Ngày 18.5, tại thành phố Huế, Cục Phát triển Doanh nghiệp tư nhân và Kinh tế tập thể (Bộ Tài chính) phối hợp với Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) tại Việt Nam đã tổ chức hội thảo tham vấn hoàn thiện chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, nhằm hoàn thiện dự thảo luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa (sửa đổi).
Hội thảo đã nhận được nhiều ý kiến đóng góp nhằm hoàn thiện dự án luật để sau khi ban hành có thể tạo hành lang pháp lý và cơ chế chính sách đồng bộ hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa phát triển, góp phần đóng góp và xây dựng đất nước.
Phát biểu đề dẫn tại hội thảo, bà Trịnh Thị Hương, Phó cục trưởng Cục Phát triển Doanh nghiệp tư nhân và Kinh tế tập thể cho biết, thực hiện Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 4.5.2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân và chương trình lập pháp năm 2026 của Quốc hội, Chính phủ đã giao nhiệm vụ cho Bộ Tài chính chủ trì xây dựng dự án luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa (sửa đổi) dự kiến trình Quốc hội tại kỳ họp thứ 2 vào tháng 10.2026.
Cục Phát triển Doanh nghiệp tư nhân và Kinh tế tập thể là đơn vị được giao nhiệm vụ soạn thảo dự án luật nên đã phối hợp với các tổ chức tư vấn tích cực triển khai. Dự thảo luật đã tổ chức hội thảo tham vấn ý kiến của cộng đồng doanh nghiệp nhỏ và vừa tại phía bắc ở Hà Nội và nay tiếp tục tổ chức tại thành phố Huế để lấy ý kiến tại khu vực miền Trung.
Cũng theo bà Trịnh Thị Hương, kinh nghiệm quốc tế các nước đã đi trước chúng ta rất lâu về xây dựng và ban hành luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, ví như Nhật Bản đã có luật từ năm 1963.
Còn Việt Nam, mặc dù chính sách đã có từ 25 năm và luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa lần đầu tiên đã được Quốc hội thông qua năm 2017.
Tuy nhiên, qua quá trình thực hiện luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017 đã bộc lộ một số hạn chế, bất cập. Mục tiêu xây dựng dự thảo luật lần này nhằm thể chế hóa kịp thời chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, khắc phục những hạn chế, bất cập của các quy định hiện hành, bảo đảm cơ chế hỗ trợ thiết thực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội trong giai đoạn mới.
Bà Trịnh Thị Hương khẳng định, các chính sách hỗ trợ của luật phải lấy doanh nghiệp nhỏ và vừa làm trung tâm, xuất phát từ thực tiễn, giải quyết các khó khăn, vướng mắc trong gia nhập thị trường, tiếp cận nguồn lực, tổ chức sản xuất kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh. Vì thế, việc thiết kế chính sách hỗ trợ theo hướng có trọng tâm, trọng điểm, có chọn lọc, phù hợp với từng nhóm doanh nghiệp theo quy mô, lĩnh vực và giai đoạn phát triển.
Đổi mới phương thức hỗ trợ theo hướng lấy kết quả, đầu ra làm căn cứ phân bố nguồn lực hỗ trợ, gắn với mục tiêu, đầu ra cụ thể, có thể lượng hóa được, bảo đảm dễ áp dụng, dễ kiểm tra và dễ đánh giá hiệu quả.
Góp ý vào dự thảo luật, ông Lê Văn Cường, Phó giám đốc Sở Tài chính thành phố Huế, cho rằng hiện cơ chế chính sách vẫn thiếu tính đặc thù địa phương. Mỗi địa phương có cơ cấu doanh nghiệp, ngành nghề và dư địa phát triển khác nhau nên việc áp dụng một chính sách chung sẽ thiếu tính linh hoạt, khó phát huy hiệu quả toàn diện. Khi xây dựng chính sách cần nghiên cứu xây dựng cơ chế, chính sách theo hướng tăng tính phân cấp, phân quyền cho địa phương nhằm bảo đảm phù hợp với đặc thù phát triển kinh tế – xã hội từng vùng, từng địa bàn.
“Việc tiếp cận chính sách vẫn khó khăn, nhiều doanh nghiệp gặp khó trong việc đáp ứng các tiêu chí vay vốn, thiếu tài sản bảo đảm hoặc chưa tiếp cận đầy đủ thông tin chính sách. Vì thế cần tiếp tục rà soát, đơn giản hóa điều kiện, thủ tục tiếp cận các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, đặc biệt là các chính sách tín dụng và tiếp cận vốn từ Quỹ Phát triển Doanh nghiệp nhỏ và vừa”, ông Lê Văn Cường chia sẻ.
Liên quan đến việc chuyển đổi số doanh nghiệp, luật mới cần bổ sung cơ chế hỗ trợ chi phí thuê nền tảng số, tư vấn chuyển đổi số, đào tạo nhân lực số, có chính sách khuyến khích doanh nghiệp tham gia các chương trình chuyển đổi số thông qua cơ chế hỗ trợ tài chính, ưu đãi thuế hoặc đồng hành kỹ thuật từ cơ quan quản lý Nhà nước….
Nghị định 72 ngày 9.3.2026 của Chính phủ về điều chỉnh mức thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi đối với một số mặt hàng xăng dầu và nguyên liệu sản xuất xăng, dầu xuống mức 0% tại Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi ban hành kèm theo Nghị định số 26/2023, thời gian áp dụng đến hết ngày 30.4 năm nay.
Theo đánh giá của Bộ Công thương, ngay sau khi được ban hành, Nghị định 72 đã phát huy hiệu quả thiết thực, trực tiếp hỗ trợ doanh nghiệp đa dạng hóa nguồn cung và giảm thiểu các tác động tiêu cực từ biến động giá năng lượng toàn cầu.
Đặc biệt, trong bối cảnh xung đột tại khu vực Trung Đông gây đứt gãy chuỗi cung ứng từ các thị trường truyền thống (như Hàn Quốc và ASEAN), chính sách thuế 0% đã tạo điều kiện cho doanh nghiệp tiếp cận các nguồn hàng thay thế có xuất xứ ngoài khu vực ASEAN và Hàn Quốc góp phần quan trọng vào việc đảm bảo cung ứng cho thị trường nội địa.
Tuy nhiên, theo Bộ Tài chính, xung đột quân sự tại Trung Đông vẫn tiếp tục diễn biến phức tạp và khó lường, nguồn cung vẫn hạn hẹp, giá xăng dầu thế giới vẫn tiếp tục gia tăng. Trong khi đó, thời gian áp dụng Nghị định 72 sẽ kết thúc vào ngày 30.4 tới, trong bối cảnh các doanh nghiệp đã phải đàm phán cho các lô hàng tháng 4, tháng 5, tháng 6.
Do vậy, điều này (mốc thời gian 30.4 của Nghị định 72 - PV) gây khó khăn cho các doanh nghiệp trong việc chủ động xây dựng kế hoạch nhập khẩu, ký kết hợp đồng và tổ chức sản xuất kinh doanh một cách liên tục, hiệu quả, ổn định trong trung và dài hạn trong bối cảnh xung đột, chiến tranh trên thế giới tiếp tục diễn biến phức tạp.
Từ đó, Bộ Tài chính xây dựng dự thảo nghị quyết của Chính phủ về việc kéo dài thời hạn áp dụng của Nghị định số 72, áp dụng mức thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi đối với một số mặt hàng nguyên liệu sản xuất xăng, dầu đến hết ngày 30.6.2026. Điều này nhằm góp phần ổn định thị trường xăng, dầu, đảm bảo an ninh năng lượng trong nước trước bối cảnh tình hình thế giới vẫn còn tiềm ẩn nhiều yếu tố khó lường. Đồng thời, đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô để góp phần đạt mục tiêu tăng trưởng kinh tế; đảm bảo tuân thủ đúng thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục xây dựng, ban hành theo quy định của pháp luật.
Bộ Tài chính đề xuất quy định trên có hiệu lực kể từ ngày ký đến ngày 30.6. 2026. Sau ngày Nghị quyết này hết hiệu lực, mức thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi đối với một số mặt hàng xăng, dầu, nguyên liệu sản xuất xăng, dầu quy định tại Nghị quyết này và Nghị định số 72 thực hiện theo quy định tại Nghị định 26/2023.
Theo Đài Khí tượng thủy văn Nam bộ, ngày 30.4, khu vực Nam bộ có nắng nóng với nhiệt độ lúc 13 giờ phổ biến 35 - 36 độ. Bên cạnh đó, nhiễu động trên cao hoạt động tốt gây mưa giông cục bộ một số khu vực.
Tại tỉnh Đồng Tháp, mây giông phát triển gây mưa ở khu vực xã Phương Thịnh, Phú Cường, Trường Xuân, Tràm Chim, An Phước. Trên địa bàn tỉnh Đồng Nai mưa có khả năng xuất hiện tại xã Đại Phước, Nhơn Trạch, Thiện Hưng, Đa Kia, Hưng Phước, Đăk Ơ. Tỉnh Tây Ninh gồm các xã Bình Thành, Tân Long, Vĩnh Châu, Đức Huệ, Vĩnh Thạnh, Tân Hưng, Tuyên Bình, Vĩnh Hưng, Hòa Khánh, Mỹ Hạnh, Hậu Nghĩa…
Dự báo, thời tiết khu vực khu vực TP.HCM và Nam bộ, trong ngày 1.5 mây thay đổi, đêm không mưa, ngày nắng nóng. Chiều tối có mưa giông rải rác, có nơi mưa vừa, mưa to. Trong cơn giông đề phòng lốc, sét, mưa đá và gió giật mạnh. Nhiệt độ thấp nhất từ 24 - 27 độ C. Nhiệt độ cao nhất dao động từ 33 - 36 độ C, có nơi trên 36 độ C.
Khoảng từ ngày 2.5, vùng áp thấp nóng phía tây hoạt động mạnh trở lại. Trong ngày 2 - 3.5, mây thay đổi, đêm không mưa. Ngày nắng, có nơi có nắng nóng, tập trung chủ yếu miền Đông. Chiều tối có mưa dông rải rác, có nơi mưa vừa, mưa to. Trong cơn giông đề phòng lốc, sét, mưa đá và gió giật mạnh. Nhiệt độ thấp nhất từ 24 - 27 độ C. Nhiệt độ cao nhất dao động từ 33 - 35 độ C, có nơi trên 35 độ C.
Thời tiết Nam bộ sẽ ở vào giai đoạn chuyển mùa, ngày nắng mạnh, chiều có mưa giông. Khi thời tiết đan xen nắng mạnh và mưa giông về chiều sẽ khiến cho giông sét và gió, lốc gia tăng, do đó cần đề phòng với các nguy cơ như lốc, sét, gió giật mạnh và thậm chí là mưa đá kèm theo.
Thứ nhất là không nộp hồ sơ đăng ký thuế; không nộp hồ sơ khai thuế; nộp hồ sơ khai thuế sau 90 ngày kể từ ngày hết thời hạn nộp hồ sơ khai thuế, hoặc ngày hết thời hạn gia hạn nộp hồ sơ khai thuế theo quy định của luật Quản lý thuế 2025, dẫn đến thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được miễn, giảm, hoàn.
Thứ hai là không ghi chép, ghi nhận trong sổ kế toán các khoản thu liên quan đến việc xác định số tiền thuế phải nộp.
Thứ ba là không lập hóa đơn và không kê khai thuế khi bán hàng hóa, dịch vụ theo quy định của pháp luật hoặc ghi giá trị trên hóa đơn bán hàng thấp hơn giá trị thanh toán thực tế của hàng hóa, dịch vụ đã bán để khai thuế.
Thứ tư là sử dụng hóa đơn, chứng từ không hợp pháp, sử dụng không hợp pháp hóa đơn, chứng từ để hạch toán hàng hóa, dịch vụ mua vào trong hoạt động phát sinh nghĩa vụ thuế làm giảm số tiền thuế phải nộp hoặc làm tăng số tiền thuế được miễn, số tiền thuế được giảm hoặc tăng số tiền thuế được khấu trừ, số tiền thuế được hoàn, số tiền thuế không phải nộp.
Thứ năm là sử dụng chứng từ, tài liệu không phản ánh đúng bản chất giao dịch hoặc giá trị giao dịch thực tế để xác định sai số tiền thuế phải nộp, số tiền thuế được miễn, số tiền thuế được giảm, số tiền thuế được hoàn, số tiền thuế không phải nộp.
Thứ sáu là khai sai với thực tế hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu mà cá nhân, tổ chức vi phạm không tự nguyện khắc phục hậu quả bằng cách nộp đủ số tiền thuế phải nộp theo quy định.
Thứ bảy là cố ý không kê khai hoặc khai sai về thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu.
Thứ tám là cấu kết với người gửi hàng để nhập khẩu hàng hóa nhằm mục đích trốn thuế.
Thứ chín là sử dụng hàng hóa thuộc đối tượng không chịu thuế, miễn thuế, xét miễn thuế không đúng mục đích quy định mà không khai báo việc chuyển đổi mục đích sử dụng với cơ quan quản lý thuế.
Cuối cùng là, người nộp thuế có hoạt động kinh doanh trong thời gian ngừng, tạm ngừng hoạt động kinh doanh nhưng không thông báo với cơ quan quản lý thuế.
Thuế cơ sở 3 tỉnh Khánh Hòa lưu ý, người nộp thuế không bị xử phạt về hành vi trốn thuế mà bị xử phạt về hành vi vi phạm thủ tục thuế đối với trường hợp sau đây: không nộp hồ sơ đăng ký thuế; không nộp hồ sơ khai thuế; nộp hồ sơ khai thuế sau 90 ngày kể từ ngày hết thời hạn nộp hồ sơ khai thuế hoặc hết thời hạn gia hạn nộp hồ sơ khai thuế nhưng không phát sinh số tiền thuế phải nộp.
Nộp hồ sơ khai thuế sau 90 ngày kể từ ngày hết thời hạn nộp hồ sơ khai thuế hoặc hết thời hạn gia hạn nộp hồ sơ khai thuế có phát sinh số tiền thuế phải nộp và người nộp thuế đã nộp đủ số tiền thuế, tiền chậm nộp vào ngân sách nhà nước trước thời điểm cơ quan thuế công bố quyết định kiểm tra thuế hoặc trước thời điểm cơ quan thuế lập biên bản về hành vi chậm nộp hồ sơ khai thuế.
Người nộp thuế cần rà soát lại hoạt động sản xuất, kinh doanh, hóa đơn, chứng từ và nghĩa vụ khai, nộp thuế để tuân thủ đúng quy định pháp luật, hạn chế tối đa các rủi ro pháp lý và mức xử phạt nghiêm khắc đi kèm.