Chiều 11-5, Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ XI bước vào phiên làm việc đầu tiên.
Đại hội có sự tham dự của 1.136 đại biểu chính thức, đại diện cho các giai cấp, tầng lớp Nhân dân, dân tộc, tôn giáo, lực lượng vũ trang, người Việt Nam ở nước ngoài và cán bộ Mặt trận các cấp.
Tại phiên họp, đại hội biểu quyết nhất trí thông qua danh sách Đoàn Chủ tịch gồm 33 vị và Đoàn Thư ký gồm 3 vị; đồng thời thông qua chương trình, quy chế làm việc và nghe báo cáo tình hình đại biểu tham dự.
Tổng số đại biểu chính thức tham dự Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ XI, nhiệm kỳ 2026-2031 là 1.136 đại biểu, gồm ba nhóm: đại biểu đương nhiên là 362 Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam khóa X; đại biểu cử là 705 người (trong đó các tổ chức thành viên ở Trung ương cử 129 người, Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các tỉnh, thành phố hiệp thương cử 576 người); đại biểu chỉ định là 69 người được giới thiệu lần đầu tham gia Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam khóa XI.
Phó chủ tịch – Tổng thư ký Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Hà Thị Nga trình bày tóm tắt báo cáo kiểm điểm hoạt động của Ủy ban Trung ương, Đoàn Chủ tịch và Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giai đoạn 2024-2026.
Bà nêu rõ đại hội diễn ra ngay sau thành công của Đại hội XIV của Đảng và cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI, HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 – 2031.
Đồng thời diễn ra sau hơn một năm thực hiện nghị quyết Đại hội lần thứ X của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và gần một năm hoạt động theo mô hình tổ chức mới.
Nhiệm kỳ 2024 – 2026, bà Hà Thị Nga nêu rõ nhiều kết quả quan trọng, trong đó tổ chức điều hành bộ máy của Mặt trận Tổ quốc các cấp sau sáp nhập, tinh gọn ngày càng hiệu lực, hiệu quả, thực chất và hướng mạnh về cơ sở.
Kịp thời bám sát các chỉ đạo, điều hành của Đảng, Nhà nước về ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số vào công tác điều hành bộ máy, thể hiện được vai trò đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân…
Từ kết quả của giai đoạn vừa qua, bà Hà Thị Nga nêu ra nhiều bài học, trong đó hoạt động của Mặt trận phải luôn gắn bó, nắm bắt tâm tư, nguyện vọng và yêu cầu chính đáng của các tầng lớp Nhân dân.
Cùng với đó quán triệt sâu sắc quan điểm “Dân là gốc”, Nhân dân là chủ thể, là trung tâm của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc…
Phó chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Hoàng Công Thủy trình bày tờ trình về việc sửa đổi, bổ sung Điều lệ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam – văn bản được Đại hội đại biểu Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ X thông qua tháng 10-2024.
Qua hơn một năm triển khai, thực hiện chủ trương của Bộ Chính trị, Ban Bí thư về sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy hệ thống chính trị, tổ chức bộ máy và phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã có nhiều thay đổi – nhất là sau khi các tổ chức chính trị – xã hội và hội quần chúng do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ được chuyển về trực thuộc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
Trước yêu cầu đó, Điều lệ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cần được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với tình hình mới, nhằm nâng cao chất lượng công tác Mặt trận, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và góp phần đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới đất nước trong kỷ nguyên mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng.
Ông Hoàng Công Thủy cho hay điều lệ được đề xuất sửa đổi, bổ sung nhiều nội dung.
Đáng chú ý, thẩm quyền của Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương về công tác nhân sự sẽ được mở rộng: trong một số trường hợp giữa hai kỳ họp, Đoàn Chủ tịch được ủy quyền xem xét hiệp thương cử cán bộ chuyên trách đã được cấp có thẩm quyền giới thiệu tham gia Ủy ban, Đoàn Chủ tịch và Ban Thường trực.
Điều lệ cũng sửa đổi, bổ sung các quy định liên quan đến hội đồng tư vấn, ban tư vấn, tổ tư vấn và cộng tác viên.
Về thành phần Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã, quy định được biên tập lại theo hướng bổ sung một số cán bộ chuyên trách của cơ quan Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã.
Nhiệm kỳ của Ban Công tác Mặt trận cũng được sửa đổi, theo đó trùng với nhiệm kỳ của chi bộ.
Dự thảo Luật Bảo vệ môi trường sửa đổi đang được Bộ Nông nghiệp và Môi trường lấy ý kiến hoàn thiện theo hướng siết chặt quản lý ô nhiễm ngay từ nguồn, đồng thời tháo gỡ các điểm nghẽn kéo dài trong thực thi luật hiện hành.
Ba nhóm chính sách lớn được đặt ra gồm: phân loại rác sinh hoạt tại nguồn, quản lý chất lượng môi trường nước mặt và kiểm soát ô nhiễm không khí. Các điều chỉnh này được xây dựng trên cơ sở tổng kết thi hành Luật Bảo vệ môi trường 2020, trong đó nhiều quy định được đánh giá là chưa theo kịp thực tiễn, đặc biệt ở khâu tổ chức thực hiện và hạ tầng.
Hai phương án phân loại rác tại nguồn
Một trong những điểm cần thay đổi là quy định phân loại rác sinh hoạt tại nguồn, dù được luật hóa nhưng triển khai chưa hiệu quả. Dự thảo hiện đưa ra hai phương án: giữ mô hình ba nhóm gồm rác có khả năng tái sử dụng, tái chế; rác thực phẩm và rác sinh hoạt khác. Hoặc đơn giản hóa còn hai nhóm, trong đó rác thực phẩm được gộp vào rác sinh hoạt.
Báo cáo đánh giá thi hành Luật Bảo vệ môi trường 2020 cho thấy sau nhiều năm triển khai, việc phân loại rác tại nguồn mới chủ yếu dừng ở thí điểm, chưa được triển khai đồng bộ trên phạm vi cả nước. Nguyên nhân lớn nhất là thiếu đồng bộ giữa quy định, hạ tầng thu gom xử lý và cơ chế tổ chức thực hiện.
Hiện khoảng 63% chất thải rắn sinh hoạt vẫn được xử lý bằng chôn lấp, trong đó nhiều bãi không hợp vệ sinh. Trong khi đó, rác thực phẩm chiếm hơn 50% tổng lượng rác nhưng năng lực xử lý thành phân hữu cơ mới đạt khoảng 13%. Điều này khiến việc tách riêng rác hữu cơ trụ cột của mô hình ba nhóm gặp nhiều khó khăn trong thực tiễn.
Không ít địa phương chưa có hệ thống thu gom và xử lý tương ứng sau phân loại. Dù người dân phân loại tại nguồn, rác vẫn bị thu gom chung do thiếu hạ tầng riêng biệt. Cùng với đó là hạn chế về quỹ đất, chi phí đầu tư cao và sự phụ thuộc vào các hợp đồng xử lý rác theo công nghệ chôn lấp kéo dài.
Một số địa phương như Hải Phòng ghi nhận tỷ lệ xử lý bằng chôn lấp có thời điểm lên tới 85%, cao hơn nhiều so với mục tiêu giảm xuống dưới 30%.
Không cấp phép nếu sông, hồ vượt sức chịu tải
Với môi trường nước mặt, dự thảo sửa đổi nhấn mạnh nguyên tắc kiểm soát ô nhiễm theo khả năng chịu tải của từng sông, hồ. Theo đó, các dự án có xả thải trực tiếp sẽ không được phê duyệt đánh giá tác động môi trường hoặc cấp phép môi trường nếu nguồn tiếp nhận đã được xác định không còn khả năng tiếp nhận thêm chất ô nhiễm.
Điểm mới là việc phân tách rõ hai trường hợp: nguồn nước không còn khả năng chịu tải đối với toàn bộ thông số và trường hợp chỉ vượt ngưỡng ở một số thông số nhất định. Cách tiếp cận này nhằm khắc phục bất cập hiện hành khi khái niệm "hết khả năng chịu tải" chưa được định lượng rõ ràng, gây khó khăn trong áp dụng.
Báo cáo tổng kết thi hành Luật Bảo vệ môi trường 2020 cho thấy việc cấp phép hiện nay vẫn chủ yếu dựa trên từng dự án riêng lẻ, chưa tính đến tổng tải lượng ô nhiễm của toàn lưu vực. Hệ quả là nhiều dự án đều đạt quy chuẩn nhưng tổng xả thải lại vượt khả năng tự làm sạch của sông, hồ.
Thực tế, nhiều hệ thống sông đã rơi vào tình trạng quá tải kéo dài. Dự thảo vì vậy chuyển sang cách tiếp cận theo lưu vực và sức chịu tải tổng thể, thay vì quản lý rời rạc từng nguồn thải. Tuy nhiên, vẫn có cơ chế linh hoạt cho dự án áp dụng công nghệ xử lý tiên tiến, tái sử dụng nước hoặc không làm gia tăng ô nhiễm.
Theo dự thảo, trách nhiệm của chính quyền địa phương cũng được nâng lên, trong đó chủ tịch UBND cấp tỉnh có thể bị xem xét trách nhiệm nếu để xảy ra ô nhiễm nghiêm trọng trên địa bàn.
Trong lĩnh vực không khí, dự thảo chuyển từ cơ chế cảnh báo sang dự báo ô nhiễm, nhằm tăng tính chủ động trong phòng ngừa thay vì phản ứng khi ô nhiễm đã xảy ra.
Theo cơ quan soạn thảo, quy định hiện hành mới chủ yếu dừng ở cảnh báo, chưa tạo đủ cơ sở pháp lý để triển khai các biện pháp ứng phó sớm trong các đợt ô nhiễm không khí nghiêm trọng.
Báo cáo thi hành Luật Bảo vệ môi trường 2020 cũng chỉ ra hạn chế này, khi hệ thống quản lý chưa đủ công cụ để dự báo và kích hoạt biện pháp phòng ngừa kịp thời, đặc biệt tại các đô thị lớn.
Dự thảo đồng thời làm rõ trách nhiệm của UBND cấp tỉnh trong tổ chức ứng phó khẩn cấp và chịu trách nhiệm về chất lượng không khí trên địa bàn.
Một điểm mới của dự thảo là kiểm soát phát thải từ giao thông vận tải - nguồn gây ô nhiễm ngày càng lớn tại đô thị. Dự thảo bổ sung cơ sở pháp lý để lắp đặt thiết bị giám sát phát thải đối với một số loại phương tiện, đồng thời cho phép địa phương điều tiết phương tiện sử dụng nhiên liệu hóa thạch tại một số khu vực, thời điểm phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội.
Cơ quan soạn thảo cũng rà soát quy định về tiêu chuẩn kỹ thuật đối với phương tiện giao thông nhập khẩu, sản xuất, lắp ráp để phù hợp với mô hình quản lý mới.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết dự thảo Luật Bảo vệ môi trường sửa đổi được xây dựng nhằm khắc phục các bất cập phát sinh trong quá trình thi hành Luật Bảo vệ môi trường 2020, bảo đảm đồng bộ với hệ thống pháp luật có liên quan và phù hợp hơn với thực tiễn quản lý môi trường hiện nay.
Việc sửa đổi tập trung hoàn thiện các công cụ quản lý theo hướng hiện đại, minh bạch, tăng cường phân cấp, phân quyền và nâng cao tính khả thi trong tổ chức thực hiện, đồng thời đáp ứng yêu cầu kiểm soát ô nhiễm và thúc đẩy phát triển bền vững trong giai đoạn mới.
Bộ Nội vụ vừa công bố dự thảo Thông tư hướng dẫn thực hiện mức lương cơ sở đối với các đối tượng hưởng lương, phụ cấp trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức chính trị - xã hội và hội.
Theo đó, từ ngày 1.7.2026, mức lương cơ sở dự kiến tăng lên 2,53 triệu đồng/tháng, làm căn cứ tính lương, phụ cấp và nhiều chế độ liên quan.
Dự thảo quy định phạm vi áp dụng rộng, bao gồm cán bộ, công chức, viên chức trong hệ thống chính trị; người làm việc trong đơn vị sự nghiệp công lập; người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, thôn, tổ dân phố; đại biểu HĐND các cấp…
Đây là những nhóm đang hưởng lương hoặc phụ cấp từ ngân sách nhà nước hoặc có liên quan đến chế độ tiền lương khu vực công.
Theo dự thảo, công thức tính mức lương như sau:
Mức lương từ ngày 1.7 = mức lương cơ sở (2,53 triệu đồng/tháng) x hệ số lương hiện hưởng.
Cụ thể, một viên chức tốt nghiệp đại học mới ra trường, xếp lương bậc 1 ngạch A1 với hệ số 2,34, hiện nhận khoảng 5,48 triệu đồng/tháng nếu tính theo mức lương cơ sở 2,34 triệu đồng. Khi áp dụng mức lương cơ sở mới 2,53 triệu đồng từ ngày 1.7, lương của nhóm này sẽ tăng lên khoảng 5,92 triệu đồng/tháng, tức tăng thêm gần 440.000 đồng mỗi tháng.
Tương tự, một viên chức đạt bậc 9 ngạch A1 với hệ số lương 4,98 hiện nhận khoảng 11,65 triệu đồng/tháng. Khi áp dụng mức lương cơ sở mới 2,53 triệu đồng, lương của nhóm này sẽ tăng lên khoảng 12,6 triệu đồng/tháng, tương đương tăng gần 1 triệu đồng mỗi tháng.
Đối với nhóm trình độ cao như thạc sĩ, tiến sĩ, giáo sư đang giữ các ngạch cao sẽ có mức thu nhập đáng kể khi áp dụng lương cơ sở mới.
Chẳng hạn, một viên chức ngạch A3, bậc 1 với hệ số 6,2 hiện nhận khoảng 14,5 triệu đồng/tháng, khi áp dụng mức lương cơ sở mới 2,53 triệu đồng, lương của nhóm này sẽ tăng lên khoảng 15,7 triệu đồng/tháng, tức tăng hơn 1,1 triệu đồng.
Với các bậc cao hơn trong cùng ngạch A3, bậc 6 với hệ số 8,0 hiện nhận khoảng 18,72 triệu đồng/tháng. Khi áp dụng mức lương cơ sở mới 2,53 triệu đồng, lương của nhóm này sẽ tăng lên khoảng 20,24 triệu đồng/tháng, tức tăng hơn 1,5 triệu đồng mỗi tháng, chưa bao gồm các khoản phụ cấp đi kèm.
Bên cạnh hướng dẫn cách tính mức lương, dự thảo còn đưa ra công thức tính mức phụ cấp. Đối với các khoản phụ cấp tính theo mức lương cơ sở công thức tính như sau:
Mức phụ cấp từ ngày 1.7 = mức lương cơ sở (2,53 triệu đồng/tháng) x hệ số phụ cấp hiện hưởng
Đối với các khoản phụ cấp tính theo phần trăm mức lương hiện hưởng cộng phụ cấp chức vụ lãnh đạo và phụ cấp thâm niên vượt khung (nếu có) mức phụ cấp từ 1.7 được xác định bằng cách cộng mức lương thực hiện từ 1.7 cộng mức phụ cấp chức vụ lãnh đạo và phụ cấp thâm niên vượt khung (nếu có), sau đó nhân với tỷ lệ phần trăm phụ cấp theo quy định.
Đối với đại biểu HĐND, căn cứ vào hệ số hoạt động phí theo quy định hiện hành để tính mức hoạt động phí. Công thức như sau:
Mức hoạt động phí thực hiện từ 1.7 = Mức lương cơ sở (2,53 triệu đồng/tháng) × hệ số hoạt động phí theo quy định.
Đối với người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, thôn, tổ dân phố, mức phụ cấp được tính trên cơ sở mức lương cơ sở nhân với hệ số phụ cấp theo quy định, tương tự cách tính đối với các đối tượng hưởng lương từ ngân sách.
Mức phụ cấp = mức lương cơ sở (2,53 triệu đồng/tháng) × hệ số phụ cấp theo quy định.
Đối với người làm việc trong tổ chức cơ yếu, mức lương và các khoản phụ cấp được tính tương tự cán bộ, công chức, trên cơ sở mức lương cơ sở nhân với hệ số lương và hệ số phụ cấp theo quy định hiện hành.
Nếu được ban hành, thông tư này sẽ có hiệu lực từ ngày 1.7.2026, đồng thời thay thế quy định hiện hành về hướng dẫn thực hiện mức lương cơ sở.
Theo đó, kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI đã hoàn thành toàn bộ nội dung, chương trình đề ra với nhiều quyết sách quan trọng được thông qua.
Tại nghị quyết được thông qua, Quốc hội yêu cầu Chính phủ tiếp tục chỉ đạo, phối hợp chặt chẽ với các cơ quan theo dõi sát diễn biến, dự báo tình hình, có đối sách ứng phó kịp thời, hiệu quả, tập trung triển khai quyết liệt, đúng tiến độ các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm năm 2026 để thực hiện thắng lợi mục tiêu tăng trưởng "2 con số".
Phấn đấu hoàn thành ở mức cao nhất các chỉ tiêu trong kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2026; chủ động điều hành ngân sách nhà nước, phấn đấu thu ngân sách nhà nước năm 2026 tăng ít nhất 10% so với thực hiện năm 2025.
Tiếp tục thúc đẩy, nâng cao hiệu quả công tác ký kết và thực hiện các điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế, bố trí nguồn lực tương xứng để góp phần thực hiện hiệu quả Chỉ thị số 56-CT/TW ngày 24.12.2025 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác ký kết, thực hiện các cam kết quốc tế.
Cạnh đó, Quốc hội yêu cầu Chính phủ, Thủ tướng, các bộ, ngành, địa phương tiếp tục siết chặt kỷ cương, kỷ luật tài chính; thực hành tiết kiệm triệt để, kiên quyết cắt giảm các khoản chi không cần thiết để tăng chi đầu tư cho các công trình trọng điểm, cải cách tiền lương và chi an sinh xã hội.
Khai thác hợp lý dư địa nợ công, bội chi nhằm tạo nguồn lực cho đầu tư phát triển; tăng cường thanh tra, kiểm tra, triển khai đồng bộ các giải pháp nhằm khắc phục tình trạng lãng phí, nhất là lãng phí trong quản lý, sử dụng ngân sách nhà nước, tài sản công, đất đai, tài nguyên, các dự án, công trình chậm tiến độ, không thực hiện đầy đủ cam kết.
Đề cao trách nhiệm của người đứng đầu các bộ, ngành, địa phương, đơn vị và xử lý nghiêm các tổ chức, cá nhân vi phạm quy định, theo đúng Kết luận số 18-KL/TW Hội nghị Trung ương 2 khóa XIV và luật Tiết kiệm, chống lãng phí.
Nghị quyết cho phép bổ sung nguồn cải cách tiền lương của ngân sách Trung ương và ngân sách địa phương từ kinh phí tiết kiệm chi hỗ trợ hoạt động thường xuyên ngân sách nhà nước (chi từ lương và chi hoạt động theo quy định của pháp luật) năm 2025 do sắp xếp tổ chức bộ máy, thực hiện chính quyền địa phương 2 cấp.