Theo quyết định do Phó Chủ tịch UBND tỉnh Phan Trọng Tấn ký ban hành, tỉnh Phú Thọ quyết định chuyển mục đích sử dụng 331.601,0 m2 đất các loại tại xã Kim Bôi. Diện tích này bao gồm nhiều loại đất như đất chuyên trồng lúa nước (hơn 165.692 m2), đất rừng sản xuất (hơn 54.743 m2), đất công trình giao thông, đất mặt nước, đất bằng chưa sử dụng và một số loại đất khác.
Toàn bộ diện tích trên được chuyển dịch cơ cấu sang các mục đích mới phục vụ dự án, bao gồm: Đất ở tại đô thị 138.685,0 m2. Đất khu vui chơi, giải trí công cộng, sinh hoạt cộng đồng (cây xanh cảnh quan) 116.018,8 m2. Đất công trình giao thông 38.301,5 m2. Đất có mặt nước chuyên dùng 30.081,4 m2. Đất xây dựng cơ sở văn hóa, y tế và đất thương mại, dịch vụ gần 9.000 m2. Phía Ban Quản lý dự án xã Kim Bôi cũng đã văn bản xác nhận hoàn thành công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng đối với khu vực này.
Trong tổng số 331.601,0 m2 đất đợt 3 này, UBND tỉnh Phú Thọ giao đất có thu tiền sử dụng đất đối với toàn bộ diện tích đất ở tại đô thị (138.685,0 m2) với thời hạn sử dụng lâu dài cho Công ty TNHH Mặt Trời Hòa Bình.
Đối với 190.595,2 m2 đất dành cho hạ tầng giao thông, mặt nước chuyên dùng, cây xanh cảnh quan, cơ sở văn hóa và y tế, doanh nghiệp được giao đất không thu tiền sử dụng đất. Sau khi hoàn thành đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật theo quy hoạch, chủ đầu tư có trách nhiệm bàn giao lại toàn bộ diện tích này cho cơ quan có thẩm quyền quản lý.
Riêng diện tích đất thương mại, dịch vụ (2.320,8 m2), Nhà nước cho doanh nghiệp thuê đất theo hình thức trả tiền hằng năm với thời hạn thuê là 50 năm.
Để dự án triển khai đúng quy định, UBND tỉnh đã giao nhiệm vụ cụ thể cho các sở, ngành liên quan. Trong đó, Sở Nông nghiệp và Môi trường chịu trách nhiệm chủ trì bàn giao đất trên thực địa và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sau khi chủ đầu tư hoàn thành nghĩa vụ tài chính. Cục Thuế tỉnh và Sở Tài chính có nhiệm vụ xác định, đôn đốc doanh nghiệp nộp đầy đủ tiền sử dụng đất, tiền thuê đất và các khoản phí theo quy định.
Đáng chú ý, UBND tỉnh yêu cầu UBND xã Kim Bôi phối hợp cùng UBND xã Dũng Tiến và các đơn vị liên quan khẩn trương thực hiện di chuyển hệ thống đường dây điện 35kv cũng như các hạng mục đường dây hạ thế sinh hoạt ra khỏi phạm vi dự án.
Công ty TNHH Mặt Trời Hòa Bình chỉ được phép triển khai thi công các hạng mục trong phạm vi hành lang lưới điện trung thế sau khi công tác di dời hoàn thành, được nghiệm thu bàn giao, đồng thời phải tự chịu trách nhiệm nếu xảy ra sự cố mất an toàn do tự ý thi công.
Tin Gốc: Người Đưa Tin

Phiên giao dịch ngày 29/5 diễn ra trong trạng thái giằng co khi tâm lý thận trọng bao trùm thị trường. Dòng tiền vận động chậm, thanh khoản duy trì ở mức thấp trong phần lớn thời gian giao dịch, trong khi các nhóm ngành phân hóa mạnh khiến chỉ số VN-Index liên tục dao động quanh mốc tham chiếu.
Ngay từ đầu phiên, bảng điện tử đã cho thấy sự phân hóa rõ nét nhưng biên độ biến động của đa số cổ phiếu không lớn. Sau hơn một giờ giao dịch, giá trị khớp lệnh trên sàn HOSE chỉ đạt hơn 4.000 tỷ đồng, phản ánh sự dè dặt của nhà đầu tư.
Một trong những mã gây chú ý là cổ phiếu VNE của Tổng CTCP Xây dựng Điện Việt Nam. Sau khi nhận quyết định hủy niêm yết từ HOSE, mã này tiếp tục tăng trần phiên thứ tư liên tiếp, lên 3.320 đồng/cổ phiếu, khớp lệnh hơn 850.000 đơn vị và còn dư mua giá trần hơn 1,3 triệu cổ phiếu. Kết thúc phiên sáng, HOSE ghi nhận 108 mã tăng và 174 mã giảm.
Bước sang phiên chiều, thị trường xuất hiện nhiều nhịp rung lắc mạnh hơn. VN-Index có thời điểm bật tăng vượt tham chiếu và lấy lại vùng 1.870 điểm, song áp lực bán gia tăng về cuối phiên khiến đà hồi phục bị thu hẹp.
Kết phiên, toàn sàn HOSE có 121 mã tăng, 189 mã giảm và 52 mã đứng giá. Tổng khối lượng giao dịch đạt hơn 688 triệu cổ phiếu, trong đó khối lượng khớp lệnh đạt hơn 554,9 triệu đơn vị. Giá trị giao dịch toàn thị trường đạt khoảng 19.582 tỷ đồng. VN-Index dừng tại 1.863,49 điểm, tương ứng giảm 0,18 điểm (-0,01%).
Nhóm năng lượng và hạ tầng là điểm sáng đáng chú ý của thị trường, đóng góp tích cực cho chỉ số. GAS tăng mạnh 6,98% lên 87.400 đồng/cổ phiếu, trở thành một trong những mã hỗ trợ lớn nhất cho VN-Index. BSR tăng 4,39%, PLX tăng 3,93%, OIL tăng 2,03%, trong khi PVD và PVS cũng duy trì sắc xanh.
Ở chiều ngược lại, nhóm bất động sản diễn biến phân hóa với áp lực điều chỉnh xuất hiện ở nhiều mã vốn hóa vừa và lớn. PDR giảm 2,73%, DXG giảm 2,25%, DIG mất 3,33%, TCH giảm 2,59%, trong khi SZC lao dốc 6,79%. Ngược lại, NVL vẫn giữ được sắc xanh nhẹ với mức tăng 0,33%, còn BCR tăng trần 9,09%.
Nhóm tài chính cũng giao dịch kém tích cực dù dòng tiền vẫn tập trung mạnh ở một số cổ phiếu ngân hàng và chứng khoán.
VIX dẫn đầu thanh khoản thị trường với gần 49 triệu cổ phiếu được sang tay, tăng nhẹ 0,57%. SHB, MSB và ACB duy trì sắc xanh, trong khi VND giảm 2,6%, VPB giảm 0,73% và SSI lùi nhẹ.
Ở nhóm công nghệ, áp lực bán xuất hiện tại nhiều cổ phiếu. GEE giảm mạnh 5,29%, CMG giảm 2,17%, trong khi FPT vẫn giữ được đà tăng 0,56%.
Nhóm viễn thông cũng có diễn biến kém khả quan. VGI giảm gần 1%, trong khi một số mã vốn hóa nhỏ như LTC hay VTE giảm sâu. Dù vậy, một vài cổ phiếu thị giá thấp vẫn tăng mạnh như VIE tăng 14,29% hay SMT tăng 9,52%.
Tin Gốc: Người Đưa Tin

Thị trường vốn đang trở thành "nút thắt" quan trọng của nền kinh tế khi dòng tiền chưa được phân bổ hiệu quả, lệch về tín dụng ngân hàng và thiếu các kênh dẫn vốn trung, dài hạn.
Việc tái cấu trúc thị trường tài chính, khơi thông dòng vốn và nâng cao năng lực nội sinh được xem là điều kiện then chốt để đạt mục tiêu tăng trưởng cao và bền vững.
PGS.TS.ĐBQH Trần Hoàng Ngân - Đoàn ĐBQH Tp.HCM:
"Để đạt được mục tiêu tăng trưởng hai con số, theo tôi, cần quán triệt bốn nguyên tắc lớn mà Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã nhấn mạnh.
Thứ nhất, tăng trưởng phải là tăng trưởng thực chất. Nghĩa là tăng trưởng phải dựa trên nền tảng khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và hàm lượng tri thức. Đây là cái gốc của vấn đề, chứ không phải tăng trưởng theo chiều rộng, chỉ dựa vào việc gia tăng vốn đầu tư. Cốt lõi là phải nâng cao năng suất lao động.
Thứ hai, tăng trưởng phải đi đôi với ổn định kinh tế vĩ mô. Đây là điều kiện tiên quyết để duy trì niềm tin của thị trường và bảo đảm an toàn cho toàn bộ hệ thống tài chính, tiền tệ.
Thứ ba, cần huy động được các nguồn lực trong xã hội, tức là phải khơi thông các dòng chảy nguồn lực, không chỉ dựa vào ngân sách nhà nước hay đầu tư công. Thực tế, vốn đầu tư công từ ngân sách nhà nước thời gian qua chỉ chiếm khoảng 20% tổng vốn đầu tư toàn xã hội. Tỷ trọng này theo tôi nên duy trì trong khoảng 16–20% để bảo đảm ổn định vĩ mô, chứ không nên tăng thêm. Do đó, điều quan trọng hơn là phải khơi thông các nguồn lực còn lại trong xã hội.
Thứ tư, mọi thành quả tăng trưởng cuối cùng phải hướng tới phục vụ người dân, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân.
Trong bối cảnh hiện nay, việc khơi thông dòng vốn là một trong những điểm nghẽn lớn cần được ưu tiên tháo gỡ. Tôi cho rằng, việc triển khai các nghị quyết của Quốc hội nhằm xử lý các dự án tồn đọng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Nhiều dự án đã được đầu tư đến 50%, 80%, thậm chí 90%, chỉ cần bổ sung thêm một phần nguồn lực là có thể hoàn thành và đưa vào sử dụng. Khi đó, hiệu quả lan tỏa sẽ rất lớn, đúng với tinh thần "vốn bỏ ít nhưng hiệu quả cao".
Không chỉ thúc đẩy tăng trưởng, việc giải quyết các dự án dở dang còn góp phần xử lý nợ xấu của hệ thống ngân hàng, từ đó giảm chi phí xã hội, giảm áp lực lãi suất và tạo điều kiện thuận lợi hơn cho việc huy động vốn. Đồng thời, đây cũng là cơ hội để thúc đẩy tái cơ cấu thị trường tài chính.
Hiện nay, cơ cấu thị trường tài chính của Việt Nam còn mất cân đối khi tín dụng ngân hàng chiếm tỷ trọng rất lớn, tương đương khoảng 145% GDP. Trong khi đó, thị trường vốn phát triển chưa tương xứng: vốn hóa thị trường cổ phiếu chỉ khoảng 70–80% GDP, trái phiếu doanh nghiệp khoảng 10% và trái phiếu chính phủ khoảng 20%. Điều này cho thấy sự phụ thuộc quá lớn vào hệ thống ngân hàng.
Do đó, cần tái cơ cấu thị trường tài chính theo hướng giảm dần tỷ trọng tín dụng ngân hàng và nâng cao vai trò của thị trường vốn. Muốn vậy, cần hoàn thiện thể chế theo hướng cởi mở hơn để thu hút dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài vào thị trường chứng khoán Việt Nam, đồng thời đẩy nhanh việc xây dựng khung pháp lý cho các trung tâm tài chính quốc tế tại Thành phố Hồ Chí Minh và Đà Nẵng.
Đối với thị trường trái phiếu doanh nghiệp, cần sớm khơi thông trở lại thông qua việc phát triển các tổ chức định mức tín nhiệm, hoàn thiện cơ chế bảo lãnh và nâng cao tính minh bạch. Khi các kênh dẫn vốn này được phục hồi và phát triển, doanh nghiệp sẽ có thêm lựa chọn huy động vốn trung và dài hạn, giảm phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng.
ĐBQH Nguyễn Hải Nam - Ủy viên Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội:
"Để đạt mục tiêu tăng trưởng kinh tế từ 10% trở lên, theo tôi, chúng ta cần có thêm những giải pháp mạnh mẽ hơn về huy động và phân bổ nguồn lực.
Hiện nay, hệ số hiệu quả sử dụng vốn đầu tư (ICOR) của Việt Nam vào khoảng 6,4%. Đây là mức khá cao. Nếu chúng ta có thể kéo giảm xuống còn khoảng 4,5%, thì hiệu quả đầu tư sẽ được cải thiện đáng kể, qua đó giảm áp lực về tổng vốn cần huy động để đạt mục tiêu tăng trưởng. Nếu ICOR ở mức 4,5%, ước tính tổng nhu cầu đầu tư của nền kinh tế sẽ vào khoảng 40% GDP, tương đương hơn 200 tỷ USD.
Hiện nay, nền kinh tế hiện vẫn phụ thuộc lớn vào hai kênh dẫn vốn chủ yếu là tín dụng ngân hàng và thị trường vốn (bao gồm trái phiếu và cổ phiếu). Trong đó, áp lực từ hệ thống ngân hàng là rất đáng lưu ý, khi tỷ lệ dư nợ đã lên tới khoảng 145% GDP, cao hơn đáng kể so với một số quốc gia trong khu vực như Malaysia hay Thái Lan (khoảng 110% GDP). Điều này tiềm ẩn rủi ro về nợ xấu cũng như an toàn của hệ thống tài chính.
Từ thực tế đó, tôi cho rằng cần phát triển đồng bộ thị trường vốn, đặc biệt là thị trường trái phiếu, thông qua một số nhóm giải pháp trọng tâm:
Trước hết, cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý liên quan đến đầu tư, bảo hiểm, tổ chức tín dụng và các quy định về trái phiếu. Việc quản lý phải bảo đảm cân bằng, không quá chặt cũng không quá lỏng, nhằm phát huy hiệu quả vai trò của kênh dẫn vốn này cho nền kinh tế và doanh nghiệp.
Thứ hai, cần nâng cao tính công khai, minh bạch của thị trường trái phiếu, đồng thời khuyến khích hoạt động xếp hạng tín nhiệm để giúp nhà đầu tư có cơ sở đánh giá rủi ro.
Thứ ba, cần phát triển mạnh hệ thống nhà đầu tư tổ chức và các trung gian tài chính như quỹ đầu tư trái phiếu, quỹ bảo hiểm, quỹ hưu trí tự nguyện, qua đó giảm dần sự phụ thuộc vào nhà đầu tư cá nhân. Cùng với đó, cần thúc đẩy sự phát triển của các công ty quản lý quỹ chuyên nghiệp, có chính sách ưu đãi phù hợp và tiến hành tái cơ cấu các đơn vị hoạt động kém hiệu quả.
Tôi cũng đề xuất nghiên cứu thí điểm thành lập quỹ đầu tư quốc gia, trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm quốc tế, để tập trung đầu tư vào các lĩnh vực then chốt như hạ tầng, công nghệ cao, trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, năng lượng sạch và đổi mới sáng tạo.
Thứ tư, cần thúc đẩy phát triển các loại hình trái phiếu mới như trái phiếu xanh, trái phiếu phục vụ hạ tầng xanh, đô thị xanh; đồng thời khuyến khích phát hành trái phiếu chính quyền địa phương, đặc biệt tại những địa phương có dư địa lớn như Hà Nội, Tp.Hồ Chí Minh, Đà Nẵng và Quảng Ninh.
Cuối cùng, cần vận hành hiệu quả thị trường trái phiếu thứ cấp nhằm nâng cao thanh khoản và hỗ trợ thị trường sơ cấp. Trong đó, chú trọng việc xây dựng đường cong lợi suất, cũng như ứng dụng công nghệ và trí tuệ nhân tạo trong dự báo và định giá".
ĐBQH Phan Duy Anh - Đoàn ĐBQH Tp.Đà Nẵng:
"Trong bối cảnh nền kinh tế đang đặt mục tiêu tăng trưởng cao và bền vững, yêu cầu khơi thông thị trường vốn ngày càng trở nên cấp thiết. Trong bối cảnh đó, việc hình thành những thiết chế tài chính hiện đại, có khả năng kết nối hiệu quả giữa nguồn vốn trong nước và quốc tế, không chỉ là yêu cầu trước mắt mà còn mang ý nghĩa chiến lược lâu dài.
Trong đó, việc thành lập Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam có ý nghĩa quan trọng gắn với vai trò then chốt trong việc truyền dẫn dòng vốn quốc tế cho các lĩnh vực ưu tiên của nền kinh tế, thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài phát triển kết cấu hạ tầng, thúc đẩy thị trường bất động sản nghỉ dưỡng, quản lý tài sản bền vững, đồng thời hỗ trợ quá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng xanh, bao trùm và bền vững.
Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam có thể thực hiện chức năng kết nối các nhà đầu tư quốc tế với danh mục dự án đầu tư trọng điểm của các doanh nghiệp lớn và các tỉnh trong cả nước, chuyển hóa các nhu cầu vay vốn, góp vốn của các dự án tại địa phương (như hạ tầng giao thông, logistics, khu đô thị, khu công nghiệp, năng lượng tái tạo…) thành các sản phẩm tài chính chuyên nghiệp theo chuẩn quốc tế (trái phiếu xanh, quỹ tín thác, chứng khoán hóa dòng tiền tương lai...), góp phần tháo gỡ nhu cầu vốn đầu tư lớn cho phát triển kinh tế nhằm đạt được mức tăng trưởng trên hai con số trong giai đoạn tới.
Trung tâm tài chính quốc tế còn là các kênh thông tin lớn về thị trường, đối tác, nguồn cung ứng cho các khu vực kinh tế tư nhân và kinh tế nhà nước, kích thích đổi mới sáng tạo thông qua sự hiện diện của những lĩnh vực đang định hình nền kinh tế tương lai.
Nhờ đó, doanh nghiệp có điều kiện giảm chi phí vốn, nâng cao quản trị tài chính, mở rộng đầu tư và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu, các doanh nghiệp đổi mới sáng tạo, doanh nghiệp công nghệ, doanh nghiệp xanh sẽ có không gian thử nghiệm và phát triển các mô hình tài chính mới, từ đó tạo ra sản phẩm, dịch vụ có giá trị gia tăng cao, tạo động lực tăng trưởng chung cho toàn bộ nền kinh tế".
ĐBQH Nguyễn Như So - Đoàn ĐBQH tỉnh Bắc Ninh:
"Thực tiễn cho thấy một trong những điểm nghẽn lớn của nền kinh tế hiện nay nằm ở năng lực nội sinh còn hạn chế. Tỷ lệ nội địa hóa trong nhiều ngành vẫn ở mức thấp, sự liên kết giữa doanh nghiệp trong nước với khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chưa chặt chẽ. Đáng chú ý, khoảng 90% doanh nghiệp tư nhân của chúng ta là doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ, chủ yếu hoạt động ở phân khúc giá trị gia tăng thấp. Điều đó cho thấy nền kinh tế vẫn phụ thuộc nhiều vào các động lực bên ngoài, trong khi chưa hình thành được nền tảng nội lực đủ mạnh để bứt phá.
Trong bối cảnh đó, theo tôi, phát triển kinh tế khu vực tư nhân không chỉ là yêu cầu cấp thiết mà phải được xác định là một lựa chọn chiến lược. Đây chính là lực lượng có vai trò then chốt trong việc nâng cao sức chống chịu của nền kinh tế, cũng như năng lực cạnh tranh quốc gia trong dài hạn.
Để hiện thực hóa mục tiêu này, điều quan trọng là phải tái cấu trúc lại cơ chế dẫn vốn của nền kinh tế, bảo đảm dòng vốn được phân bổ đúng địa chỉ, đúng nhu cầu và phục vụ trực tiếp cho các động lực tăng trưởng. Trong bối cảnh động lực về công nghệ và năng suất chưa thể bứt phá ngay trong ngắn hạn, thì vốn đầu tư đang trở thành một trong những trụ cột quan trọng nhất của tăng trưởng.
Tuy nhiên, vấn đề hiện nay không phải là thiếu vốn, mà là cách thức phân bổ và sử dụng vốn chưa hiệu quả. Nguyên nhân cốt lõi nằm ở sự lệch pha kỳ hạn khi nền kinh tế phụ thuộc quá lớn vào nguồn vốn ngắn hạn của hệ thống ngân hàng để tài trợ cho các nhu cầu trung và dài hạn. Việc "lấy ngắn nuôi dài" không chỉ gây áp lực lên thanh khoản của hệ thống mà còn khiến dòng vốn không chảy vào những khu vực có khả năng tạo ra giá trị gia tăng cao.
Do đó, cần từng bước giảm sự phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng bằng cách phát triển thực chất thị trường vốn, đặc biệt là thị trường cổ phiếu và trái phiếu doanh nghiệp. Đây phải trở thành các kênh dẫn vốn trung và dài hạn đúng nghĩa cho nền kinh tế.
Bên cạnh đó, cần sớm hình thành thị trường tái cấp vốn thứ cấp thông qua việc chứng khoán hóa các khoản vay, đồng thời phát triển thị trường mua bán nợ theo hướng minh bạch, chuyên nghiệp. Những cơ chế này sẽ góp phần nâng cao hiệu quả phân bổ vốn và giảm áp lực cho hệ thống ngân hàng.
Một điểm quan trọng khác là cần nghiên cứu áp dụng cơ chế "thuế âm" cho hoạt động đổi mới sáng tạo, nhằm hỗ trợ doanh nghiệp ngay từ giai đoạn đầu.
Đồng thời, khi đã xác định kinh tế tư nhân là động lực quan trọng nhất, chúng ta cần có cơ chế hợp tác công – tư (PPP) linh hoạt, minh bạch hơn. Mỗi đồng vốn ngân sách cần có khả năng dẫn dắt và huy động thêm nhiều đồng vốn xã hội, qua đó hình thành cơ chế lựa chọn, nuôi dưỡng và phát triển các doanh nghiệp đầu tàu trong những ngành then chốt của nền kinh tế".
THỰC HIỆN: MẠNH QUỐC
Tin Gốc: Người Đưa Tin

Thủ tướng Chính phủ vừa yêu cầu các bộ ngành đẩy mạnh thực thi quyền sở hữu trí tuệ (SHTT) trên toàn quốc, bảo đảm công tác đấu tranh, ngăn chặn và xử lý hành vi xâm phạm quyền SHTT được thực hiện thường xuyên, liên tục, có hệ thống, trọng tâm, trọng điểm, đạt được các mục tiêu, yêu cầu đề ra.
Ông Đậu Anh Tuấn, Phó tổng thư ký, Trưởng ban Pháp chế Liên đoàn Thương mại và công nghiệp VN (VCCI), nhận xét: Trong những năm gần đây, VN đã có nhiều nỗ lực hoàn thiện khung pháp lý và tăng cường thực thi quyền SHTT, trong đó có việc sửa đổi luật Sở hữu trí tuệ, tăng cường phối hợp liên ngành trong xử lý vi phạm, cũng như triển khai các biện pháp kiểm tra, rà soát trên môi trường số và trong lưu thông hàng hóa. Đây là thời điểm các doanh nghiệp (DN) cần tăng cường rà soát việc tuân thủ pháp luật về SHTT trong toàn bộ hoạt động sản xuất, kinh doanh và xuất khẩu, đặc biệt đối với các DN có thị trường, đối tác hoặc chuỗi cung ứng gắn chặt với Mỹ. Hơn nữa, diễn biến mới cũng cho thấy yêu cầu ngày càng cao đối với DN trong việc coi SHTT không chỉ là vấn đề pháp lý, mà còn là một nội dung của quản trị hiện đại và năng lực cạnh tranh dài hạn. Việc đầu tư cho tuân thủ, kiểm soát rủi ro, số hóa chuỗi cung ứng, chuẩn hóa quy trình nội bộ và đa dạng hóa thị trường sẽ giúp DN chủ động hơn trước những biến động khó lường trong chính sách thương mại quốc tế nói chung.
Theo ông Đinh Tuấn Minh, Giám đốc nghiên cứu của Trung tâm Nghiên cứu giải pháp thị trường cho các vấn đề kinh tế - xã hội (MASSEI), vấn đề bảo vệ SHTT đã được đề cập và thực hiện nhiều năm qua. Hiện tại, các bộ ngành cần đẩy mạnh hoạt động ngăn chặn việc mua bán, sử dụng hay triệt phá các website vi phạm bản quyền trực tuyến có lượng truy cập lớn, nhất là các website lưu trữ, cung cấp phim, âm nhạc, trò chơi điện tử di động, chương trình truyền hình lậu có dùng tiếng Việt và tiếng nước ngoài, nhất là tiếng Anh… như công điện của Thủ tướng Chính phủ đã nêu. Song song, Chính phủ nên ra khuyến cáo để các DN chú ý, có ý thức hơn về việc sử dụng hàng hóa, dịch vụ có bản quyền. Bên cạnh đó, cần các giải pháp dài hạn như chương trình hỗ trợ phù hợp để DN chuyển đổi sang các ứng dụng, phần mềm bản quyền. Thậm chí có thể tăng cường đối thoại, phối hợp với các tập đoàn nước ngoài để có chương trình ưu đãi cho DN Việt trong thời gian 1 - 2 năm tới. Điều này sẽ thúc đẩy việc thực thi quyền SHTT mang tính ổn định, dài hạn.
Đánh giá việc thực thi SHTT từ một góc độ khác, ông Vũ Hoàng Liên, Chủ tịch Hiệp hội Internet VN, phân tích: VN đang chuyển từ một thị trường tiêu dùng sang một quốc gia công nghiệp nên tầm quan trọng của SHTT cũng rất khác. Trước đây, ở góc độ tiêu dùng, việc thực thi SHTT chỉ dừng ở nhóm hàng hóa, sản phẩm tiêu dùng cuối cùng. Tuy nhiên, nếu đặt mình ở góc độ phát triển công nghiệp, trở thành nhà sản xuất, cung cấp dịch vụ hàng hóa thì việc đảm bảo bản quyền, SHTT là cực kỳ quan trọng.
Các sản phẩm phim ảnh, trò chơi điện tử, phần mềm máy tính thường xuyên bị vi phạm bản quyền
Ảnh: Chụp màn hình
"Cách đây vài chục năm, khi còn ở vai trò là thị trường tiêu dùng thì câu chuyện vi phạm SHTT đôi khi còn được du di. Thế nhưng mục tiêu của VN là trở thành nước phát triển trong giai đoạn tới với nhiều ngành công nghệ hàng đầu, trong đó có các ngành công nghệ cao như phần mềm, trí tuệ nhân tạo, bán dẫn… Chính vì vậy, việc thực thi quyền SHTT phải được xuyên suốt từ hoạt động nghiên cứu phát triển (R&D) đến sản xuất, cung cấp hàng hóa, dịch vụ ra thị trường mà không chỉ là ở câu chuyện sản phẩm cuối cùng khi đưa ra thị trường. Nói rộng hơn thì việc bảo vệ SHTT sẽ là câu chuyện tổng thể từ thương hiệu, kiểu dáng công nghiệp, bản quyền… Bản chất là nhằm xây dựng uy tín cho hoạt động thương mại, môi trường kinh doanh, con người VN và cao nhất là uy tín quốc gia", ông Liên nhấn mạnh.
Theo ông Vũ Hoàng Liên, môi trường số phát triển cũng là nơi có nguy cơ cao nhất trong việc xâm phạm bản quyền, SHTT. Vì thế, ngoài việc Chính phủ và các bộ ngành phải sử dụng công nghệ để ngăn chặn vi phạm, quan trọng hơn là giáo dục nhận thức cho cộng đồng DN, người dân. Khi DN, người dân có ý thức cao hơn về vấn đề SHTT thì chính những người có quyền SHTT cũng sẽ nâng cao tính tự bảo vệ cho mình. Đó là giải pháp ít tốn kém nhất cho nền kinh tế.
"Giống như trong một xã hội ai cũng biết rằng "ăn cắp" là xấu, không ai ăn cắp của ai cái gì thì xã hội văn minh và nền kinh tế không phải tốn nhiều chi phí để xử lý vi phạm. Thực thi bản quyền, SHTT tốt mang ý nghĩa cao là xây dựng uy tín quốc gia. Từ đó các đối tác, tập đoàn nước ngoài cũng sẽ mạnh dạn phối hợp, đầu tư tại VN. Hơn nữa, Chính phủ đang có nhiều chính sách thúc đẩy phát triển kinh tế cao, trong đó khuyến khích hoạt động khởi nghiệp, sáng tạo, đổi mới của DN tư nhân. Nếu vấn đề bản quyền, SHTT được thực hiện nghiêm túc thì sẽ tạo động lực lớn cho các công ty khởi nghiệp. Các doanh nhân trẻ sẽ tự tin, mạnh dạn hơn cho hoạt động nghiên cứu đổi mới mà không phải phập phồng về câu chuyện bị ăn cắp kiểu dáng, vi phạm bản quyền. Khi VN tôn trọng đối tác thì hàng hóa, sản phẩm của VN xuất khẩu ra nước ngoài cũng sẽ được các đối tác tôn trọng và phối hợp, bảo vệ bản quyền cho sản phẩm VN ở thị trường nước ngoài", ông Vũ Hoàng Liên nhấn mạnh.
Đồng quan điểm, ông Đinh Tuấn Minh cho rằng nếu xét trên tổng thể thì hiện nay việc bảo vệ quyền SHTT chủ yếu thuộc về sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp nước ngoài. Hay nói cách khác chủ yếu liên quan đến thương mại quốc tế, giao thương giữa các nước. Tuy nhiên, một phần khác là khi VN đẩy mạnh việc bảo vệ nhãn hiệu hàng hóa, kiểu dáng công nghiệp, sở hữu phát minh sáng chế… thì sẽ tạo ra động lực để thúc đẩy hoạt động đổi mới phát triển mạnh hơn. Thực tế, tình trạng không được bảo vệ SHTT đã làm thui chột động lực sáng tạo, buộc DN phải chạy theo mục tiêu kinh doanh ngắn hạn thay vì đầu tư phát triển sản phẩm cốt lõi. Vòng luẩn quẩn đó sẽ vẫn kéo dài nếu không được thay đổi.
Tin Gốc: Thanh Niên

