Vành đai 3 TP.HCM qua Long An cũ dài 6,8km, tổng mức đầu tư hơn 4.200 tỉ đồng, gồm 2 dự án thành phần:
Dự án thành phần 7 là phần xây dựng đường với tổng mức đầu tư 3.040 tỉ đồng. Dự án thành phần 8 là bồi thường, hỗ trợ, tái định cư với tổng mức đầu tư 1.168 tỉ đồng.
Hiện nay tuyến này đã gần như thông suốt, nhiều người dân có thể đi xe máy dọc theo 6,8km này. Tại nút giao Mỹ Yên, đơn vị thi công đang gấp rút hoàn thiện các hạng mục phụ trợ.
Tiến độ chung của toàn dự án vành đai 3 TP.HCM hiện đang chậm so với chỉ đạo của Chính phủ và UBND TP.HCM, có thể lùi tiến độ đến cuối năm 2026. Trong đó đoạn qua Củ Chi cũ có thể dời mốc hoàn thành đến 30-9.
Theo Ban Giao thông, khối lượng toàn dự án đạt khoảng 75%. Các gói thầu xây lắp ở TP Thủ Đức cũ đạt 82%, đang hoàn thiện cầu cạn, thảm bê tông nhựa, an toàn giao thông. Các gói thầu xây lắp tại các huyện Củ Chi, Hóc Môn và Bình Chánh cũ (phía tây TP.HCM) đạt khoảng 67%.
Hơn 50% chiều dài tuyến hoàn thành xử lý đất yếu và đang chuyển sang thi công tiếp theo, còn lại tiếp tục quan trắc lún theo kỹ thuật để đảm bảo ổn định nền trước khi làm mặt đường.
Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng các công trình giao thông TP.HCM cho biết đang cùng các nhà thầu tập trung nguồn lực, khắc phục các khó khăn, đưa vào khai thác toàn tuyến cuối năm 2026. Trong đó hoàn thành đoạn tuyến cao tốc qua Thủ Đức cũ vào 30-6-2026, đoạn Củ Chi cũ vào 30-9-2026.
Trước đó lãnh đạo TP.HCM đã nhiều lần thị sát công trường, đốc thúc tiến độ và kết luận chỉ đạo đến cuối tháng 12-2025, đoạn cầu cạn phía đông dài 14,7km phải thông xe chính thức, đồng thời thông xe kỹ thuật đoạn phía tây.
Mốc tiến độ này cũng từng được Ban Giao thông nhiều lần khẳng định và cam kết, sau đó dời về 30-6-2026. Theo tiến độ yêu cầu tại Nghị quyết số 105/NQ-CP ngày 15-8-2022 của Chính phủ và của UBND TP.HCM gần đây, dự án vành đai 3 phải hoàn thành, khai thác toàn tuyến cho xe chạy trước ngày 30-6-2026, nhưng đến nay phải dời lại.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

Theo ông Thượng, TP.HCM không chỉ chăm sóc sức khỏe cho hơn 14 triệu dân thường trú và cư trú sau mở rộng địa giới mà còn tiếp nhận lượng lớn người bệnh từ các tỉnh, thành phía nam. Nhiều bệnh viện (BV) tuyến cuối đã thực sự trở thành trung tâm chuyên sâu của cả khu vực.
Do đó, khi mở rộng quy mô hoặc đầu tư thêm cơ sở mới, "cung" tăng thì "cầu" cũng tăng theo. Ví dụ BV Ung bướu hay BV Bình Dân, dù đã có cơ sở mới nhưng cũng thu hút thêm rất nhiều người bệnh nhờ chất lượng chuyên môn ngày càng cao. Đây là "quá tải do người dân tin tưởng tìm đến", khác với quá tải do thiếu năng lực chuyên môn.
Người đứng đầu ngành y tế TP.HCM cũng cho rằng một nguyên nhân quan trọng khác là mô hình phát triển y tế trước đây còn tập trung quá nhiều vào khu vực nội đô. Người dân có xu hướng vượt tuyến, tập trung vào một số BV lớn, trong khi năng lực của các cơ sở vùng ven, cửa ngõ hoặc tuyến dưới chưa đồng đều. "Chính vì vậy, quan điểm của Sở Y tế là không thể giải quyết bài toán quá tải chỉ bằng cách xây thêm vài tòa nhà BV. Phải tái cấu trúc toàn bộ hệ thống y tế TP theo hướng đa tầng - đa cực - đa trung tâm", PGS-TS Tăng Chí Thượng nhấn mạnh.
Trước mắt, TP.HCM đã ưu tiên cho các BV đang quá tải nghiêm trọng hoặc cần mở rộng chuyên sâu như BV Nhân dân 115, BV Mắt và BV Tai mũi họng. Tuy nhiên, định hướng của Sở Y tế không chỉ dừng ở việc "cấp thêm mặt bằng" mà là tổ chức lại không gian phát triển của toàn hệ thống BV. Ví dụ, BV Mắt TP.HCM đang được định hướng phát triển thêm cơ sở tại khu vực Bình Dương nhằm mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ chuyên sâu cho người dân khu vực phía bắc TP mới, đồng thời giảm áp lực cho cơ sở trung tâm.
Hay với cụm Viện Tim - Trường ĐH Y khoa Phạm Ngọc Thạch - BV Nhân dân 115, TP đang từng bước nghiên cứu tái cấu trúc thành một cụm y tế chuyên sâu. Theo lộ trình, khi Trường ĐH Y khoa Phạm Ngọc Thạch chuyển dần một số cơ sở hiện hữu ra cụm y tế chuyên sâu Tân Kiên (H.Bình Chánh cũ), quỹ cơ sở hiện hữu sẽ được ưu tiên cho phát triển chuyên sâu tim mạch và cấp cứu đột quỵ.
Song song đó, TP.HCM đang thúc đẩy mạnh mô hình "BV đa cơ sở". Theo đó, mỗi BV tuyến cuối sẽ không chỉ tập trung tại một cơ sở ở nội đô mà từng bước phát triển thêm cơ sở 2, cơ sở vệ tinh, cơ sở chuyên khoa, phục hồi chức năng, chăm sóc dài hạn… đặt tại các khu vực phù hợp với nhu cầu dân cư và định hướng phát triển không gian đô thị.
"Sở Y tế đang yêu cầu các BV đa khoa và chuyên khoa tuyến cuối chủ động xây dựng kế hoạch phát triển cơ sở 2 tại khu vực Bình Dương và Bà Rịa-Vũng Tàu. Đây không chỉ là giải pháp mở rộng năng lực cung ứng dịch vụ y tế chất lượng cao đến gần người dân hơn mà còn góp phần giảm tải cho các BV khu vực trung tâm, phù hợp với định hướng phát triển hệ thống y tế TP theo mô hình đa tầng - đa cực - đa trung tâm", PGS-TS Tăng Chí Thượng nói.
Trả lời câu hỏi khi nào TP.HCM có thể hết quá tải BV, Giám đốc Sở Y tế TP.HCM cho biết, nếu hiểu "hết quá tải" là không còn cảnh người bệnh phải chờ đợi lâu, không còn nằm ghép, được tiếp cận dịch vụ chất lượng ngay gần nơi sinh sống thì đây là mục tiêu TP.HCM đang quyết liệt hướng tới trong giai đoạn tới.
Tuy nhiên, ông cũng thẳng thắn nhìn nhận, với một siêu đô thị đặc biệt như TP.HCM - trung tâm y tế lớn nhất phía nam - nhu cầu khám chữa bệnh sẽ còn tiếp tục tăng rất nhanh, nhất là trong bối cảnh già hóa dân số, bệnh mạn tính gia tăng và nhu cầu chăm sóc chất lượng cao ngày càng lớn.
Vì vậy, thay vì đặt vấn đề "bao giờ hết quá tải" theo nghĩa tuyệt đối, ngành y tế TP.HCM đang chuyển sang cách tiếp cận mới: phân bố lại người bệnh hợp lý trong toàn hệ thống. Người bệnh mắc các bệnh thông thường, bệnh mạn tính ổn định sẽ được quản lý tốt hơn ngay từ y tế cơ sở và các BV đa khoa khu vực (các BV quận, huyện trước đây).
Các BV cửa ngõ như Thủ Đức, Củ Chi, Hóc Môn sẽ trở thành "điểm chặn đầu tiên" đối với cấp cứu, cấp cứu chấn thương và điều trị đa khoa. Các BV tuyến cuối khu vực trung tâm sẽ tập trung cho kỹ thuật chuyên sâu, ca bệnh phức tạp và đào tạo - nghiên cứu. Khi hệ thống vận hành đúng chức năng của từng tầng, từng cực, từng trung tâm chuyên sâu thì áp lực sẽ giảm dần một cách bền vững.
Tin Gốc: Thanh Niên

Chủ tịch UBND TP.Hà Nội Vũ Đại Thắng vừa ký Quyết định số 2512 phê duyệt Quy hoạch tổng thể thủ đô Hà Nội tầm nhìn 100 năm.
Theo quy hoạch, đến năm 2035, thủ đô Hà Nội trở thành đô thị xanh, thông minh, hiện đại; hội tụ tinh hoa văn hóa, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng; có năng lực cạnh tranh cao, chính trị - xã hội ổn định, thành phố thanh bình, người dân hạnh phúc, trở thành điểm đến an toàn, thân thiện và hấp dẫn.
Tại thủ đô cũng hình thành một số trung tâm giáo dục - đào tạo, y tế chất lượng cao thuộc nhóm dẫn đầu trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương; trung tâm dịch vụ tài chính, thương mại và đổi mới sáng tạo quan trọng cấp quốc gia, khu vực và quốc tế; trung tâm nghiên cứu, phát triển; giữ vai trò hạt nhân trong các chuỗi liên kết phát triển vùng thủ đô, vùng đồng bằng sông Hồng, vùng trung du và miền núi phía bắc.
Đến năm 2045, Hà Nội trở thành một trung tâm đổi mới sáng tạo quan trọng của khu vực châu Á - Thái Bình Dương, nơi hội tụ tri thức và công nghệ; hạ tầng, quản trị đô thị hiện đại; người dân có chất lượng sống cao; xã hội văn minh, an toàn, đáng sống, hạnh phúc.
Đến năm 2065, thủ đô Hà Nội là thành phố toàn cầu, có trình độ phát triển cao và bền vững; thuộc nhóm các thủ đô có chất lượng sống và hạnh phúc cao trên thế giới.
Đến năm 2085 và xa hơn, Hà Nội là một trong những trung tâm có tầm ảnh hưởng lớn trong mạng lưới các thành phố khu vực châu Á - Thái Bình Dương và toàn cầu, dẫn dắt các xu hướng phát triển đô thị thông minh, kinh tế tri thức và đổi mới sáng tạo, là siêu đô thị bền vững tiêu biểu, tác động quốc tế sâu rộng.
Về các mục tiêu cụ thể theo lộ trình, giai đoạn 2026 - 2035, tốc độ tăng trưởng GRDP bình quân giai đoạn 2026 - 2035 đạt trên 11%/năm; quy mô GRDP năm 2035 đạt khoảng 200 tỉ USD; GRDP bình quân đầu người đạt tối thiểu 18.800 USD.
Giai đoạn 2036 - 2045, tốc độ tăng trưởng GRDP bình quân giai đoạn 2036 - 2045 đạt trên 11%/năm; quy mô GRDP năm 2045 đạt khoảng 640 tỉ USD; GRDP bình quân đầu người đạt tối thiểu 42.000 USD. Năm 2045, công nghiệp văn hóa đóng góp khoảng 12% trong GRDP của thành phố.
Giai đoạn 2046 - 2065, tốc độ tăng trưởng GRDP bình quân trên 5%/năm; quy mô GRDP năm 2065 đạt khoảng 1.920 tỉ USD; GRDP bình quân đầu người đạt tối thiểu 95.000 USD. Năm 2065, công nghiệp văn hóa đóng góp khoảng 15 - 20% trong GRDP của thành phố. Thuộc nhóm 10 thủ đô hạnh phúc nhất trên thế giới.
Giai đoạn 2066 - 2085, tốc độ tăng trưởng GRDP bình quân 4 - 5%/năm; GRDP bình quân đầu người đạt tối thiểu 200.000 USD. Quy mô dân số giữ ổn định, tối đa không quá 20 triệu người; duy trì chất lượng sống hạnh phúc và phát triển con người ở nhóm dẫn đầu toàn cầu.
Tầm nhìn đến 100 năm (sau năm 2085), Hà Nội là thành phố "Thịnh vượng - Hài hòa - Văn hiến - Bản sắc", đô thị kết nối toàn cầu đặt nền tảng trên giá trị nghìn năm; hội tụ các dòng chảy thương mại, tri thức và đổi mới sáng tạo, với khả năng tiếp cận nhanh chóng tới các trung tâm kinh tế lớn trong khu vực và thế giới. Ở thời điểm này, thành phố cũng hoàn chỉnh cấu trúc đô thị đa tầng - đa lớp và nền kinh tế không gian.
Về các nhiệm vụ trọng tâm, Hà Nội đặt mục tiêu giải quyết cơ bản ô nhiễm nguồn nước, không khí và chất thải bằng công nghệ hiện đại, theo hướng tuần hoàn và phối hợp liên vùng.
Thành phố sẽ phục hồi sức sống cho các dòng sông như Tô Lịch, Nhuệ, Đáy, Tích, Cầu Bây…, đồng thời nghiên cứu xây dựng đập dâng trên sông Hồng, sông Đuống, sông Đáy, sông Tích, sông Cà Lồ để quản trị tổng hợp lưu vực.
Cạnh đó, thủ đô sẽ xóa bỏ tình trạng ngập úng bằng hệ thống hồ điều hòa, kết hợp các ao, hồ, sông, kênh, mương và các công trình tiêu thoát, hệ thống bể ngầm trữ nước mưa.
Hà Nội cũng sẽ tách, xử lý nước thải triệt để, tái sử dụng, bổ cập nước tưới tiêu và làm sạch các dòng sông. Đẩy mạnh lộ trình phát triển xanh, "xanh hóa" nội đô, chuyển dịch sang năng lượng sạch và chủ động tham gia thị trường carbon để giảm phát thải bền vững.
Theo quy hoạch tầm nhìn 100 năm, Hà Nội cơ bản xử lý dứt điểm các điểm ùn tắc kéo dài vào năm 2030; phát triển mở rộng các tuyến giao thông dọc sông, giảm tải áp lực trực tiếp cho các trục đường vành đai và hướng tâm, kiến tạo trục động lực kết nối liên vùng, liên tỉnh bền vững.
Thành phố sẽ bổ sung các tuyến kết nối giao thông đường bộ và đường sắt giữa Hà Nội và các tỉnh lân cận. Đẩy nhanh tiến độ các công trình giao thông đường bộ, các cầu qua sông, hệ thống đường sắt đô thị để mở rộng không gian phát triển đô thị, giảm tải cho giao thông nội đô, tăng cường hệ thống giao thông liên khu vực liên kết các khu đô thị mới, đô thị cũ, kết hợp cải tạo, tái thiết xây dựng lại các ô phố cũ, khu vực dân cư cũ...
Về tái cấu trúc đô thị, Hà Nội cho biết chiến lược tái cấu trúc không gian đô thị tập trung vào mô hình đa cực, đa trung tâm với cấu trúc đa tầng, nhằm phân bổ lại dân cư và hạ tầng một cách hợp lý.
Theo quy hoạch, việc tái cấu trúc tập trung vào khu vực nội đô lịch sử với ưu tiên bảo tồn các không gian có giá trị đặc thù như Trung tâm chính trị - hành chính Ba Đình; hồ Gươm và vùng phụ cận; Văn Miếu - Quốc Tử Giám; phố cổ; phố cũ; hồ Tây và vùng phụ cận; trục sông Hồng...
Đặc biệt, Hà Nội cũng sẽ tái cấu trúc về sử dụng đất và không gian, cảnh quan, ưu tiên các chức năng có giá trị kinh tế cao. Đồng thời, tích hợp chặt chẽ các khu tái thiết với hệ thống giao thông công cộng, không gian ngầm (TOD); phát triển nông thôn hiện đại, sinh thái, giàu bản sắc, đảm bảo chất lượng sống hiện đại và trong lành với tiêu chuẩn tiệm cận khu vực đô thị...
Tin Gốc: Thanh Niên

Giữa trưa hè, khu vườn cau rộng hơn 5 ha của ông Hà Văn Dũng (60 tuổi, xã Giao An) phủ kín màu xanh. Những hàng cau cao, thân thẳng, tán gọn tạo khoảng không thoáng. Xen trên thân cây là các cụm cốt toái bổ bám dày, phát triển tự nhiên.
Hơn 15 năm trước, ông Dũng bắt đầu trồng cau khi nhận thấy cây phù hợp thổ nhưỡng đồi núi, chịu hạn, ít công chăm sóc. Năm 2006, ông chuyển hơn 1 ha đất sang trồng khoảng 1.200 cây. Sau 5 năm, cau cho thu hoạch, đầu ra ổn định, mang lại nguồn thu hàng trăm triệu đồng mỗi năm.
Từ diện tích ban đầu, ông mở rộng lên hơn 5 ha với khoảng 13.000 cây. Ngoài bán quả, ông tận dụng mo cau, hạt cau và ươm giống để tăng thêm thu nhập. Nhờ đa dạng nguồn thu, mỗi năm vườn cau mang về tiền tỷ cho gia đình.
Tuy nhiên theo ông, phần thân cau chiếm diện tích lớn trong vườn gần như chưa được khai thác. Từ đó, ông tìm cách tận dụng để nâng giá trị.
Trong những lần lên rừng thu mua dược liệu, ông chú ý đến cốt toái bổ, loài cây thường mọc bám trên đá hoặc thân cây lớn. Đây là vị thuốc trong Đông y, dùng hỗ trợ xương khớp, được thị trường tiêu thụ ổn định. Nguồn trong tự nhiên ngày càng giảm do khai thác nhiều.
Năm 2010, ông bắt đầu thử nghiệm đưa cốt toái bổ về trồng trên thân cau. Do đặc tính sống bám, cây không cần đất nhưng giai đoạn đầu khó thích nghi. Ông phải điều chỉnh độ ẩm, ánh sáng và thời điểm trồng qua nhiều năm mới ổn định.
Sau khoảng 5 năm, cây phát triển tốt, bắt đầu cho thu hoạch phần thân rễ. Thay vì bán đại trà, ông giữ lại phần lớn để nhân giống, từng bước mở rộng diện tích.
Đến nay, vườn cau có gần 1.000 bụi cốt toái bổ phân bố trên nhiều thân cây. Việc tận dụng thân cau làm giá thể giúp tiết kiệm đất, giảm chi phí và tạo điều kiện sinh trưởng gần với tự nhiên.
Giá cốt toái bổ hiện dao động 35.000-50.000 đồng mỗi kg. Theo tính toán, nếu khai thác thương mại, nguồn thu có thể đạt khoảng 200 triệu đồng mỗi năm. Tuy nhiên, ông Dũng vẫn ưu tiên nhân giống để phát triển lâu dài.
Mô hình kết hợp này giúp tăng giá trị trên cùng diện tích, đồng thời giảm phụ thuộc vào thị trường cau vốn biến động. Việc trồng dược liệu trong vườn cũng góp phần hạn chế khai thác từ rừng tự nhiên, nơi nguồn cốt toái bổ đang suy giảm.
Chính quyền địa phương đánh giá mô hình cau - dược liệu tận dụng tốt tài nguyên sẵn có. Trong bối cảnh dược liệu ngoài tự nhiên ngày càng khan hiếm, đây có thể là hướng phát triển nếu được hỗ trợ kỹ thuật.
Hiện ông Dũng tiếp tục mở rộng diện tích trồng cốt toái bổ, đồng thời chia sẻ kinh nghiệm cho người dân. Ngoài cau và dược liệu, ông còn trồng thêm cây ăn quả, nuôi ong lấy mật, hướng tới mô hình kinh tế tổng hợp và phát triển du lịch sinh thái.
Tin Gốc: Vnexpress

