Chiều 31-3, Đoàn kiểm tra, giám sát số 10 của Bộ Chính trị, Ban Bí thư do Tổng Bí thư Tô Lâm làm trưởng đoàn đã tổ chức Hội nghị thông qua dự thảo báo cáo kiểm tra, giám sát đợt 1 và triển khai quyết định kiểm tra, giám sát đợt 2 của Bộ Chính trị, Ban Bí thư đối với Ban Thường vụ Đảng ủy Quốc hội.
Phát biểu tại đây, Tổng Bí thư Tô Lâm khẳng định Đảng ủy Quốc hội thể hiện rõ tinh thần tích cực, quyết liệt trong cụ thể hóa đường lối, chủ trương của Đảng thành chương trình, kế hoạch hành động cụ thể.
Các hoạt động lập pháp tiếp tục được đổi mới theo hướng ngày càng thực chất hơn. Tư duy xây dựng pháp luật cũng có bước chuyển rõ nét, thể hiện tinh thần trách nhiệm cao của Quốc hội trong tháo gỡ những điểm nghẽn, khơi thông các nguồn lực cho phát triển, đồng thời đảm bảo vững chắc sự lãnh đạo toàn diện của Đảng.
Đảng ủy Quốc hội đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức rất thành công cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 – 2031.
Thời gian tới, Tổng Bí thư nêu rõ Đảng ủy Quốc hội cần tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo, quán triệt và triển khai thực hiện có hiệu quả nghị quyết Đại hội XIV của Đảng.
Đồng thời xác định rõ đây là công việc xuyên suốt của cả nhiệm kỳ, không phải xây dựng các văn bản triển khai là xong.
Tinh thần của Đại hội XIV của Đảng phải thấm đến từng chi bộ, từng cán bộ, đảng viên trong Đảng bộ Quốc hội. Việc triển khai phải gắn chặt với từng chương trình, kế hoạch công tác, từng quyết sách cụ thể, từng kết quả thực hiện, đảm bảo nghị quyết thực sự đi vào cuộc sống.
Tổng Bí thư đề nghị phải biến thành công của cuộc bầu cử thành trách nhiệm, hành động cụ thể của Quốc hội và các đại biểu Quốc hội trong nhiệm kỳ khóa XVI.
Niềm tin, sự kỳ vọng của cử tri và nhân dân cả nước gửi gắm không chỉ dừng lại ở lá phiếu mà phải được chuyển hóa thành những quyết sách đúng đắn, những đạo luật chất lượng, những hoạt động giám sát thực chất và hiệu quả.
Các chủ trương, chính sách lớn của Đảng phải được chuyển thành các chương trình xây dựng pháp luật, các nghị quyết cụ thể, khả thi, không để tình trạng chậm thể chế hóa các chủ trương của Đảng, không để nợ thể chế trở thành điểm nghẽn của phát triển.
Tổng Bí thư Tô Lâm yêu cầu tập trung lãnh đạo và chuẩn bị tổ chức thật tốt kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI. Đây là kỳ họp có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, là kỳ họp khởi đầu, định hình toàn bộ hoạt động của Quốc hội trong cả nhiệm kỳ.
Đồng thời là kỳ họp thể chế hóa ngay một số quyết sách quan trọng đã được Hội nghị Trung ương 2 thông qua. Vì vậy, công tác chuẩn bị phải được thực hiện với tinh thần trách nhiệm cao nhất.
Tổng Bí thư nhấn mạnh tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo đổi mới tư duy trong xây dựng pháp luật, hoàn thiện thể chế theo tinh thần nghị quyết 66 của Bộ Chính trị. Lãnh đạo triển khai thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ lớn về định hướng lập pháp nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI.
Tổng Bí thư lưu ý phải luôn quan tâm thực hiện tốt công tác xây dựng Đảng, Đảng bộ Quốc hội trong sạch, vững mạnh, quán triệt và triển khai có hiệu quả các nghị quyết quy định mang tính nền tảng về xây dựng Đảng vừa được Hội nghị Trung ương 2 thông qua.
Tăng cường công tác bảo vệ chính trị nội bộ, phòng, chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến, tự chuyển hóa”, không để các đối tượng lợi dụng chính sách, phục vụ cho lợi ích nhóm…
Về kế hoạch kiểm tra, giám sát đợt 2, Tổng Bí thư chỉ rõ chất lượng lập pháp, giám sát của Quốc hội sẽ quyết định trực tiếp đến hiệu lực triển khai các mục tiêu tăng trưởng 2 con số.
Cùng với đó, lưu ý hai việc cấp bách gồm triển khai tổng rà soát hệ thống pháp luật Việt Nam theo lộ trình; hoàn thành việc luật hóa các nội dung trong các nghị quyết của Chính phủ đã được ban hành theo thủ tục ủy quyền lập pháp theo lộ trình.
Tổng Bí thư yêu cầu Đảng ủy Quốc hội phải tập trung lãnh đạo, chỉ đạo công tác phối hợp chặt chẽ để các công việc đảm bảo theo tiến độ và chất lượng tốt.
Đoàn kiểm tra, giám sát triển khai cũng phải tổ chức khoa học, chặt chẽ, đúng trọng tâm, trọng điểm, không được làm ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của các cơ quan, tổ chức của Quốc hội.
Không làm gián đoạn các công việc, không tạo thêm thủ tục, gánh nặng và các công việc không cần thiết…
Bộ Nội vụ đang lấy ý kiến dự thảo Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng số 02/2020/UBTVQH14 ngày 9-12-2020 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Theo Bộ Nội vụ, việc thực hiện chính sách công nhận liệt sĩ, thương binh, người hưởng chính sách như thương binh còn phát sinh vướng mắc.
Đặc biệt là tiêu chí với người hy sinh, bị thương khi làm nhiệm vụ đấu tranh phòng chống tội phạm, dũng cảm cứu người, cứu tài sản của Nhà nước, Nhân dân, ngăn chặn, bắt giữ người có hành vi phạm tội hoặc thương binh chết do vết thương tái phát.
Quy định này, theo Bộ Nội vụ, đảm bảo đầy đủ cơ sở khoa học, chặt chẽ song chưa phù hợp với phong tục, tập quán của Nhân dân. Bởi với thương binh điều trị tại các bệnh viện, đến khi biết là gần tử vong, gia đình sẽ xin về để từ trần tại nhà, do đó không có biên bản kiểm thảo tử vong.
Hay với thương binh nặng bị tổn thương cơ thể từ 81% trở lên (thương binh loại 1), thương binh tại các trung tâm nuôi dưỡng, khi từ trần trong quá trình điều trị ở trung tâm, họ không có bệnh án và biên bản kiểm thảo tử vong của bệnh viện.
Do đó, Bộ Nội vụ đề xuất quy định theo hướng vết thương tái phát là nguyên nhân chính dẫn đến tử vong đối với thương binh, người hưởng chính sách như thương binh với tỉ lệ tổn thương cơ thể từ 61% trở lên. Như vậy, quy định liên quan đến bệnh án điều trị, biên bản kiểm thảo tử vong sẽ được gỡ bỏ.
Còn thủ tục, hồ sơ cụ thể đã được hướng dẫn trong dự thảo nghị định thay thế nghị định số 131/2021/NĐ-CP, tức dùng xác nhận của cơ sở y tế hoặc của trung tâm nuôi dưỡng thương binh.
Ngày 20.7, Trung tâm kiểm soát bệnh tật TP.HCM (HCDC) cho biết, trong 6 tháng đầu năm 2026, TP.HCM ghi nhận 5 trường hợp tử vong do bệnh dại. Trong đó, xã Long Hải có 3 ca, xã Củ Chi 1 ca và xã Hòa Hiệp 1 ca.
Điều đáng lưu ý là tất cả trường hợp tử vong đều không tiêm vắc xin phòng dại và huyết thanh kháng dại. Có đến 40% trường hợp xử trí vết thương không đúng cách, như: tự lấy nọc, bôi dầu gió, đắp thuốc nam đã làm lỡ thời gian vàng cứu chữa.
Riêng phía nam, 6 tháng đầu năm 2026 đã có 20 ca tử vong do bệnh dại. Trong khi đó, căn bệnh này đã làm 30 người tử vong trên cả nước trong 6 tháng đầu năm nay.
Các chuyên gia y tế nhận định, thời tiết nắng nóng gay gắt hiện nay là điều kiện thuận lợi cho bệnh dại bùng phát. Sở Y tế TP.HCM đã có chỉ đạo về việc tăng cường công tác phòng, chống bệnh dại. HCDC cũng đã chủ động xây dựng kế hoạch phối hợp liên ngành với Chi cục chăn nuôi và thú y nhằm triển khai đồng bộ các hoạt động giám sát dịch tễ, truyền thông giáo dục sức khỏe và xử lý triệt để các ổ dịch, quyết tâm ngăn chặn bệnh truyền nhiễm nguy hiểm lây truyền từ động vật sang người.
Theo HCDC, bệnh dại khi đã phát bệnh sẽ gây tử vong 100%, nhưng hoàn toàn có thể phòng ngừa nếu xử trí đúng và tiêm phòng kịp thời.
Vì vậy, khi bị chó, mèo cắn hoặc cào thì phải xối rửa kỹ vết thương với nước và xà phòng trong vòng 15 phút, sau đó sát khuẩn bằng cồn 45 – 70 độ (cồn y tế hoặc cồn iot – povidine) để giảm thiểu lượng vi rút dại tại vết thương. Đồng thời đến cơ sở y tế để tiêm vắc xin phòng dại và huyết thanh kháng dại theo hướng dẫn của cán bộ y tế.
Tuyệt đối không lấy nọc; không bôi dầu gió lên vết thương; không đắp lá vào vết cắn, cào. Lưu ý là không sử dụng thuốc nam, thuốc đông y, lá cây hoặc các phương pháp dân gian để điều trị dại.
Pho tượng bằng đá sa thạch, cao 0,82 m, rộng 0,46 m, đặt tại chùa Linh Sơn, phường Quy Nhơn Đông. Tượng được tạc trong tư thế ngồi thiền, tay trái đặt giữa hai chân, tay phải cầm tràng hạt, gương mặt trầm mặc. Dù trải qua hàng trăm năm, nhiều chi tiết vẫn còn khá nguyên vẹn.
Theo các nhà nghiên cứu, đây là tượng thần Shiva của văn hóa Chămpa, có niên đại khoảng thế kỷ XV. Hiện vật mang hình thức độc bản, khác với các tượng Shiva từng phát hiện ở vùng Bình Định cũ, nay thuộc tỉnh Gia Lai. Năm 2018, pho tượng được công nhận là bảo vật quốc gia.
Điểm đặc biệt nằm ở mặt sau tượng, nơi khắc 12 dòng chữ Chămpa cổ. Nội dung bia ký xác định đây là tượng thần Shiva – một trong ba vị thần tối cao của Ấn Độ giáo. Văn bia còn nhắc tới vua Nauk Glaun Vijaya, người được ghi nhận từng đánh thắng người Việt và chiếm vương quốc Brah Kanda.
Sau nhiều thế kỷ, các dòng chữ vẫn hiện rõ trên nền đá phủ màu đỏ sẫm. Sư thầy Thích Thị Hòa, trụ trì chùa Linh Sơn, cho biết mỗi dịp Rằm tháng Giêng, nhiều phật tử đến chùa dùng bột châu sa hoặc thần sa xoa lên bia ký rồi đặt giấy lên mặt đá để in lại chữ cổ cầu may mắn, bình an. Tập tục này đã tồn tại từ rất lâu, người dân tin rằng giữ được dấu in sẽ gặp thuận lợi trong cuộc sống và làm ăn.
Chùa Linh Sơn được xây dựng năm 1913 tại làng chài Hải Giang trên bán đảo Phương Mai, nằm phía đông đầm Thị Nại, sau đó dời về thôn Hội Thành. Qua hơn một thế kỷ và nhiều lần sửa chữa, chùa vẫn giữ nét kiến trúc Phật giáo miền Trung với mái ngói cong, nền cao và không gian hướng biển.
Người dân địa phương quen gọi nơi đây là chùa Phật lồi, gắn với sự tích pho tượng "trồi lên" từ lòng đất. Theo lời kể của các bậc cao niên, nhiều đời trước, một ngư dân trong lúc làm ruộng gần bàu nước đã phát hiện pho tượng nhô lên khỏi mặt đất. Thấy hình dáng giống tượng Phật ngồi thiền, dân làng đưa về lập chùa thờ tự. Từ đó, cái tên "Phật lồi" được truyền miệng đến nay.
Trong cuốn Nước non Bình Định, tác giả Quách Tấn từng nhắc đến ngôi chùa này. Ông mô tả dưới chân núi Hòn Mai có bàu nước ngọt lớn cùng ngôi chùa cổ thờ pho tượng đá xanh lớn bằng người thật, được dân làng phát hiện bên mép bàu.
Pho tượng không chỉ mang giá trị khảo cổ mà còn gắn chặt với đời sống tâm linh của ngư dân Hải Giang. Trước mỗi chuyến ra khơi, nhiều người đến chùa thắp hương cầu biển yên, ghe đầy cá. Với cư dân miền biển, pho tượng là chỗ dựa tinh thần giữa những chuyến đánh bắt đầy rủi ro.
Ông Huỳnh Văn Lưu, 81 tuổi, cho biết từ thời cha ông, người dân đã xem Phật lồi như vị thần bảo hộ làng biển. Nhà nào gặp chuyện không may hay làm ăn thất bát cũng lên chùa cầu khấn. Người đi biển tin rằng được phù hộ thì sóng yên, ghe thuyền trở về an toàn.
Cùng với sự linh thiêng, pho tượng còn gắn với nhiều giai thoại huyền bí. Người già trong làng thường nói vui: "Đố ai đem được tượng Phật lồi ra khỏi làng chài này".
Theo lời kể, khoảng năm 1980 từng có nhóm người từ nơi khác đến định lấy trộm tượng. Tuy nhiên, khi vừa chạm vào, một số người bất ngờ tê cứng chân tay, hoảng loạn bỏ chạy.
Mười chín năm sau, một nhóm săn đồ cổ tiếp tục phá khóa chánh điện để mang tượng đi bán. Nhưng khi khiêng được vài mét, pho tượng bỗng nặng bất thường, nhiều người hợp sức vẫn không thể di chuyển thêm.
Năm 2000, một nhóm thanh niên nghe đồn tượng làm bằng "đồng đen" nên mang búa tới đập phá để bán phế liệu. Sau khi làm vỡ phần đầu, họ phát hiện tượng chỉ là đá xanh nên bỏ đi.
Sáng hôm sau, người dân phát hiện pho tượng nằm bên hông chùa, phần đầu gãy lìa. Sau đó, tượng được đưa trở lại chánh điện và gắn lại bằng xi măng như hiện nay.
Dù bị hư hại, pho tượng vẫn được người dân gìn giữ cẩn thận suốt nhiều năm. Với cư dân miền biển, việc tượng không thể bị mang đi nơi khác là minh chứng cho sự linh thiêng của Phật lồi. Không chỉ là hiện vật quý của văn hóa Chămpa, pho tượng còn gắn với niềm tin, ký ức và hy vọng của nhiều thế hệ ngư dân ven biển miền Trung.