Cơ quan Nghề cá Biển Quốc gia Mỹ (NMFS), thuộc NOAA vừa công bố kết quả xem xét lại các kết luận công nhận tương đương theo Đạo luật Bảo vệ động vật có vú biển (MMPA) đối với nghề khai thác ghẹ.
Theo đó, Mỹ sẽ cấm nhập khẩu ghẹ từ các nghề lưới rê và lồng/bẫy của Philippines, trong khi tiếp tục cho phép nhập khẩu ghẹ từ Việt Nam, Indonesia và Sri Lanka.
Trước đó, tháng 8/2025, NMFS từng đánh giá khoảng 2.500 ngư trường tại 135 quốc gia và xác định 240 ngư trường không đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn bảo vệ động vật có vú biển theo MMPA. Trong nhóm này có các ngư trường khai thác ghẹ của Việt Nam, Indonesia, Sri Lanka và Philippines.
Kết luận khi đó khiến ngành thủy sản lo ngại, bởi Viện Thủy sản Quốc gia Mỹ (NFI) ước tính khoảng 89% lượng ghẹ nhập khẩu vào Mỹ có nguy cơ bị cắt giảm. Sau đó, một nhóm doanh nghiệp hải sản cùng NFI và Trung tâm Luật Nhà hàng đã khởi kiện NMFS, cho rằng các quyết định chủ yếu dựa trên khác biệt về quy định thay vì tác động thực tế tới động vật có vú biển.
Vụ kiện được giải quyết vào tháng 11/2025 khi NMFS đồng ý rà soát lại kết luận. Theo kế hoạch, kết quả sửa đổi sẽ được đăng trên Công báo Liên bang ngày 12/5/2026 và lệnh cấm với ghẹ Philippines sẽ có hiệu lực sau 30 ngày, tức khoảng giữa tháng 6/2026.
Theo dữ liệu NOAA, năm 2025 Mỹ nhập khẩu 2.417 tấn ghẹ xanh từ Philippines. Trong khi đó, Indonesia xuất khẩu 14.290 tấn ghẹ sang Mỹ, Việt Nam đạt 4.143 tấn và Sri Lanka đạt 820 tấn.
Tin Gốc: Người Đưa Tin

Theo đó, qheo đó, quy định này nhằm thực hiện Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa số 78 năm 2025 (sửa đổi Luật số 05/2007/QH12), được cụ thể tại Nghị định 37 quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật 78.
Trong đó, đáng chú ý là việc các mặt hàng dự kiến thuộc danh mục rủi ro cao sẽ bắt buộc phải truy xuất nguồn gốc đồng thời khhuyến khích các sản phẩm, hàng hóa khác thực hiện truy xuất nguồn gốc.
Giữa bối cảnh đó, toạ đàm "Truy xuất nguồn gốc – Lá chắn bảo vệ doanh nghiệp và người tiêu dùng" do Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước (Bộ Công Thương) phối hợp với Tiếp thị & Gia đình tổ chức, diễn ra sáng 22/5 tới đây tại Hà Nội rất được cộng đồng doanh nghiệp và người tiêu dùng chú ý.
Toạ đàm không chỉ giới thiệu một số quy định mới tại dự thảo thông tư mà còn là dịp để doanh nghiệp chia sẻ những lo lắng, trở ngại trong quá thực hiện truy xuất nguồn gốc hàng hoá.
Bên cạnh đó, câu chuyện thành công của những doanh nghiệp tiên phong thực hiện truy xuất nguồn gốc từ rất sớm, cũng sẽ phần nào góp phần giải toả những băn khoăn lẫn bài học để cả các công ty và cơ quan quản lý đúc rút, góp phần triển khai các quy định tới đây được sớm thực chất, đi vào đời sống, nhằm minh bạch thị trường, bảo vệ người tiêu dùng lẫn chính các doanh nghiệp làm ăn tử tế.
Điều đáng chú ý nữa là, toạ đàm diễn ra giữa lúc chính Bộ Công Thương đang đề xuất cắt giảm các điều kiện kinh doanh đối với nhiều mặt hàng vốn được doanh nghiệp kiến nghị từ lâu, như khí, xăng dầu…
Một khi doanh nghiệp được giảm bớt điều kiện, trao quyền chủ động hơn, thì đồng thời, cũng đòi hỏi họ phải có trách nhiệm hơn trong quản lý chất lượng, đường đi của sản phẩm. Khi đó, truy xuất nguồn gốc càng trở nên có ý nghĩa hơn trong việc để cơ quan quản lý hậu kiểm, giám sát, nhất là khi sản phẩm hàng hoá bị phát hiện kém chất lượng, nguy hại cho người tiêu dùng và ảnh hưởng xấu đến tính lành mạnh của thị trường.
Cũng cần nói thêm rằng, từ cuối tháng 12/2025, Hệ thống truy xuất nguồn gốc tại địa chỉ www.verigoods.vn của Bộ Công Thương đã chính thức đi vào vận hành, góp phần minh bạch thông tin sản phẩm, bảo vệ người tiêu dùng và hỗ trợ doanh nghiệp phát triển bền vững.
Tin Gốc: Người Đưa Tin

Bộ Tài chính vừa công bố tổng hợp ý kiến góp ý, tiếp thu và giải trình của về dự thảo Thông tư quy định về hóa đơn điện tử, chứng từ điện tử. Theo đó, Cục Thương mại điện tử và Kinh tế số (Bộ Công thương) đề nghị lùi thời điểm áp dụng Thông tư thêm 6 tháng so với dự kiến. Việc lùi thời gian áp dụng để các đơn vị chủ quản nền tảng thương mại điện tử, tổ chức cung cấp giải pháp và các bên liên quan có đủ thời gian rà soát quy định, nâng cấp hệ thống phần mềm, hoàn thiện kết nối kỹ thuật, kiểm thử vận hành và hướng dẫn người bán thực hiện đúng yêu cầu mới về hóa đơn điện tử, qua đó bảo đảm tính khả thi, đồng bộ khi triển khai và tránh phát sinh gián đoạn, sai sót trong quá trình áp dụng thực tế.
Cùng quan điểm, Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam (VietinBank) đề nghị lùi thời điểm áp dụng Thông tư đến tháng 12.2026. Ngân hàng cho rằng doanh nghiệp cần thêm thời gian để nâng cấp hệ thống hóa đơn điện tử. Đối với các doanh nghiệp nhà nước như VietinBank thì việc chỉnh sửa hệ thống cần thời gian lựa chọn nhà cung cấp nên thời gian sẽ bị kéo dài (tương tự như Nghị định 70 trước đây các doanh nghiệp không kịp chỉnh sửa, cần có văn bản giãn thời gian hiệu lực).
Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam cũng nêu ý kiến: Hóa đơn, chứng từ điện tử được triển khai trên chương trình phần mềm. Do đó, việc triển khai áp dụng quy định mới đồng nghĩa với việc ngân hàng phải thực hiện chỉnh sửa, cập nhật. Với đặc thù hệ thống công nghệ thông tin ngân hàng tương đối phức tạp, nhiều nghiệp vụ, nhiều giao dịch, để đảm bảo xử lý số lượng lớn (hàng triệu) giao dịch, việc chỉnh sửa chương trình cần có thời gian (ít nhất là 6 tháng - chưa tính đến thời gian triển khai các thủ tục mua sắm theo luật Đấu thầu) để đảm bảo đáp ứng đúng yêu cầu, hạn chế các lỗi gây sai lệch thông tin, ảnh hưởng đến trách nhiệm, uy tín của ngân hàng và quyền lợi của khách hàng. Do đó, đề nghị cơ quan soạn thảo xem xét quy định hiệu lực phù hợp, đồng thời bổ sung quy định về thời gian chuyển tiếp cho phép các ngân hàng được tiếp tục sử dụng hóa đơn, chứng từ điện tử đang sử dụng trong thời gian chỉnh sửa, nâng cấp đáp ứng quy định tại Nghị định, Thông tư mới.
Trả lời về kiến nghị lùi thời gian áp dụng Thông tư mới, cơ quan soạn thảo cho biết thực hiện theo chỉ đạo tại Thông báo kết luận số 17-TB/CQTTBCĐ ngày 29.12.2025 của Tổng Bí thư Tô Lâm, Trưởng ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số tại Hội nghị tổng kết công tác năm 2025 và nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm năm 2026 của Ban Chỉ đạo Trung ương. Theo đó, các bộ, cơ quan chủ trì xây dựng các văn bản pháp luật tiếp tục rà soát, ban hành hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành các luật đã được Quốc hội thông qua trong năm 2025 bảo đảm văn bản có hiệu lực thi hành đồng bộ với các luật.
Dự thảo Thông tư quy định về hóa đơn điện tử, chứng từ điện tử do Bộ Tài chính xây dựng quy định chi tiết về việc đăng ký sử dụng, định dạng hóa đơn điện tử, ủy nhiệm lập và xử lý hóa đơn điện tử đã lập... dự kiến có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1.7.2026.
Tin Gốc: Thanh Niên
Kinh Tế
VCCI đề xuất tăng tiếng nói doanh nghiệp và người nộp thuế trong Sách Trắng Thuế 2026

Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) vừa có văn bản góp ý Dự thảo Sách Trắng Thuế Việt Nam 2026 do Cục Thuế (Bộ Tài chính) xây dựng, trong đó đánh giá cao nỗ lực minh bạch hóa của ngành Thuế, đồng thời đề nghị tài liệu cần phản ánh đầy đủ hơn các khó khăn, vướng mắc của doanh nghiệp và người nộp thuế.
Theo VCCI, việc lần đầu tiên ngành Thuế công bố một "Sách Trắng" mang tính hệ thống là bước tiến lớn về minh bạch tài khóa, tạo nguồn dữ liệu tham chiếu chung cho doanh nghiệp, nhà đầu tư và đối tác quốc tế. Tổ chức này cũng ghi nhận kết quả chuyển đổi số ngành Thuế giai đoạn 2021-2025 với việc triển khai hóa đơn điện tử trên toàn quốc, eTax Mobile, cổng thông tin cho nhà cung cấp nước ngoài và kết nối với 60 ngân hàng thương mại.
Bên cạnh đó, VCCI đánh giá cao việc tinh gọn bộ máy ngành Thuế khi giảm 82% đầu mối, từ hơn 4.000 xuống còn 746 đơn vị, cùng các chính sách miễn, giảm, gia hạn thuế quy mô gần 900.000 tỷ đồng giai đoạn 2020-2025 để hỗ trợ doanh nghiệp vượt qua khó khăn.
Tuy nhiên, VCCI cho rằng Dự thảo hiện tập trung nhiều vào thành tựu, trong khi phần phản ánh thách thức và tồn tại còn khá khái quát. Theo tổ chức này, thông lệ quốc tế đối với các "Sách Trắng" hay báo cáo thường niên của cơ quan thuế là dành dung lượng đáng kể cho các vấn đề như khoảng cách thuế, tranh chấp, khiếu nại, đánh giá độc lập hay so sánh quốc tế.
VCCI đề nghị bổ sung một chương hoặc mục riêng về "Thách thức, hạn chế và bài học kinh nghiệm", trong đó phản ánh các vấn đề như nợ thuế, khiếu nại và khởi kiện thuế, vướng mắc khi triển khai hóa đơn điện tử, quản lý hộ kinh doanh, cũng như hiệu quả áp dụng quản lý rủi ro trong thanh tra, kiểm tra thuế.
Một nội dung được VCCI nhấn mạnh là dự thảo được viết phần lớn từ góc nhìn của cơ quan quản lý. Tiếng nói của người nộp thuế – đối tượng phục vụ trung tâm theo đúng tinh thần "lấy người nộp thuế làm trung tâm" mà Sách Trắng đề cập chưa thực sự đậm nét.
Tổ chức này cho biết chỉ số hài lòng 92,3% được nêu trong tài liệu chưa đi kèm phân tích sâu về phương pháp khảo sát, cơ cấu mẫu hay nguyên nhân khiến mức độ hài lòng của doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp Nhà nước thấp hơn các nhóm khác.
Do đó, VCCI đề nghị bổ sung các đánh giá định tính, tham chiếu kết quả khảo sát PCI, cùng ý kiến từ các hiệp hội và tổ chức nước ngoài như EuroCham, AmCham, KoCham hay JCCI để tăng tính khách quan của tài liệu.
Đối với chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp, VCCI phản ánh nhiều doanh nghiệp gặp khó khăn với quy định về giao dịch liên kết trong nước, đặc biệt là việc khống chế một số khoản chi phí nội bộ như dịch vụ quản lý, phân bổ chi phí chung hay nghiên cứu – phát triển. Theo VCCI, điều này làm gia tăng rủi ro bị ấn định thuế và gây khó khăn cho doanh nghiệp trong hoạch định tài chính.
Về thuế giá trị gia tăng (GTGT), VCCI đồng tình với định hướng đơn giản hóa theo hướng tiến tới một mức thuế suất cơ bản, song đề nghị cơ quan soạn thảo làm rõ lộ trình và đánh giá tác động đối với các lĩnh vực hiện áp dụng thuế suất 5% như nông nghiệp, y tế và giáo dục. Tổ chức này cảnh báo việc nâng đồng loạt lên 10% có thể tạo thêm gánh nặng cho người thu nhập thấp.
Liên quan thuế tối thiểu toàn cầu, VCCI cho rằng Dự thảo mới phản ánh kết quả thu ngân sách từ cơ chế này mà chưa phân tích đầy đủ tác động tới môi trường đầu tư.
Theo đó, nhiều doanh nghiệp FDI đang hưởng ưu đãi thuế suất thấp hơn 15% có thể giảm động lực mở rộng đầu tư sau khi phải nộp thuế bổ sung. VCCI đề nghị bổ sung thông tin về Quỹ Hỗ trợ đầu tư và các giải pháp duy trì sức hấp dẫn của môi trường đầu tư Việt Nam.
Ở phần quản lý thuế, VCCI đề nghị làm rõ các yếu tố tạo nên mức tăng thu ngân sách năm 2025, trong bối cảnh thu thuế tăng 32,2% còn GDP chỉ tăng 8,02%. Theo tổ chức này, cần phân tách rõ phần tăng thu từ tăng trưởng kinh tế, thu hồi nợ đọng, thanh tra kiểm tra hay phục hồi thị trường bất động sản để đánh giá tính bền vững của nguồn thu.
VCCI cũng nêu vấn đề hoàn thuế GTGT chậm kéo dài nhiều năm qua. Dù Dự thảo nêu thành tích "hoàn nhanh trong 6 ngày làm việc", nhiều doanh nghiệp xuất khẩu vẫn phản ánh thời gian hoàn thực tế kéo dài nhiều tháng, thậm chí 1-2 năm.
"Số tiền hoàn thuế chậm trở thành "vốn lưu động đóng băng" gây khó khăn nghiêm trọng cho dòng tiền. Sách Trắng cần phản ánh thẳng thắn thực trạng này, công bố số liệu thời gian hoàn thuế trung bình theo nhóm rủi ro, tỉ lệ hồ sơ "kiểm tra trước hoàn sau" kéo dài, và phương án xử lý", VCCI nêu.
Đối với chuyển đổi số, VCCI cho rằng việc bắt buộc hộ kinh doanh doanh thu trên 1 tỷ đồng sử dụng hóa đơn điện tử khởi tạo từ máy tính tiền có thể tạo thêm chi phí đầu tư thiết bị, phần mềm và đào tạo. Đồng thời, tổ chức này cũng đề nghị bổ sung đánh giá về hiệu quả hoạt động của hệ thống chatbot AI hỗ trợ người nộp thuế.
Về cải cách quản lý hộ kinh doanh, VCCI ủng hộ chủ trương chuyển từ thuế khoán sang kê khai theo Nghị quyết 68-NQ/TW, nhưng lưu ý phần lớn hộ kinh doanh hiện chưa có năng lực kế toán và khó đáp ứng yêu cầu kê khai trong thời gian ngắn. Tổ chức này cũng bày tỏ lo ngại nếu cơ chế quản lý và nghĩa vụ thuế quá giống doanh nghiệp, nhiều hộ có thể lựa chọn thu hẹp hoặc chấm dứt hoạt động thay vì chính thức hóa.
Đối với giai đoạn 2026-2030, VCCI cho rằng mục tiêu thu ngân sách 16,4 triệu tỷ đồng là rất tham vọng và cần được phân tích rõ nguồn lực tăng thu đến từ mở rộng cơ sở thu hay tăng tỉ lệ thu trên GDP.
Từ các phân tích trên, VCCI đề nghị bổ sung phần so sánh quốc tế về tỉ lệ thu thuế trên GDP, chi phí tuân thủ và mức độ số hóa; đồng thời xây dựng các cam kết cụ thể về thời gian hoàn thuế, trả lời công văn và giải thích chính sách theo mô hình "service level agreement" mà nhiều cơ quan thuế quốc tế đang áp dụng.
Tin Gốc: Người Đưa Tin

