguồn gốc từ Chiloé Island.
Theo cách chế biến truyền thống, bánh được hấp trong curanto - hố đất dùng để nấu ăn. Hiện chapalele có nhiều biến tấu như chiên, áp chảo hoặc nướng. Khi chín, bánh có thể ăn riêng như món ăn nhẹ hoặc dùng kèm các món hầm và thịt. Ảnh: Christian
TasteAtlas là nền tảng trực tuyến chuyên về ẩm thực, tập trung vào việc khám phá, xếp hạng và quảng bá các món ăn truyền thống, nguyên liệu và nhà hàng địa phương trên toàn thế giới. Được thành lập tại Zagreb, Croatia, TasteAtlas hoạt động như một bản đồ ẩm thực kỹ thuật số, cung cấp thông tin chi tiết về các món ăn, công thức nấu ăn, và câu chuyện văn hóa đằng sau chúng.
Chapalele, Chile
Chapalele là loại bánh mì truyền thống của Chile, làm từ hai nguyên liệu chính là khoai tây và bột mì, có nguồn gốc từ Chiloé Island.
Theo cách chế biến truyền thống, bánh được hấp trong curanto - hố đất dùng để nấu ăn. Hiện chapalele có nhiều biến tấu như chiên, áp chảo hoặc nướng. Khi chín, bánh có thể ăn riêng như món ăn nhẹ hoặc dùng kèm các món hầm và thịt. Ảnh: Christian
TasteAtlas là nền tảng trực tuyến chuyên về ẩm thực, tập trung vào việc khám phá, xếp hạng và quảng bá các món ăn truyền thống, nguyên liệu và nhà hàng địa phương trên toàn thế giới. Được thành lập tại Zagreb, Croatia, TasteAtlas hoạt động như một bản đồ ẩm thực kỹ thuật số, cung cấp thông tin chi tiết về các món ăn, công thức nấu ăn, và câu chuyện văn hóa đằng sau chúng.
Tin Gốc: Vnexpress

