eSIM được xem như là một bước tiến lớn cho ngành công nghiệp viễn thông khi cho phép người dùng có thể tải cấu hình mạng di động vào SIM nhúng có sẵn trong thiết bị, giúp kích hoạt mà không cần phải đến cửa hàng để mua thẻ SIM vật lý. Tuy nhiên, nhiều người vẫn ủng hộ sử dụng SIM vật lý do một số nhược điểm mà eSIM gặp phải.
Một trong những điều khó chịu nhất là việc eSIM trao quyền kiểm soát hoàn toàn cho nhà mạng. Các nhà mạng có quyền phê duyệt việc chuyển đổi eSIM, cấp phép thiết bị và quyết định thiết bị nào có thể sử dụng eSIM. Điều đó khiến người dùng mất đi sự linh hoạt mà thẻ SIM vật lý mang lại khi họ có thể dễ dàng tháo lắp và chuyển đổi giữa các thiết bị.
Việc chuyển đổi giữa các thiết bị với thẻ SIM vật lý chỉ mất vài giây, trong khi chuyển đổi eSIM có thể mất vài phút và phụ thuộc vào máy chủ của nhà mạng. Trong thời gian này, người dùng có thể hoàn toàn mất kết nối mạng di động, từ đó gây ra nhiều rắc rối, đặc biệt khi cần nhận mã xác thực hai yếu tố qua tin nhắn.
Bên cạnh đó, việc dựa vào dịch vụ đám mây của nhà mạng cũng đặt ra rủi ro. Nếu nhà mạng gặp sự cố, quá trình chuyển đổi eSIM có thể bị gián đoạn. Ngược lại, việc thay thế thẻ SIM vật lý không gặp phải tình trạng này.
Ngoài ra, thẻ SIM vật lý cũng có thể dễ dàng chuyển đổi giữa nhiều loại thiết bị khác nhau, từ điện thoại đến máy tính bảng hay laptop. Đây là điều không đơn giản để thực hiện với eSIM do quy trình phức tạp và thời gian chờ đợi.
Ngay cả khi eSIM giúp việc chuyển đổi giữa các nhà mạng trở nên dễ dàng hơn, việc các nhà mạng vẫn giữ quyền kiểm soát lớn trong việc quyết định thiết bị nào được hỗ trợ khiến người dùng gặp khó khăn trong việc kết nối.
Mặc dù eSIM có thể mang lại nhiều lợi ích, nhưng đây rõ ràng không phải là giải pháp cần thiết cho tất cả mọi người. Người dùng vẫn có thể tận hưởng những lợi ích của eSIM trong khi giữ thẻ SIM vật lý, như bảo mật và khả năng sử dụng linh hoạt. Nếu không thường xuyên chuyển đổi giữa các thiết bị, eSIM có thể là lựa chọn phù hợp, nhưng nếu điện thoại gặp sự cố, người dùng có thể sẽ hối hận vì đã từ bỏ thẻ SIM vật lý.
Nguồn: https://thanhnien.vn/nhieu-nguoi-van-dung-sim-vat-ly-du-dien-thoai-da-co-esim-185260402181548842.htm

MacBook Neo, giá 16,5 triệu đồng, bắt đầu được cho đặt trước từ ngày 7/4 và giao hàng ngày 10/4 tại Việt Nam. Các hệ thống bán lẻ cho biết MacBook Neo có lượng đặt mua kỷ lục so với các dòng MacBook khác của Apple.
Đại diện một số cửa hàng như CellphoneS, FPT Shop nói chỉ còn sẵn máy cho người đặt trước, còn người mua hôm nay phải chờ 3-5 ngày tùy phiên bản. Một số cửa hàng nhỏ lẻ ở Hà Nội, TP HCM vẫn sẵn hàng, đủ màu nhưng số lượng ít và giá từ 17 triệu đồng, tức cao hơn 500.000 đồng so với giá niêm yết.
Trong khi đó, trên trang bán hàng trực tuyến của Apple, thời gian giao máy hiện tăng từ 2-4 ngày tiêu chuẩn lên 2-3 tuần với tài khoản phổ thông và 3-4 tuần với tài khoản giáo dục. Tài khoản bán hàng chính thức của Apple trên sàn thương mại điện tử cũng chuyển Neo sang dạng đặt trước với thời gian chờ tối thiểu 14 ngày.
"Đây là lần đầu ghi nhận một mẫu MacBook cháy hàng ngay sau khi mở bán tại Việt Nam", ông Hoàng Tùng, đại diện một đơn vị phân phối sản phẩm Apple, nói. Bên cạnh sức hút của sản phẩm, ông cho rằng nguyên nhân một phần đến từ lượng máy cung cấp cho thị trường Việt Nam đợt đầu không cao. "Neo cũng bán chạy ở nhiều khu vực khác trên thế giới trong khi Việt Nam chưa phải thị trường được ưu tiên hàng đầu", ông phân tích.
Ông Hoàng Tuấn, kinh doanh sản phẩm Apple lâu năm ở phố Huế (Hà Nội), cho rằng việc hết hàng trên Apple Store Online có thể do nhiều người Việt sử dụng tài khoản giáo dục để nhận mức giá tốt. Theo chính sách của Apple, học sinh, sinh viên, người làm trong ngành giáo dục có thể mua MacBook Neo với giá từ 14 triệu, rẻ hơn 2,5 triệu đồng so với giá công bố.
Trước đó, ông Nguyễn Lạc Huy, đại diện CellPhoneS, cho biết MacBook Neo đã nhận hơn 100 đơn đặt trước có trả tiền sau bốn tiếng trong ngày 7/4. Hệ thống cũng nhận hơn 4.000 lượt khách hàng để lại thông tin quan tâm ngay sau khi sản phẩm ra mắt. Đây là mức quan tâm và đặt hàng cao nhất từ trước đến nay trong số các dòng MacBook tại hệ thống.
MacBook Neo là laptop đầu tiên của Apple sử dụng chip tương tự iPhone thay vì chip Intel hay M series. Với giá rẻ, máy được coi là thách thức lớn với các mẫu laptop Windows ở phân khúc 10-20 triệu đồng. Trước đó, trong cuộc họp công ty ngày 10/3, ông SY Hsu, đồng CEO của Asus, nahanj định mức giá 599 USD của MacBook Neo thực sự là cú sốc với ngành công nghiệp máy tính Windows.
Laptop của Apple sử dụng khung nhôm nguyên khối với kiểu dáng gần giống MacBook Air và màn hình kích thước 13 inch. Cân nặng của máy là 1,2 kg, nhẹ hơn một chút so với MacBook Air cùng kích thước. Tương tự các dòng máy giá thấp khác của Apple, sản phẩm có nhiều màu sắc để lựa chọn là hồng nhạt, xanh chàm, bạc và vàng.
Có giá rẻ, pin tốt và thiết kế "đúng chất Apple" nhưng Neo cũng gặp nhiều hoài nghi về hiệu năng sử dụng trong thực tế. Máy chỉ có bộ nhớ RAM 8 GB cùng việc dùng chip của iPhone cũng khiến nhiều người e ngại việc tương thích phần mềm có thể không tốt bằng chip M truyền thống.
Tuấn Hưng
Nguồn: https://vnexpress.net/macbook-neo-chay-hang-tai-viet-nam-5060593.html

Trong trận đấu giữa Thụy Điển và Tunisia ngày 15/6 tại FIFA World Cup 2026, khán giả được trải nghiệm lợi ích của cảm biến chuyển động siêu chính xác, khi bóng Trionda "lên tiếng" rằng tiền đạo Alexander Isak của Thụy Điển chạm bóng trước tiền vệ Mattias Svanberg. Nhờ bằng chứng đó, trọng tài quyết định Svanberg không việt vị và bàn thắng được công nhận.
Đây không phải lần đầu cảm biến trong trái bóng giúp phân giải một tình huống gây tranh cãi. Trong kỳ World Cup đầu tiên ứng dụng công nghệ này năm 2022, cảm biến xác định Ronaldo không phải cầu thủ cuối cùng chạm bóng trong chiến thắng 2-0 của Bồ Đào Nha trước Uruguay, dù cầu thủ này khẳng định ngược lại.
Cảm biến được Adidas sử dụng trong bóng gọi là MEMS IMU, kết hợp của hai nhánh công nghệ: cảm biến đo lường quán tính (IMU) và hệ thống cảm biến vi - điện - cơ khí (MEMS).
Sự ra đời
Theo Institute of Navigation, IMU được phát triển ở Mỹ cuối những năm 1940 bởi Phòng thí nghiệm Đo lường thuộc Viện Công nghệ Massachusetts (MIT) cùng hai công ty Northrop và Autonetics, dưới sự tài trợ của Không quân Mỹ. Trong thập niên 1960, các hệ thống này tiếp tục "tiến hóa", được ứng dụng trong chương trình Apollo, máy bay quân sự và máy bay thương mại.
IMU cơ học đời đầu giống như một khối cảm biến cố gắng đứng yên trong không gian, nhờ hệ thống gimbal (cân bằng thiết bị) chuyển động tự do xung quanh. Cảm biến thứ nhất, đo gia tốc tuyến tính, hoạt động bằng cách cho một khối nặng hoặc con lắc phản ứng với gia tốc, rồi đo độ lệch hoặc lực điện từ cần thiết để giữ nó đứng yên.
Cảm biến thứ hai, gọi là con quay hồi chuyển, làm nhiệm vụ đo tốc độ quay, hoạt động bằng cách cho rotor quay nhanh đặt trong khung gimbal. Hệ thống dựa trên định luật bảo toàn mô-men động lượng: khi một rotor đang quay nhanh, trục quay có xu hướng giữ nguyên hướng trong không gian. Nếu thiết bị đặt cảm biến quay, rotor trong gimbal sẽ chống lại sự thay đổi hướng thay vì không quay theo một góc tương ứng. Cuối cùng, hệ thống máy tính phân tích sự khác biệt hướng của rotor và vỏ thiết bị để xác định tốc độ quay.
IMU thế hệ đầu có kích thước lớn do chứa nhiều cảm biết, hệ khung treo gimbal, động cơ, mạch điều khiển. Chẳng hạn, IMU sử dụng trong chương trình Apollo nặng khoảng 10 kg, chưa tính toàn bộ máy tính dẫn đường, nguồn và các phần điện tử phụ trợ khác.
Bước ngoặt diễn ra khi công nghệ MEMS, cho phép tạo ra chi tiết cơ khí cực nhỏ giúp mô phỏng cảm biến gia tốc và con quay hồi chuyển ngay trên chip. Những bộ phận cơ khí từng phải chế tạo ở kích thước lớn nay có thể thu nhỏ xuống cỡ micromet. Các nền tảng MEMS bắt đầu hình thành từ thập niên 1960, nhưng phải đến thập niên 1990 mới được thương mại hóa.
Trong lịch sử IMU MEMS, cảm biến gia tốc ra đời và phổ biến trước con quay hồi chuyển. Năm 1991 được xem là cột mốc quan trọng, khi Analog Devices giới thiệu ADXL50, cảm biến gia tốc MEMS đầu tiên tích hợp hoàn toàn trên chip, đủ nhạy để đo va chạm hay rung động và đủ rẻ để sản xuất hàng loạt. Nhu cầu từ ngành ôtô, đặc biệt là hệ thống túi khí, thúc đẩy MEMS phát triển nhanh. Khi xe bị va chạm, cảm biến phát hiện gia tốc đột ngột và gửi tín hiệu cho bộ điều khiển - một trong những ứng dụng đầu tiên giúp MEMS bước ra khỏi phòng thí nghiệm.
IMU MEMS bắt đầu phổ biến từ thập niên 2000 do ngày càng nhỏ, rẻ, tiết kiệm điện và đủ chính xác cho thiết bị tiêu dùng. Người dùng smartphone trải nghiệm IMU MEMS hằng ngày, mỗi khi điện thoại xoay màn hình, đếm bước chân, tự động sáng khi được cầm lên. Các thiết bị như smartwatch, máy ảnh, máy chơi game, drone, robot cũng sử dụng cảm biến này để nhận biết chuyển động.
Theo công ty nghiên cứu và tư vấn Mordor Intelligence (Ấn Độ), thị trường IMU MEMS hiện trị giá khoảng 1,34 tỷ USD, dự kiến tăng lên 2,28 tỷ USD vào năm 2031. 31% thị trường cảm biến này thuộc về thiết bị điện tử tiêu dùng, nhưng sẽ thay đổi trong 2-4 năm tới nhờ sự bùng nổ xe tự hành.
Áp dụng cho quả bóng Trionda
Từ một công nghệ thuộc về hàng không và quân sự, IMU MEMS trở thành loại cảm biến cơ bản nhất. Bên cạnh các thiết bị kể trên, cảm biến cũng đã xuất hiện trong quả bóng World Cup 2022 và được nâng cấp trên Trionda năm nay.
Trionda là sản phẩm hợp tác giữa Adidas và công ty công nghệ thể thao Đức Kinexon. Bên trong lõi bóng tích hợp IMU MEMS cho phép thu thập dữ liệu chuyển động theo thời gian thực.
Về cơ bản, Trionda sử dụng công nghệ snicko, viết tắt của snickometer, hay hệ thống đo độ chạm bóng, xuất hiện lần đầu trên môn cricket (bóng gậy). Snicko kết hợp hình ảnh quay chậm với biểu đồ âm thanh từ micro siêu nhạy và biểu diễn đồng thời trên màn hình, theo New York Times. Khi video cho thấy bóng đi qua gậy và biểu đồ âm thanh xuất hiện một đỉnh nhọn, trọng tài có thể kết luận bóng đã chạm gậy.
Đây là lý do công nghệ tại World Cup 2026 được báo chí quốc tế gọi là "snicko" của bóng đá. Tuy nhiên, biểu đồ tại World Cup 2026 không biểu hiện âm thanh thu từ micro như snicko, thay vào đó là cảm biến bên trong Trionda. Cảm biến hoạt động ở tần số 500 Hz, ghi nhận mọi tác động lên bóng 500 lần mỗi giây, không bỏ sót cả những lực rất nhỏ và khó nhìn thấy qua video quay chậm. Tần suất ghi dữ liệu còn cao hơn snicko bản gốc, vốn chỉ đồng bộ âm thanh với hình ảnh ở tốc độ 340 khung hình trên giây. Theo FIFA, dữ liệu truyền theo thời gian thực đến VAR, giúp xác định chính xác thời điểm bóng được đá, sượt qua chân, đổi hướng hoặc chạm tay.
Về nguyên lý, IMU MEMS đóng vai trò chuyển đổi chuyển động thành tín hiệu điện. Trong cảm biến gia tốc, một khối quán tính (proof mass) treo bên trong vi mạch bằng các cấu trúc đàn hồi. Khi cảm biến chuyển động, khối này lệch đi do quán tính, làm thay đổi điện dung giữa các bản cực. Hệ thống sẽ đo sự thay đổi đó để xác định gia tốc theo ba trục X, Y và Z. Nhờ cảm nhận trọng lực, cảm biến cũng có thể xác định độ nghiêng của thiết bị.
Với cảm biến vận tốc góc, một cấu trúc vi cơ học được duy trì dao động liên tục. Khi quay, lực quán tính Coriolis làm cấu trúc này lệch hướng. Độ lệch được chuyển thành dữ liệu về tốc độ quay quanh các trục. Để tăng độ chính xác, IMU thường kết hợp dữ liệu từ cảm biến gia tốc, cảm biến vận tốc góc và đôi khi cả cảm biến từ trường (magnetometer), sau đó xử lý bằng các thuật toán hợp nhất dữ liệu (sensor fusion).
Để kẻ đường việt vị, VAR cần biết khoảnh khắc cầu thủ chạm bóng. Dữ liệu chuyển động giúp xác định chính xác gấp nhiều lần so với video vốn bị ảnh hưởng bởi tốc độ ghi hình, góc quay. Công nghệ cũng hỗ trợ nhận diện cầu thủ chạm bóng cuối cùng để xác định chủ nhân bàn thắng.
Việc đưa bảng mạch điện tử vào trong quả bóng đặt ra yêu cầu kỹ thuật phức tạp đáng kể so với quy trình sản xuất bóng truyền thống, theo FIFA. Để giải quyết bài toán đó, Kinexon phát triển hệ thống treo chuyên dụng để cố định cụm cảm biến tại tâm bóng, giúp bảo vệ thiết bị điện tử bên trong, đồng thời duy trì trọng lượng, độ cân bằng, quỹ đạo bay và đặc tính khí động học của quả bóng theo tiêu chuẩn thi đấu.
Để bảo đảm hoạt động xuyên suốt trận, hệ thống cảm biến trên Trionda trang bị pin có thời lượng sử dụng liên tục 6 giờ sau mỗi lần sạc. Mức dung lượng này được đánh giá đủ đáp ứng toàn bộ thời gian thi đấu chính thức, hai hiệp phụ và cả loạt sút luân lưu.
Tin Gốc: Vnexpress
Khoa Học Công Nghệ
Cuộc gọi 6G đầu tiên bằng thiết bị Việt Nam có thể diễn ra năm 2029

Trong thông báo ngày 20/7, Viettel High Tech cho biết họ trở thành đối tác đầu tiên trên toàn cầu ký kết chương trình truy cập sớm nền tảng 6G với Qualcomm Technologies. Theo đó, công ty sẽ phối hợp cùng Qualcomm nghiên cứu, thiết kế, phát triển và sản xuất trạm thu phát sóng thế hệ thứ 6 (6G). Qualcomm cung cấp nền tảng công nghệ chipset, trong khi công ty Việt Nam đảm nhiệm nghiên cứu, thiết kế, phát triển, tích hợp, sản xuất, triển khai thử nghiệm và đánh giá chất lượng sản phẩm.
Cả hai phối hợp xem xét khả năng tương tác giữa nền tảng công nghệ 6G của Qualcomm với sản phẩm do Viettel High Tech nghiên cứu, phát triển; đồng thời đánh giá chất lượng và tối ưu hiệu năng sản phẩm trong các điều kiện, kịch bản khai thác thực tế.
"Hai bên hướng tới thực hiện cuộc gọi 6G tiền thương mại đầu tiên vào đầu năm 2029 trên hệ thống và thiết bị do Viettel nghiên cứu, phát triển và sản xuất", thông báo có đoạn.
Chương trình truy cập sớm nền tảng 6G (6G Platform Early Access Program) do Qualcomm triển khai dành cho các đối tác chiến lược được lựa chọn. Với việc là đối tác đầu tiên, Viettel High Tech cho biết có thể tiếp cận nền tảng chipset và công cụ phát triển trước giai đoạn thương mại hóa rộng rãi, từ đó phát triển sản phẩm song song với quá trình Qualcomm hoàn thiện nền tảng. Việc này giúp rút ngắn thời gian nghiên cứu và sớm đưa sản phẩm 6G ra thị trường khi chipset được thương mại hóa, trong khi hãng chip Mỹ cũng có thể mở rộng hệ sinh thái đối tác phát triển công nghệ 6G, kiểm chứng và tối ưu nền tảng trên các sản phẩm thực tế.
Trước đó, hai bên cũng hợp tác trong nghiên cứu và sản xuất thiết bị 5G Open RAN, hiện đã được triển khai rộng rãi trên mạng lưới của nhà mạng. Ông Durga Malladi, Tổng giám đốc Qualcomm Technologies, đánh giá việc Viettel nhanh chóng đưa 5G Open RAN vào triển khai thương mại tạo nên một mô hình tham khảo cho các nhà mạng khác, là nền tảng để hai bên cùng nghiên cứu và phát triển công nghệ mới, hướng tới mục tiêu đưa Viettel trở thành một trong những đơn vị tiên phong triển khai công nghệ 6G tại châu Á.
Tại buổi làm việc với Qualcomm trước đó, ông Tào Đức Thắng, Chủ tịch kiêm Tổng giám đốc Viettel, nhấn mạnh mục tiêu làm chủ công nghệ, và cuộc gọi 6G tiền thương mại đầu tiên của Viettel sẽ phải được thực hiện trên hệ thống và thiết bị do chính tập đoàn nghiên cứu, phát triển và sản xuất.
Hồi tháng 3, Qualcomm khởi xướng Liên minh toàn cầu về phát triển công nghệ mạng 6G, thu hút ba doanh nghiệp Việt tham gia, gồm Viettel, FPT, VNG. Theo định hướng của liên minh, mạng 6G được định hình như một nền tảng AI-native (được thiết kế với AI từ đầu, không phải thêm AI như một tính năng phụ), hợp nhất ba trụ cột công nghệ cốt lõi gồm kết nối, cảm biến diện rộng và năng lực tính toán hiệu năng cao.
Viettel cho biết do đặc thù đó của 6G, phạm vi hợp tác dự kiến không giới hạn ở các hệ thống vô tuyến, có thể mở rộng hợp tác sang lĩnh vực điện toán hiệu năng cao, máy chủ trung tâm dữ liệu, công nghệ cảm biến, thiết bị AI tự chủ và hệ thống vô tuyến thế hệ mới.
Tin Gốc: Vnexpress

