Từ cuối tháng 3 tới nay, chênh lệch giá vàng trong nước và thế giới giảm mạnh, từ mức trên 30 triệu đồng/lượng dần xuống các mức 24 – 26 triệu đồng/lượng đầu tháng 4 và 18 – 22 triệu đồng/lượng giữa tháng 4.
Vài ngày gần đây, chênh lệch duy trì quanh mức trên 17 triệu đồng/lượng. Chốt ngày hôm nay 12.5, vàng miếng SJC mua vào và bán ra ở 162,5 – 165,5 triệu đồng/lượng, cao hơn giá vàng thế giới 16 triệu đồng/lượng.
Trao đổi với Thanh Niên, ông Nguyễn Quang Huy, Giám đốc điều hành Khoa Tài chính – Ngân hàng (Trường đại học Nguyễn Trãi), nhìn nhận chênh lệch giá vàng giảm nhanh không đơn thuần phản ánh biến động giá, mà cho thấy trạng thái thị trường đang thay đổi theo hướng cân bằng, thực chất hơn.
Có nhiều nguyên nhân cùng lúc tác động, điển hình như tâm lý đầu cơ cực đoan đã giảm nhiệt đáng kể. Giai đoạn chênh lệch quá cao thường đi kèm tâm lý mua đuổi, lo ngại bỏ lỡ cơ hội và kỳ vọng giá tăng liên tục. Khi thị trường biến động mạnh hơn, nhà đầu tư bắt đầu thận trọng hơn với rủi ro.
Ngoài ra, thị trường cũng đang xuất hiện cơ chế tự điều chỉnh. Mức chênh quá lớn khiến nhu cầu mua suy yếu, dòng tiền phân hóa sang vàng nhẫn, bạc hoặc các tài sản khác. Kỳ vọng về việc thị trường vàng sẽ minh bạch hơn, có thêm giải pháp điều tiết nguồn cung và tăng tính liên thông với quốc tế cũng góp phần kéo giảm mức chênh lệch.
TS kinh tế Lê Bá Chí Nhân cho rằng, việc thu hẹp chênh lệch giá phản ánh sự thay đổi mạnh về cấu trúc cung – cầu và kỳ vọng chính sách trên thị trường vàng Việt Nam.
Gần đây, thị trường đã chứng kiến tín hiệu điều hành quyết liệt và mang tính định hướng lại từ phía Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Thông điệp xuyên suốt là không để vàng trở thành kênh đầu cơ gây bất ổn vĩ mô.
Khi người nắm giữ vàng nhận thấy Nhà nước sẵn sàng can thiệp để kéo giá trong nước về sát thế giới, động lực găm giữ giảm mạnh. Nhiều người bắt đầu bán ra, khiến cung trên thị trường tự do tăng lên đáng kể. Đây là yếu tố khiến chênh lệch thu hẹp nhanh hơn dự đoán.
Ở tầm vĩ mô, việc chênh lệch giảm nhanh mang ý nghĩa lớn hơn, giúp giảm áp lực tỷ giá, giảm động cơ nhập lậu vàng, giảm rủi ro chảy ngoại tệ, qua đó hỗ trợ ổn định kinh tế vĩ mô. Nếu xu hướng này tiếp tục, thị trường vàng sẽ dần trở lại đúng bản chất là kênh tích trữ giá trị, thay vì trở thành kênh đầu cơ siêu lợi nhuận như giai đoạn trước.
Ông Nhân phân tích, ở nhiều nước, chênh lệch giữa giá vàng vật chất và giá thế giới quy đổi thường chỉ dao động tương đương 1 – 3 triệu đồng/lượng, phản ánh chi phí gia công, vận chuyển, bảo hiểm và lợi nhuận kinh doanh.
Hiện giá vàng miếng trong nước vẫn xoay quanh thương hiệu SJC, trong khi nguồn cung vàng miếng chuẩn hóa chưa được mở rộng thực chất. Mức chênh lệch giá vàng Việt Nam và thế giới đang là bất thường về mặt kinh tế học.
Khi các yếu tố tâm lý đã lắng xuống, để chênh lệch giảm thêm, phải tác động vào cung thực chất chứ không chỉ dừng ở thông điệp điều hành.
“Nếu các giải pháp tăng cung vàng miếng thực tế ra thị trường được thực thi rõ ràng, trong 1 – 2 tháng tới, chênh lệch có thể lùi dần về vùng 10 – 12 triệu đồng/lượng; trong trung hạn hoàn toàn có khả năng tiến về mức một chữ số”, ông Nhân nhấn mạnh.
Ông Nguyễn Quang Huy cũng nhìn nhận, trong khoảng 1 – 2 tháng tới, chênh lệch giá vàng còn khả năng giảm thêm, nhưng tốc độ có thể chậm hơn giai đoạn vừa qua. Vùng chênh 10 – 15 triệu đồng/lượng được xem là khả thi hơn trong ngắn hạn, còn để giảm sâu hơn sẽ cần thêm những thay đổi về cơ chế thị trường và nguồn cung.
Muốn thu hẹp chênh lệch một cách bền vững, điều quan trọng nhất là tăng tính liên thông giữa thị trường trong nước và quốc tế; đa dạng hóa nguồn cung và sản phẩm vàng…
Chuyên gia thị trường vàng Trần Duy Phương cũng dự báo, khoảng 1 – 2 tháng tới, chênh lệch giá vàng có thể giảm về 10 – 12 triệu đồng/lượng, bất kể xu hướng tăng hay giảm của vàng quốc tế.
“Đây là mức chênh lệch chấp nhận được, đảm bảo để thời gian tới, sau khi các doanh nghiệp, ngân hàng được cấp phép sản xuất vàng miếng có thể cân đối chi phí”, ông Phương nói.
Ngày 26.5, Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Cà Mau phối hợp Tổ chức Quốc tế về Bảo tồn Thiên nhiên tại Việt Nam (WWF-Việt Nam) tổ chức hội thảo khởi động dự án "Hỗ trợ phục hồi rừng ngập mặn, tăng cường khả năng ứng phó với biến đổi khí hậu của hệ sinh thái và cộng đồng tại tỉnh Cà Mau".
Dự án thuộc Chương trình Khí hậu xanh cho con người và thiên nhiên, triển khai giai đoạn 2026 - 2032, hướng đến mục tiêu phục hồi hệ sinh thái rừng ngập mặn và nâng cao khả năng thích ứng của cộng đồng địa phương trước biến đổi khí hậu.
Theo ông Văn Ngọc Thịnh, Tổng giám đốc WWF - Việt Nam, đồng bằng sông Cửu Long nói chung và Cà Mau nói riêng đang chịu áp lực ngày càng lớn từ xâm nhập mặn, thiếu nước ngọt mùa khô, sụt lún đất, sạt lở bờ biển và suy giảm phù sa. Trong bối cảnh đó, rừng ngập mặn không chỉ là hệ sinh thái giàu đa dạng sinh học mà còn là "lá chắn tự nhiên" giúp giảm rủi ro khí hậu, bảo vệ bờ biển và duy trì sinh kế cho người dân ven biển.
Dự án tập trung vào 3 nhóm mục tiêu gồm phục hồi và nâng cao hiệu quả quản lý rừng ngập mặn; hỗ trợ sinh kế bền vững thông qua mở rộng mô hình nuôi trồng thủy sản dưới tán rừng; đồng thời thúc đẩy cơ chế quản lý, tài chính bền vững với sự tham gia của nhiều bên, trong đó có khu vực tư nhân.
Điểm đáng chú ý của dự án là cách tiếp cận "thuận thiên" gắn bảo tồn với phát triển sinh kế và khả năng nhân rộng mô hình từ cấp xã đến toàn tỉnh.
Tại hội thảo, ông Phan Minh Chí, Phó giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Cà Mau cho biết, cho biết hệ sinh thái rừng ngập mặn của Cà Mau đang đối mặt nguy cơ suy thoái do giảm nguồn phù sa, khai thác tài nguyên thiếu bền vững và áp lực phát triển kinh tế.
Theo ông Chí, dự án sẽ hỗ trợ phục hồi và bảo vệ khoảng 1.500 ha rừng ngập mặn tại 6 xã ở Cà Mau gồm Cái Đôi Vàm, Đất Mới, Đất Mũi, Phan Ngọc Hiển, Tân Ân và Tam Giang; đồng thời hướng đến chuẩn hóa, nhân rộng mô hình tôm - rừng theo tiêu chuẩn sinh thái, kinh tế tuần hoàn và giảm phát thải; đồng thời gắn vùng nuôi sinh thái với thị trường tiêu thụ nhằm nâng thu nhập cho người dân giữ rừng.
Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) vừa công bố tài liệu họp Đại hội cổ đông thường niên 2026. Trong đó, ngân hàng có tờ trình xin ý kiến cổ đông phê duyệt chủ trương thành lập ngân hàng thương mại TNHH một thành viên do Vietcombank sở hữu 100% vốn hoạt động trong Trung tâm Tài chính quốc tế tại Việt Nam. Ngân hàng con sẽ có vốn điều lệ dự kiến 3.000 tỉ đồng và thực hiện các dịch vụ ngân hàng thương mại và các hoạt động được phép khác trong Trung tâm Tài chính quốc tế tại Việt Nam.
Việc thành lập ngân hàng con của Vietcombank tại Trung tâm Tài chính quốc tế tại Việt Nam tương tự một số ngân hàng khác. Chẳng hạn, Ngân hàng TMCP Phát triển TP.HCM (HDBank) cũng có tờ trình xin ý kiến cổ đông tại Đại hội cổ đông thường niên 2026 sẽ diễn ra vào ngày 24.4 về việc thành lập ngân hàng thương mại TNHH một thành viên hoạt động tại Trung tâm Tài chính quốc tế tại Việt Nam do HDBank sở hữu 100% vốn. Vốn điều lệ tối thiểu của ngân hàng bằng mức vốn pháp định theo quy định (3.000 tỉ đồng đối với ngân hàng thương mại). Ngân hàng này lý giải lý do thành lập ngân hàng con tại Trung tâm Tài chính quốc tế tại Việt Nam là phù hợp với chiến lược mở rộng mạng lưới; Kênh kết nối xây dựng hệ sinh thái về tài chính, công nghệ; Phù hợp với định hướng phát triển trong giai đoạn tiếp theo của ngân hàng... Trước đó, HDBank là một trong những ngân hàng được công bố là thành viên sáng lập Trung tâm Tài chính quốc tế Việt Nam tại TP.HCM.
Tương tự, Ngân hàng TMCP Nam Á (Nam A Bank) cũng đã được cổ đông thông qua việc góp vốn, mua cổ phần và thành lập ngân hàng thương mại trực thuộc Nam A Bank tại Trung tâm Tài chính quốc tế tại Việt Nam. Trước đó, Nam A Bank cũng là một trong những ngân hàng được công bố là thành viên chiến lược Trung tâm Tài chính quốc tế Việt Nam tại TP.HCM.
Ngoài ra, một số ngân hàng khác như MB, TPBank, SHB cũng là các thành viên sáng lập Trung tâm Tài chính quốc tế Việt Nam tại TP.HCM. Như vậy chắc chắn các nhà băng này sẽ có mặt chính thức với nhiều hoạt động trong Trung tâm Tài chính quốc tế Việt Nam tại TP.HCM.
CTCP Lọc hóa dầu Bình Sơn (HoSE: BSR) vừa công bố báo cáo tài chính hợp nhất quý I/2026 với doanh thu hơn 45.900 tỷ đồng, tăng 44% so với cùng kỳ 2025.
Lợi nhuận sau thuế đạt 8.265 tỷ đồng, gấp hơn 20 lần mức khoảng 400 tỷ đồng cùng kỳ năm trước, đồng thời là mức lợi nhuận theo quý cao nhất trong vòng 4 năm trở lại đây.
Kết quả này cũng vượt xa kế hoạch lợi nhuận sau thuế cả năm 2026 là 2.162 tỷ đồng vừa được doanh nghiệp thông qua tại đại hội đồng cổ đông thường niên.
Cơ cấu doanh thu cho thấy dầu diesel tiếp tục là sản phẩm chủ lực, đóng góp gần 21.180 tỷ đồng, tương đương gần một nửa tổng doanh thu. Hai sản phẩm xăng không chì RON 95 và RON 92 mang về hơn 16.000 tỷ đồng. Phần còn lại đến từ nhiên liệu bay Jet A-1, LPG, xăng sinh học, dầu hỏa và các sản phẩm khác từ Nhà máy Lọc dầu Dung Quất.
Đáng chú ý, biên lợi nhuận gộp của BSR trong quý I đạt khoảng 21%, trong khi cùng kỳ năm trước chỉ xấp xỉ 1%. Ngoài hoạt động kinh doanh cốt lõi, doanh nghiệp còn ghi nhận gần 530 tỷ đồng từ lãi tiền gửi và chênh lệch tỷ giá, tăng mạnh so với cùng kỳ.
Theo phía BSR, nguyên nhân chính dẫn tới mức tăng trưởng đột biến là do diễn biến thuận lợi của thị trường dầu thô. Trong quý I/2026, giá dầu tăng từ khoảng 67 USD/thùng vào tháng 1 lên gần 104 USD/thùng vào tháng 3. Ngược lại, cùng kỳ năm 2025 ghi nhận xu hướng giảm từ 79 USD xuống 72,6 USD/thùng. Biến động này giúp gia tăng chênh lệch giữa giá dầu thô đầu vào và giá các sản phẩm đầu ra, qua đó cải thiện đáng kể biên lợi nhuận của doanh nghiệp. Song song với yếu tố thị trường, BSR duy trì vận hành Nhà máy Lọc dầu Dung Quất ở mức công suất rất cao, trung bình 125% công suất quy đổi.
Tổng sản lượng sản xuất trong quý đạt hơn 1,99 triệu tấn sản phẩm, vừa đảm bảo nguồn cung xăng dầu trong nước, vừa đóng góp khoảng 3.953 tỷ đồng vào ngân sách Nhà nước.
Tính đến ngày 31/3/2026, tổng tài sản của BSR đạt 106.786 tỷ đồng, tăng hơn 21.000 tỷ đồng so với đầu năm. Trong đó, hàng tồn kho tăng mạnh lên 21.573 tỷ đồng, gần gấp đôi so với đầu kỳ.
Doanh nghiệp cho biết việc duy trì tồn kho cao, bao gồm cả dầu thô và sản phẩm là chiến lược chủ động nhằm đảm bảo nguồn cung trong bối cảnh địa chính trị thế giới, đặc biệt tại Trung Đông, tiềm ẩn nhiều rủi ro đứt gãy chuỗi cung ứng dầu thô.
Ngoài ra, lượng tồn kho thành phẩm lớn cũng giúp BSR có dư địa điều tiết thị trường, sẵn sàng đáp ứng nhu cầu xăng dầu nội địa khi tăng đột biến hoặc khi nguồn nhập khẩu gặp gián đoạn.
Về cơ cấu nguồn vốn, vốn chủ sở hữu của BSR đạt 68.778 tỷ đồng, trong khi nợ phải trả ở mức hơn 38.000 tỷ đồng, chủ yếu là nợ ngắn hạn phục vụ nhập nguyên liệu và hoạt động vận hành.
Ban lãnh đạo doanh nghiệp cho biết đã kích hoạt các kịch bản ứng phó từ sớm trước diễn biến xung đột tại Trung Đông, với nhiều phương án kéo dài từ vài tuần đến nửa năm. Hiện BSR vẫn duy trì vận hành nhà máy ở công suất rất cao và đảm bảo nguồn cung dầu thô ít nhất đến đầu tháng 7.