Lễ ký kết đã diễn ra tại Mumbai, dưới sự chứng kiến của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cùng lãnh đạo cấp cao hai nước.
Trong bối cảnh kim ngạch thương mại song phương đã tăng gấp đôi trong một thập kỷ qua, kể từ khi Việt Nam và Ấn Độ nâng cấp quan hệ lên Đối tác Chiến lược toàn diện, kết nối hàng không phát triển nhanh với gần 90 chuyến bay mỗi tuần, lễ ký kết đánh dấu một bước tiến mới trong hợp tác hạ tầng và kết nối hàng không giữa Việt Nam và Ấn Độ.
Theo thỏa thuận, Sun Group và GMR Group sẽ hợp tác trên toàn bộ hệ sinh thái sân bay của Sun Group tại Việt Nam, bao gồm Phú Quốc, Vân Đồn, Phan Thiết và các sân bay trong tương lai.
Trọng tâm hợp tác hướng đến vận hành, phát triển và đầu tư, bao gồm các hoạt động phi hàng không, khai thác thương mại, bán lẻ miễn thuế (duty-free)… Phạm vi hợp tác được mở rộng, tạo dư địa để hai bên tiếp tục phát triển sang các lĩnh vực liên quan tới hạ tầng hàng không trong thời gian tới.
Song song, hai bên sẽ cùng làm việc để thúc đẩy kết nối hàng không và hợp tác dịch vụ sân bay giữa hai quốc gia. Nội dung này bao gồm việc nghiên cứu các đường bay mới kết nối Phú Quốc với các sân bay trọng điểm trong mạng lưới của GMR Group, nhằm thúc đẩy dòng khách du lịch và thương mại song phương.
Với hơn 20 năm kinh nghiệm về hạ tầng hàng không, GMR Group hiện quản lý và phát triển các sân bay lớn tại Ấn Độ, Indonesia, Philippines và Hy Lạp, trong đó có sân bay quốc tế Indira Gandhi (New Delhi) – một trong những cửa ngõ bận rộn nhất thế giới. Tổng công suất phục vụ hàng năm tại các sân bay do GMR Group phát triển đạt khoảng 190 triệu hành khách.
Trong bối cảnh Sun Group đã tiếp quản vận hành Cảng HKQT Phú Quốc theo định hướng “sân bay điểm đến” và vừa khởi công hạng mục hàng không dân dụng của Cảng hàng không Phan Thiết, hợp tác này được kỳ vọng sẽ mang đến những chuẩn mực vận hành đẳng cấp thế giới, nâng cao chất lượng dịch vụ và hiệu quả tại các sân bay do tập đoàn này đầu tư xây dựng và vận hành.
Đây cũng là nền tảng củng cố vai trò cửa ngõ của các sân bay tại các điểm đến du lịch trọng điểm và tăng cường vị thế cạnh tranh của hàng không Việt Nam trong khu vực.
Ấn Độ hiện đang nổi lên như một trong những thị trường khách quốc tế tăng trưởng nhanh nhất của du lịch Việt Nam. Theo Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam, năm 2025, Việt Nam đón khoảng 750.000 lượt khách Ấn Độ, tăng gần 50% so với năm trước và gấp hơn 4 lần so với con số của năm 2019, đưa Ấn Độ vào top 6 thị trường gửi khách lớn nhất. Riêng quý 1/2026, lượng khách từ Ấn Độ đã vượt 242.000 lượt, tăng 169,3% so với cùng kỳ.
Trong số các điểm đến tại Việt Nam, Phú Quốc đặc biệt thu hút du khách Ấn Độ, với lượng tìm kiếm tăng tới 47%. Năm 2025, Đảo Ngọc đón hơn 150.000 lượt khách Ấn Độ, mang về tổng doanh thu du lịch gần 44.000 tỉ đồng. Du khách Ấn Độ, đặc biệt là phân khúc cao cấp, bị thu hút bởi sức hấp dẫn “tất cả trong một” của Phú Quốc: hệ sinh thái nghỉ dưỡng và giải trí đồng bộ, khả năng tiếp cận bằng đường hàng không ngày càng thuận tiện và chính sách miễn thị thực 30 ngày dành cho khách quốc tế.
Mối quan hệ đối tác chiến lược giữa Sun Group và nhà vận hành hàng không hàng đầu Ấn Độ không chỉ vượt xa khỏi mục tiêu mở đường bay mới và hợp tác dịch vụ sân bay, mà còn góp phần đặt nền móng cho sự gắn kết sâu sắc hơn về văn hóa, kinh tế và du lịch giữa hai quốc gia. Qua đó, hợp tác này góp phần kiến tạo những con đường mới để Việt Nam nói chung và Phú Quốc nói riêng, vươn lên trở thành một điểm đến hấp dẫn và một trung tâm kết nối khu vực năng động.
Ngày 5.5, Bộ Công thương công bố bản tổng hợp, tiếp thu, giải trình ý kiến góp ý, phản biện xã hội đối với hồ sơ dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung khoản 4 điều 15 Nghị định số 56/2025/NĐ-CP ngày 3.3.2025 của Chính phủ.
Nghị định 56 quy định chi tiết một số điều của luật Điện lực về quy hoạch phát triển điện lực, phương án phát triển mạng lưới cấp điện, đầu tư xây dựng dự án điện lực và đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư dự án kinh doanh điện lực, được sửa đổi, bổ sung bởi khoản 2 điều 1 Nghị định số 100/2025/NĐ-CP ngày 8.5.2025 của Chính phủ, trong đó có đề xuất liên quan đến điện khí sử dụng LNG nhập khẩu.
Theo Bộ Công thương, hoàn thiện cơ chế “sản lượng điện hợp đồng tối thiểu dài hạn” (Qc) đối với các dự án điện khí sử dụng LNG nhập khẩu là một trong những nội dung trọng tâm của dự thảo lần này.
Trước đó, khi triển khai Nghị định 56 và Nghị định 100, nhiều chủ đầu tư phản ánh khó khăn trong việc thu xếp tài chính cho dự án, nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ việc thiếu cơ chế đảm bảo dòng tiền ổn định, trong khi các dự án điện khí LNG có tổng mức đầu tư lớn, phụ thuộc nhiều vào vốn vay.
Góp ý vào dự thảo lần này, các nhà đầu tư kiến nghị một số cơ chế như áp dụng giá điện 2 thành phần, cơ chế bao tiêu sản lượng điện, kéo dài thời gian áp dụng sản lượng điện hợp đồng, cũng như nâng tỷ lệ sản lượng điện tối thiểu lên mức cao hơn.
Sau khi tiếp thu, xem xét các kiến nghị từ nhà đầu tư, Bộ Công thương đề xuất nâng mức sản lượng điện hợp đồng tối thiểu dài hạn từ 65% lên 75% sản lượng điện phát bình quân nhiều năm của dự án, đồng thời kéo dài thời gian áp dụng tối đa từ 10 năm lên 15 năm.
Theo lý giải từ Bộ Công thương, mức điều chỉnh Qc đối với dự án điện khí sử dụng LNG nhập khẩu nói trên nhằm tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các nhà đầu tư trong việc thu xếp vốn, đồng thời vẫn bảo đảm cân đối lợi ích giữa các bên và phù hợp với khả năng vận hành của hệ thống điện.
Tuy nhiên, Bộ Công thương vẫn nhận được nhiều ý kiến từ các chủ đầu tư cho rằng, mức 75% vẫn chưa đủ hấp dẫn để bảo đảm tính khả thi tài chính của dự án, đề xuất nâng lên 85 - 95% và kéo dài thời gian áp dụng đến 20 - 25 năm.
Phản hồi đề xuất này, Bộ Công thương cho rằng, cơ quan soạn thảo dự thảo nghị định đã tiến hành tính toán, đánh giá trên nhiều kịch bản phụ tải điện khác nhau, từ cơ sở đến cao và cao đặc biệt.
Kết quả cho thấy, nếu tỷ lệ Qc tăng từ 80% trở lên có thể xuất hiện tình trạng “over contract”, tức sản lượng điện hợp đồng cao hơn nhu cầu huy động thực tế của hệ thống. Khi đó, dù không phát điện, bên mua điện vẫn phải thanh toán theo hợp đồng, dẫn đến gia tăng chi phí toàn hệ thống.
Đặc biệt, trong bối cảnh giá điện từ các nhà máy LNG thường cao hơn so với nhiều nguồn điện khác, việc tăng nghĩa vụ thanh toán hợp đồng có thể gây áp lực lên giá điện bình quân và ảnh hưởng đến người tiêu dùng. Vì vậy, Bộ Công thương đề xuất Qc chỉ tăng từ 65% lên 75%.
Cũng theo Bộ Công thương, ngoài vấn đề sản lượng điện hợp đồng, các doanh nghiệp và nhà đầu tư cũng đưa ra nhiều kiến nghị liên quan đến cơ chế giá điện, hợp đồng mua bán điện, tỷ giá, lạm phát, cũng như cơ chế bao tiêu nhiên liệu LNG...
Dự thảo nói trên đã nhận được ý kiến tham gia của 16 cơ quan, tổ chức, bao gồm các bộ, ngành: Tài chính, Tư pháp, Ngoại giao, Xây dựng, Quốc phòng… cùng nhiều tập đoàn, doanh nghiệp lớn trong lĩnh vực năng lượng như Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV), Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng quốc gia Việt Nam (Petrovietnam) và các nhà đầu tư dự án điện khí LNG.
Công ty kỳ vọng các động lực tăng trưởng như cho vay margin, ngân hàng đầu tư và hoạt động đầu tư nguồn vốn sẽ tăng tốc rõ nét từ quý II trở đi.
Vay margin – Động lực chính cho tăng trưởng
Quý I/2026, thị trường chứng khoán Việt Nam chịu nhiều biến động trước tác động từ bất ổn địa chính trị và môi trường lãi suất cao, khiến VN-Index có thời điểm giảm mạnh trong tháng 3. Bối cảnh này tạo áp lực đáng kể lên hoạt động đầu tư và biên lợi nhuận của các công ty chứng khoán, trong đó có VPBankS.
Tại sự kiện gặp gỡ nhà đầu tư và công bố kết quả kinh doanh quý I/2026, ông Nhâm Hà Hải, Tổng Giám đốc Công ty Chứng khoán VPBank (VPBankS, HoSE: VPX), khẳng định kết quả quý I "nằm trong dự liệu". Theo đó, lãnh đạo VPBankS cho biết công ty vẫn giữ nguyên mục tiêu lợi nhuận tham vọng năm 2026 hơn 6.450 tỷ đồng, và kỳ vọng các động lực tăng trưởng sẽ tăng tốc rõ nét hơn từ quý II trở đi.
Theo lãnh đạo VPBankS, mảng cho vay ký quỹ (margin) tiếp tục đóng vai trò là trụ cột tăng trưởng quan trọng nhất trong năm nay. Hiện dư nợ margin của công ty đã đạt khoảng 38.000 tỷ đồng, tăng khoảng 4.000 tỷ đồng so với đầu năm. Với đà tăng hiện tại, VPBankS đặt mục tiêu đưa quy mô dư nợ margin lên khoảng 50.000 tỷ đồng vào cuối năm 2026.
Động lực tăng trưởng này đặt trong bối cảnh thanh khoản thị trường chứng khoán đang cải thiện rõ nét, cùng với xu hướng dòng tiền cá nhân quay trở lại khi mặt bằng lãi suất ổn định hơn và dự kiến giảm dần vào cuối năm. Điều đó sẽ mở ra dư địa lớn cho hoạt động cho vay ký quỹ, đặc biệt đối với các công ty chứng khoán sở hữu lợi thế mạnh về nguồn vốn và năng lực huy động như VPBankS.
Ngoài ra, VPBankS còn được hỗ trợ bởi khả năng tiếp cận nguồn vốn chi phí thấp từ hệ sinh thái VPBank. Trước đó, công ty đã huy động thành công các khoản vay hợp vốn quốc tế quy mô lớn, tạo nền tảng tài chính cho chiến lược mở rộng hoạt động margin cũng như gia tăng hiệu quả đầu tư trong năm 2026.
Song song với tăng trưởng dư nợ cho vay, VPBankS cũng đang đẩy mạnh hiện diện trên thị trường. Sau khi lần đầu lọt top 10 thị phần môi giới HoSE trong quý IV/2025 và tiếp tục duy trì vị trí này trong quý I năm nay, công ty hướng tới mục tiêu chiếm khoảng 5% thị phần HoSE trong năm 2026. Việc mở rộng tệp khách hàng cá nhân và gia tăng quy mô giao dịch sẽ tiếp tục tạo thêm dư địa tăng trưởng cho doanh thu margin trong các quý còn lại của năm.
Mảng IB được kỳ vọng bứt tốc từ quý II
Bên cạnh margin, mảng ngân hàng đầu tư (IB) cũng được xem là động lực tăng trưởng của VPBankS trong năm nay. Theo ban lãnh đạo công ty, doanh thu từ hoạt động tư vấn phát hành trái phiếu sẽ bắt đầu ghi nhận rõ nét từ quý II, thay vì tập trung vào quý đầu năm.
Sự phục hồi dần của thị trường trái phiếu doanh nghiệp tạo điều kiện thuận lợi hơn cho hoạt động tư vấn của các công ty chứng khoán, trong đó có VPBankS. Sau giai đoạn tái cấu trúc và hoàn thiện hành lang pháp lý, thị trường đang ghi nhận tín hiệu cải thiện về thanh khoản, cũng như nhu cầu huy động vốn của doanh nghiệp. Với lợi thế hệ sinh thái khách hàng doanh nghiệp từ VPBank và đối tác chiến lược SMBC, cùng năng lực phân phối và tư vấn với đội ngũ chuyên gia giàu kinh nghiệm, VPBankS được đánh giá có nhiều cơ hội mở rộng thị phần trong mảng này.
VPBankS đặt mục tiêu tư vấn phát hành khoảng 35.000 tỷ đồng trái phiếu trong năm 2026. Tuy nhiên, ngay trong quý II, CEO VPBankS cho biết đã ghi nhận lượng trái phiếu phát hành dự kiến tư vấn quy mô khoảng 60.000 tỷ đồng đến từ các doanh nghiệp lớn.
"Chúng tôi đang lập kế hoạch triển khai tư vấn, bảo lãnh và phân phối. Doanh thu quý II dự kiến sẽ ghi nhận một lượng lớn phí tư vấn và phân phối từ con số 60.000 tỷ đồng này", CEO VPBankS cho biết.
Không chỉ dừng ở hoạt động tư vấn và phân phối, VPBankS còn kỳ vọng tối ưu hiệu quả hoạt động đầu tư nguồn vốn. Theo CEO VPBankS, trong quý I, lượng vốn huy động từ các khoản vay hợp vốn quốc tế, với quy mô 200 triệu USD được dẫn dắt bởi SMBC, chưa được giải ngân hết do thị trường chưa có nhiều cơ hội đầu tư phù hợp.
Tuy nhiên, khi nguồn cung trái phiếu mới gia tăng từ quý II cùng với hoạt động IB khởi sắc, VPBankS sẽ có điều kiện phân bổ nguồn vốn vào các tài sản có lợi suất cao hơn. Đây được xem là yếu tố có thể giúp doanh thu đầu tư cải thiện mạnh trong các quý cuối năm, đồng thời tạo thêm động lực để công ty hoàn thành mục tiêu lợi nhuận đã đề ra.
Ngày 5.5, Bộ Tài chính công bố bảng tổng hợp, giải trình ý kiến góp ý của các cơ quan, tổ chức về dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều quy định của Nghị định 68/2026 về chính sách thuế đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh. Trong đó, UBND tỉnh Nghệ An đề xuất Ban soạn thảo xem xét việc quy định ngưỡng doanh thu áp dụng cho từng ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh. Lý do tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu của từng nghề, lĩnh vực kinh doanh là khác nhau. Bên cạnh đó, đề nghị Ban soạn thảo bổ sung thêm quy định về xác định doanh thu của hộ kinh doanh có hành vi chia tách thành nhiều hộ kinh doanh (căn cứ vào các yếu tố: địa điểm kinh doanh, ngành nghề,mối quan hệ giữa các chủ thể kinh doanh, dòng tiền và các dấu hiệu liên kết khác) nhằm hạn chế việc lợi dụng kẽ hở chính sách để tránh thuế.
Trả lời góp ý này, Bộ Tài chính cho biết, luật Thuế Thu nhập cá nhân quy định 1 mức doanh thu không chịu thuế thu nhập cá nhân; tại luật Thuế giá trị gia tăng cũng chỉ quy định 1 mức doanh thu để xác định đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng. Việc quy định 1 mức doanh thu không phải nộp thuế thu nhập cá nhân, không chịu thuế giá trị gia tăng đã thực hiện ổn định thời gian qua. Quy định này đảm bảo thống nhất, công bằng một cách tương đối cho các đối tượng nộp thuế. Mức miễn thuế là mức doanh thu phát sinh từ đầu nên chênh lệch về thu nhập ở mức này giữa các ngành nghề, lĩnh vực là không lớn. Khi doanh thu đến mức chịu thuế, thu nhập giữa các ngành nghề/lĩnh vực có sự chênh lệch lớn thì luật Thuế thu nhập cá nhân và luật Thuế giá trị gia tăng đã có quy định mức thuế suất khác nhau để điều tiết cho phù hợp với từng loại hình. Cụ thể, đối với lĩnh vực phân phối, cung cấp hàng hóa thì tỷ lệ thuế thu nhập cá nhân là 0,5%, tỷ lệ thuế giá trị gia tăng là 1%; đối với lĩnh vực dịch vụ, xây dựng không bao thầu nguyên vật liệu thì tỷ lệ thuế thu nhập cá nhân là 2%,tỷ lệ thuế giá trị gia tăng là 5%; đối với lĩnh vực sản xuất, vận tải, dịch vụ có gắn với hàng hóa, xây dựng có bao thầu nguyên vật liệu thì tỷ lệ thuế thu nhập cá nhân là 1,5%, tỷ lệ thuế giá trị gia tăng là 3% và đối với hoạt động kinh doanh khác tỷ lệ này lần lượt là 1% và 2%.
Bộ Tài chính nhấn mạnh: thay vì quy định mức doanh thu miễn thuế khác nhau, đối với từng ngành nghề/lĩnh vực, luật đã quy định tỷ lệ thuế tính trên doanh thu (%) khác nhau cho từng nhóm ngành. Việc quy định 1 mức doanh thu, không phân biệt theo ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh đảm bảo thống nhất và cũng tương đồng với kinh nghiệm của một số nước trên thế giới.
Theo Nghị định 141/2026/NĐ-CP, doanh thu miễn thuế của hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh chính thức nâng từ 500 triệu đồng/năm lên 1 tỉ đồng/năm.