Những ngày gần đây, khu vườn rộng hơn 2,5 ha của ông Lê Văn Chìa (80 tuổi, ngụ xã Trà Côn, tỉnh Vĩnh Long) đã yên tiếng ná cao su và súng săn tự chế.
Ngồi dưới tán nhãn rợp bóng, lão nông già thở phào khi nhiều ngày liên tiếp không còn cảnh chim bị bắn rơi xuống vườn như trước đó. “Trước đây ngày nào cũng có chim bị bắn. Có con rớt xuống chết ngay, có con bị thương rồi nằm quằn quại nhìn mà đau lòng lắm”, ông Chìa nói.
Hiện trong khu vườn, ông vẫn đang chăm sóc 5 con cò ốc bị thương do săn bắn trước đó.
Những con chim ấy không phải vật nuôi, cũng chẳng mang lại lợi nhuận cho ông lão miền Tây. Nhưng suốt gần 20 năm qua, ông xem chúng như những “người bạn già” cùng trú ngụ giữa khu vườn nhãn ven ruộng.
Ông Hai Chìa kể rằng, năm 2006, khi đang chăm sóc vườn nhãn cho thu nhập hơn 100 triệu đồng mỗi năm, ông bất ngờ thấy một đàn vạc hơn trăm con bay về đậu kín khu vườn. “Ban đầu tôi tưởng chúng nghỉ tạm rồi bay đi. Nhưng vài tháng sau, chim kéo về càng lúc càng đông”, ông nhớ lại.
Rồi từ đàn vạc ban đầu, những đàn cò, còng cọc, cò trắng, quắm đen… cũng lần lượt xuất hiện. Mỗi chiều tối, từng đàn chim phủ kín khoảng trời quê rồi đáp xuống khu vườn tạo nên khung cảnh hiếm thấy giữa miền Tây.
“Chiều thì vạc bay đi kiếm ăn, sáng sớm còng cọc lại thay nhau giữ tổ. Ngày nào cũng vậy, nhìn riết rồi thành quen”, ông cười hiền.
Theo thống kê của cơ quan chức năng, thời điểm cao nhất vào năm 2018, khu vườn của ông Chìa có hơn 2.000 cá thể chim, cò, vạc sinh sống. Đến năm 2021, lực lượng chuyên môn ghi nhận nơi đây xuất hiện 33 loài chim thuộc 20 họ, 12 bộ khác nhau.
Đặc biệt, nhiều loài quý hiếm nằm trong Sách Đỏ như cò ốc, quắm đen cũng chọn khu vườn này làm nơi cư trú.
Hiện nay, theo ông Chìa, số lượng chim trong vườn đã tăng lên khoảng 5.000 – 6.000 con. Riêng cò ốc (loài chim quý thuộc họ hạc được bảo vệ nghiêm ngặt) có hơn 2.000 cá thể.
Ít ai biết rằng, để giữ đàn chim ở lại, ông Hai Chìa đã chấp nhận hy sinh gần như toàn bộ nguồn thu nhập từ khu vườn nhãn.
Ban đầu, ông từng tìm cách xua đuổi vì sợ chim làm hư cây trái. Nhưng thấy đàn chim ngày càng đông, ông lại mềm lòng. “Tôi nghĩ chim trời đã chọn mình thì thôi ráng giữ tụi nó”, ông kể.
Từ đó, lão nông quyết định bỏ hoang nhiều diện tích cây ăn trái để chim làm tổ. Không còn thu nhập ổn định từ khu vườn, cuộc sống của vợ chồng ông chủ yếu dựa vào tiền các con gửi về từ Tp. HCM.
Người thân kể rằng, nhiều năm nay, hễ nghe tiếng chim bay rối loạn là ông Chìa lại bỏ dở bữa cơm chạy ra vườn kiểm tra. Có hôm trời mưa vẫn cầm đèn pin đi quanh vườn để coi có ai vô bắn chim không.
Để tiện quan sát, ông còn dựng một căn chòi nhỏ trên nóc căn nhà cũ của người cháu giữa vườn. Từ đó, lão nông ngày đêm canh giữ “vương quốc chim trời” giữa đồng quê.
Không chỉ bảo vệ, ông còn tự bỏ tiền mua ốc bươu cho chim ăn mỗi ngày. “Giờ giá ốc rẻ nên mỗi ngày tôi mua khoảng 10-15kg cho tụi nó ăn, hết hơn 100.000 đồng”, ông nói.
Trước đó, tình trạng săn bắn chim xuất hiện ngày càng nhiều khiến ông Chìa nhiều lần bất lực. Theo ông, trung bình mỗi ngày có 2-3 con chim bị bắn hạ. Những người săn bắt thường dùng ná cao su hoặc súng tự chế rồi đem chim đi bán hoặc cấp đông.
“Cò ốc bán được 150.000-200.000 đồng/con, vạc từ 50.000 – 70.000 đồng/con, cò khoảng 30.000 đồng/con nên người ta săn dữ lắm”, ông buồn bã nói.
Điều khiến lão nông day dứt nhất là nhiều con chim quý bị bắn chết ngay trong mùa sinh sản. Có lần, ông phát hiện một con cò ốc bị thương nằm dưới gốc cây, cánh gãy gập nhưng vẫn cố ngóc đầu tìm tổ. “Tôi nhìn mà chịu không nổi”, ông nghẹn giọng.
Ông Chìa từng nghĩ đến chuyện đốn bỏ vườn cây để đàn chim bay đi nơi khác an toàn hơn. “Nếu mình không giữ nổi cho tụi nó thì thôi để tụi nó bay đi chỗ khác còn sống được”, ông nói.
Tuy nhiên, sau khi phản ánh lên cơ quan chức năng, đồng thời thông tin về vườn chim được báo chí phản ánh và mạng xã hội lên tiếng kêu gọi bảo vệ động vật hoang dã, tình hình đã có chuyển biến tích cực. Ông Chìa cho biết, mấy ngày nay không còn ai vô bắn chim nữa.
Theo ông Hà Văn Thanh Khương, Chủ tịch UBND xã Trà Côn, địa phương đã phân công lực lượng công an và tổ an ninh thường xuyên tuần tra, tuyên truyền người dân không săn bắt chim.
Theo ông Khương, phần lớn người bắn chim là thanh thiếu niên dùng ná cao su để săn bắt về ăn hoặc bán. Xã sẽ tăng cường nhắc nhở, xử lý để bảo vệ đàn chim.
Bên cạnh đó, Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Vĩnh Long cũng phối hợp với các đơn vị liên quan khảo sát thực tế tại vườn chim Hai Chìa. Theo đánh giá của ngành chức năng, đây là khu vực có giá trị lớn về đa dạng sinh học và cần được quan tâm bảo tồn.
Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Vĩnh Long Trần Trường Giang cho biết, khu vườn không chỉ có ý nghĩa về môi trường sinh thái mà còn có tiềm năng phục vụ nghiên cứu, giáo dục và phát triển du lịch sinh thái trong tương lai.
Trước mắt, lực lượng kiểm lâm sẽ phối hợp địa phương tăng cường tuyên truyền, ngăn chặn tình trạng săn bắt chim hoang dã trái phép.
Giữa miền quê yên bình của Vĩnh Long, lão nông Hai Chìa vẫn lặng lẽ sống bên đàn chim trời như suốt gần 20 năm qua.
Mỗi chiều, khi từng đàn cò trắng chao nghiêng trên nền trời đỏ rực rồi đáp xuống khu vườn nhãn, ông lại ngước nhìn theo với ánh mắt đầy yêu thương.
Giữa nhịp sống hối hả của thành phố, Bảo tàng Hà Nội đang trở thành điểm dừng chân quen thuộc, nơi du khách có thể chậm lại để lắng nghe những câu chuyện lịch sử ngàn năm qua từng hiện vật quý giá.
Trong ngày 26/4, nhân dịp nghỉ lễ Giỗ Tổ Hùng Vương (10/3 âm lịch), Bảo tàng Hà Nội đã đón lượng lớn khách tham quan. Đối với nhiều người, bước chân vào không gian trưng bày tại đây giống như đang đi qua những lớp thời gian của Thủ đô. Từ những hiện vật giản dị đời thường đến những câu chuyện lịch sử hào hùng, tất cả hiện lên gần gũi, sống động và đầy chiều sâu.
Chị Quỳnh (42 tuổi, trú tại phường Yên Hòa, Hà Nội) chia sẻ: "Biết tin bảo tàng mở cửa miễn phí dịp lễ, tôi đã đưa các con đến tham quan. Đây là cơ hội tuyệt vời để thế hệ trẻ tìm hiểu trực quan về cội nguồn và lịch sử dân tộc".
Không chỉ thu hút người lớn tuổi, bảo tàng còn là điểm đến "hot" của giới trẻ. Bạn Thanh Mai (20 tuổi) hào hứng cho biết: "Mình rất bất ngờ vì bảo tàng không chỉ có tư liệu lịch sử khô khan mà còn có rất nhiều góc check-in đẹp. Nếu biết bảo tàng thú vị và đang miễn phí thế này, mình đã rủ thêm nhiều bạn bè cùng đi".
Hiện nay, Bảo tàng Hà Nội đang lưu giữ hơn 70.000 hiện vật, tài liệu quý giá, phản ánh chiều dài lịch sử và chiều sâu văn hóa của Thăng Long – Hà Nội. Trong số đó, tâm điểm thu hút sự chú ý của đông đảo du khách chính là 4 nhóm Bảo vật Quốc gia tiêu biểu, mang giá trị đặc sắc cả về lịch sử lẫn nghệ thuật.
Nổi bật hàng đầu là Trống đồng Cổ Loa cùng bộ sưu tập lưỡi cày đồng độc đáo. Chiếc trống được phát hiện năm 1982 tại cánh đồng Mả Tre (xã Cổ Loa, Đông Anh cũ), trong tình trạng chôn ngửa, bên trong chứa hơn 200 hiện vật bằng đồng. Hoa văn trên mặt trống vô cùng phong phú, phản ánh sinh động đời sống cư dân văn hóa Đông Sơn với hình ảnh chim, người, thuyền và các hoạt cảnh sinh hoạt. Trung tâm mặt trống là ngôi sao 14 cánh, bao quanh bởi 15 vành hoa văn tinh xảo. Đặc biệt, bộ sưu tập 20 lưỡi cày đồng được tìm thấy trong lòng trống cũng được công nhận là Bảo vật Quốc gia, tạo nên giá trị khảo cổ và lịch sử hiếm có. Với kỹ thuật đúc tinh xảo, trống đồng Cổ Loa được đánh giá có giá trị tương đương các trống nổi tiếng như Ngọc Lũ hay Hoàng Hạ.
Bên cạnh đó, Chuông Thanh Mai được phát hiện năm 1986 tại Bãi Rồng (Thanh Oai cũ) là một kiệt tác của nghệ thuật đúc đồng cổ. Trên thân chuông khắc bài minh văn dài gần 1.530 chữ Hán, ghi chép chi tiết về niên đại đúc vào năm 798 cùng nhiều thông tin về địa danh, chức danh quan lại và đơn vị đo lường.
Đỉnh chuông đúc nổi băng cánh sen kép, băng nhũ đinh. Quai hình hai đầu rồng đấu nhau. Chuông thể hiện đỉnh cao của nghệ thuật điêu khắc và đúc đồng thời bấy giờ. Chuông là 1 trong 10 kỷ lục văn hóa Phật giáo Việt Nam năm 2006 và được Thủ tướng Chính phủ công nhận là Bảo vật Quốc năm 2015.
Một bảo vật khác mang đậm dấu ấn nghệ thuật là Chân đèn gốm men lam xám thế kỷ XVI của nghệ nhân Đặng Huyền Thông. Tác phẩm được tạo tác năm 1582, gồm hai phần rời nhau, lắp khớp lại, với lớp men lam xám đặc trưng và hệ thống hoa văn đa dạng như rồng, lá đề, cánh sen… Ngang vai chân đèn in nổi dòng chữ Hán "Hoàng đế vạn tuế, thiên hạ thái bình". Điểm đặc biệt nằm ở hệ thống minh văn gồm 28 dòng chữ Hán, ghi lại thông tin về người chế tác, người đặt hàng và ngôi chùa được cung tiến.
Không kém phần ấn tượng là Long đình gốm Bát Tràng có niên đại thế kỷ XVII, một hiện vật hiếm thuộc dòng gốm thờ truyền thống. Được sản xuất tại làng Bát Tràng, long đình gồm ba phần: mái, thân và chân đế, với kỹ thuật tạo tác tinh tế, kết hợp giữa chạm đắp nổi - dán ghép không phủ men với việc sử dụng các màu men lam, xanh rêu để tạo ra dòng men "tam thái" đặc trưng, cùng các họa tiết phù điêu như rồng, nghê, hoa sen, mây… đã tạo nên một tác phẩm vừa mang giá trị nghệ thuật, vừa có ý nghĩa quan trọng trong nghiên cứu lịch sử nghề gốm Việt.
Với hệ thống hiện vật đồ sộ cùng những bảo vật quốc gia quý hiếm, bảo tàng được tổ chức thành 7 chủ đề lớn, phản ánh xuyên suốt tiến trình từ thời kỳ dựng nước đến công cuộc xây dựng Thủ đô hiện đại.
Bên cạnh hệ thống trưng bày trong nhà, khu vực ngoài trời còn có các không gian sắp đặt, khu trải nghiệm ẩm thực và sự kiện, tạo nên một điểm đến văn hóa tổng hợp đa dạng.
Về việc miễn phí vé trong ngày 26/4, đại diện Bảo tàng Hà Nội cho biết đơn vị đã nhanh chóng triển khai theo yêu cầu từ UBND Thành phố Hà Nội vào ngày 25/4 để phục vụ nhân dân. Dù quyết định được ban hành gấp rút khiến công tác tuyên truyền có phần sát sao, nhưng đây là nỗ lực lớn của Thành phố trong việc quảng bá văn hóa và tạo điều kiện cho người dân tiếp cận các giá trị lịch sử.
Tuy nhiên, hiện vẫn chưa có quyết định chính thức liệu chính sách ưu đãi này có tiếp tục được áp dụng trong kỳ nghỉ lễ 30/4 và 1/5 sắp tới hay không.
Sinh ra và lớn lên tại vùng quê nghèo Kim Chung (Đông Anh cũ), nay là xã Thiên Lộc, Tp.Hà Nội, tuổi thơ của Đại tá, Cựu chiến binh, nhà thơ Lê Minh Tý gắn liền với nhiều thiếu thốn, khó khăn vất vả. Cha anh là liệt sĩ trong kháng chiến chống Pháp, khi đó anh còn rất nhỏ.
Hoàn cảnh ngày ấy chỉ có mình mẹ anh đã tần tảo nuôi ba con trong điều kiện cơm áo khó khăn đủ điều. Là con trai thứ trong gia đình, anh sớm nhận thức được trách nhiệm và luôn tâm niệm phải nỗ lực vươn lên trong học tập cũng như trong cuộc sống.
Anh luôn nỗ lực trong học tập, hoàn thành 10 năm phổ thông và thi đỗ tốt nghiệp. Tuy nhiên, con đường vào đại học của anh không hề thuận lợi. Giai đoạn 1964-1969, do chiến tranh phá hoại của Mỹ, việc tuyển sinh đại học được thực hiện theo chế độ chiêu sinh, không phải thi tuyển.
Đến năm 1970, khi chiến tranh tạm lắng, Bộ Đại học khôi phục kỳ thi tuyển sau 5 năm gián đoạn, khiến anh và nhiều bạn cùng trang lứa phải đối mặt với thử thách lớn. May mắn đã mỉm cười khi anh trúng tuyển Khoa Văn, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, nằm trong số khoảng 15% thí sinh đỗ đại học năm ấy.
Bước vào giảng đường là ước mơ lớn, nhưng những ngày đầu anh gặp không ít bỡ ngỡ: từ một người quê lên thành phố, lại thiếu thốn về điều kiện sống. Dù vậy, với quyết tâm rõ ràng và niềm say mê, anh vẫn kiên trì theo đuổi việc học, đồng thời nuôi dưỡng ước mơ văn chương suốt những năm tháng ở mái trường Đại học Tổng hợp Hà Nội.
Đang học năm thứ hai, tháng 9/1971, anh cùng hơn 100 sinh viên các trường Bách khoa, Ngoại ngữ và Đại học Tổng hợp Hà Nội "xếp bút nghiên" lên đường nhập ngũ vào lực lượng Công an nhân dân vũ trang.
Sau thời gian rèn luyện trong quân ngũ, nhiều sinh viên được trở lại trường tiếp tục học tập, nhưng con đường của anh rẽ sang hướng khác.
Trải qua ba năm phục vụ, anh phấn đấu và được kết nạp Đảng; sau đó được tổ chức cử đi đào tạo để gắn bó lâu dài với lực lượng. Từ năm 1975 đến 1978, anh theo học Trường Sĩ quan Công an nhân dân vũ trang tại Sơn Tây.
Gần 40 năm đời binh nghiệp, anh đã phấn đấu rèn luyện không ngưng nghỉ. Và đã trưởng thành với quân hàm Đại tá, đảm nhiệm chức vụ Trưởng phòng Tuyên huấn Bộ đội Biên phòng trong hơn 10 năm( 1997-2009) thì về hưu tại quê (thôn Nhuế, xã Thiên Lộc, Tp.Hà Nội).
Được nghỉ ngơi, đồng nghĩa với việc anh có nhiều thời gian hơn để nhìn lại hành trình phấn đấu, trưởng thành của mình và nhận ra rằng: tình yêu văn chương đang dang dở trước đây vẫn luôn âm ỉ. Thế là, bắt đầu quay lại với con chữ.
Bằng con đường tham gia sinh hoạt tại các câu lạc bộ thơ ở địa phương, để từ đó có cơ hội học hỏi bạn bè, các thế hệ đi trước, và dần trưởng thành trong lĩnh vực sáng tác thơ ca, văn học. Trong 8 năm đầu về nghỉ, anh đã xuất bản 4 tập thơ và 1 tập bút ký.
Các ấn phẩm này đều do các nhà xuất bản uy tín cấp phép. Các chủ đề anh đề cập phần lớn phản ánh đa dạng các khía cạnh đời sống, nhưng nổi bật nhất vẫn là mạch cảm hứng ca ngợi cái hay, cái đẹp của đất nước và con người. Anh dành nhiều tâm huyết viết ca ngợi hoặc viết những tấm gương người tốt, việc tốt từ trong đơn vị công tác trước đây còn nhớ mà chưa có dịp viết ra để tri ân, chia sẻ và lan tỏa những điều tốt đẹp, tử tế của họ, cũng như viết về nhiều tấm gương tốt, tiêu biểu ở cộng đồng dân cư nơi anh sinh sống.
Tập bút ký " Bóng thời gian" với 12 chủ đề, do Nhà xuất bản Công an nhân dân cấp phép, ấn hành năm 2024 là một minh chứng rõ nét cho thiên hướng sáng tác của anh. Trong cuốn sách này, phần lớn nội dung khắc họa những điển hình xuất sắc, tiêu biểu trong các lĩnh vực chiến đấu, lao động sản xuất, kinh doanh dịch vụ, công tác xã hội, đến hoạt động của cán bộ Mặt trận Tổ quốc ở thôn, xã …
Những tấm gương tiêu biểu, điển hình được phản ánh bằng thơ, hoặc dưới dạng Báo chí, gửi đi và được đăng tải nhằm tuyên truyền những điều tốt đẹp trong xã hội, góp phần lan tỏa cái hay, cái đẹp trong cuộc sống.
Các bài viết của anh tập trung khắc họa nhiều tấm gương tiêu biểu: chiến sĩ lập công trong năm 1972; cán bộ Mặt trận ở thôn Hậu Dưỡng năng nổ vận động xây dựng đời sống văn hóa; người mẹ Hồ Thị Thúy tần tảo nuôi ba con học giỏi, đều đỗ đại học; các bậc cao niên dòng họ Lê dành lương hưu gây quỹ khuyến học; một Trung tướng, Chính ủy BĐBP năng động khi công tác, giản dị, gần dân khi nghỉ hưu; chiến sĩ dũng cảm đấu tranh phòng, chống tội phạm tại Cảng cửa khẩu Sài Gòn; Đại tá Phạm Thanh Khương-cán bộ BĐBP trở thành nhà văn từ nghề báo; cùng họa sĩ Nguyễn Như Ngọc với những thành công trong dòng tranh chân dung Bác Hồ.
Một niềm vui và cũng là bất ngờ với anh là khi các bài viết về gương điển hình được đăng tải, chính những nhân vật được phản ánh đã gửi lời tri ân. Anh xem đó là sự động viên ngược lại, tiếp thêm hứng khởi cho công việc viết.
Chẳng hạn, bài viết về họa sĩ Như Ngọc – người thành công với dòng tranh chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh – đăng trên Báo Pháp luật Việt Nam ngày 7/4/2026, đã nhận được phản hồi xúc động từ nhân vật: "Thật hạnh phúc, cảm ơn anh nhiều lắm… Em rất cảm kích tấm lòng của anh đã đại diện cho người hâm mộ đối với em. Như thế này, em càng phải cố gắng, nỗ lực phát huy công năng của mình trên con đường nghệ thuật phục vụ Đảng, Nhà nước và quần chúng nhân dân. Em sẽ quyết tâm hơn bao giờ hết anh ạ. Cảm ơn anh rất nhiều. Kính chúc…".
Tất cả những điển hình tiên tiến đó đều hướng tới việc lan tỏa tinh thần đoàn kết, xây dựng cộng đồng trong sạch, liêm khiết, thân thiện và nhân văn. Không chỉ dừng lại ở việc in các tập thơ và bút ký, anh còn cộng tác với một số báo, tạp chí như Báo Biên phòng, Quân đội Nhân dân, Người cao tuổi, Người Hà Nội, Tạp chí Cựu chiến binh… nhằm tiếp tục lan tỏa những câu chuyện hay đến đông đảo bạn đọc.
Có thể nói, hành trình của Đại tá, nhà thơ Lê Minh Tý là hành trình bền bỉ đi tìm và tôn vinh cái đẹp trong cuộc sống trên trang sách. Dù dang dở con đường đại học, trải qua những năm tháng trong quân ngũ hay khi trở về đời thường, anh vẫn giữ trọn tâm niệm: viết để cổ vũ cái tốt, nhân lên điều thiện, hướng con người tới các giá trị Chân – Thiện – Mỹ.
Anh xứng đáng với sự trân trọng và ghi nhận của bạn đọc- người lặng lẽ nhưng bền bỉ mang cái đẹp của đời sống lên trang sách, báo, giúp bạn đọc thêm thấu hiểu, sẻ chia, góp phần lan tỏa và động viên trong cuộc sống nhiều gian nan, sôi động hôm nay.
Chiều 30/5, tại phường Xuân Hương - Đà Lạt, Hội thảo khoa học "Mô hình phát triển tỉnh Lâm Đồng: Tiềm năng và bứt phá" diễn ra dưới sự phối hợp của tỉnh Lâm Đồng và Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.
Tại Hội thảo khoa học về mô hình phát triển tỉnh, Bí thư Tỉnh uỷ Lâm Đồng – ông Y Thanh Hà Niê Kđăm nhấn mạnh, việc mở rộng từ cao nguyên, trung du đến duyên hải, nhiều cơ hội liên kết vùng và hội nhập quốc tế, hình thành các hành lang kinh tế mới, tăng cường liên kết giữa vùng Duyên hải Nam Trung Bộ, Tây Nguyên và vùng kinh tế trọng điểm phía Nam.
Với dân số khoảng 3,8 triệu người, 49 dân tộc cùng sinh sống, Lâm Đồng được đánh giá là vùng đất hội tụ nhiều lợi thế đặc biệt. Không chỉ sở hữu hệ sinh thái đa dạng, quỹ đất rộng lớn và nền nông nghiệp công nghệ cao hàng đầu cả nước, địa phương còn có trữ lượng bô xít khoảng 6,9 tỷ tấn, chiếm 73% tổng trữ lượng quốc gia.
Tuy nhiên, bên cạnh những tiềm năng to lớn, tỉnh cũng đang đối mặt với nhiều thách thức như hạ tầng chưa đồng bộ, liên kết vùng còn hạn chế, quy mô nền kinh tế chưa tương xứng với lợi thế, chất lượng nguồn nhân lực và năng lực đổi mới sáng tạo chưa đáp ứng yêu cầu phát triển mới.
Theo Bí thư Tỉnh uỷ Lâm Đồng – ông Y Thanh Hà Niê Kđăm, Lâm Đồng đang đứng trước một "ngưỡng cửa" phát triển mới. Những mô hình tăng trưởng dựa vào khai thác tài nguyên thô, hoặc phát triển du lịch, nông nghiệp theo lối mòn truyền thống đã không còn đủ dư địa để giúp tỉnh bứt phá mạnh mẽ, bền vững trong bối cảnh kỷ nguyên số và phát triển xanh hiện nay. Tỉnh cần một "bệ phóng" mới, một tư duy chiến lược đột phá để định vị lại vị thế của Lâm Đồng trong nước và khu vực.
Bí thư Tỉnh ủy Lâm Đồng cho rằng, với trí tuệ, tâm huyết và trách nhiệm của các nhà khoa học, chuyên gia, nhà quản lý, cộng đồng doanh nghiệp và các nhà đầu tư, hội thảo sẽ đóng góp nhiều luận cứ quan trọng, thiết thực cho việc hoạch định mô hình phát triển của tỉnh trong giai đoạn mới.
Qua đó, góp phần xây dựng Lâm Đồng phát triển nhanh, bền vững, toàn diện, giàu bản sắc và từng bước trở thành cực tăng trưởng năng động, giữ vai trò quan trọng của vùng Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên.
Đại diện Viện Kinh tế - Xã hội và Môi trường, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh cho hay, Lâm Đồng phát triển theo mô hình xanh – liên kết – đa trung tâm – sinh thái – thông minh; trở thành trung tâm nông nghiệp công nghệ cao, kinh tế biển xanh, năng lượng sạch và du lịch chất lượng cao và công nghiệp của khu vực phía Nam.
Theo định hướng được các chuyên gia đề xuất, trung tâm động lực số 1 là Đà Lạt, được định vị trở thành trung tâm đổi mới sáng tạo và phát triển của tỉnh. Địa phương này sẽ tập trung phát triển nông nghiệp công nghệ cao, đặc biệt là ngành hoa và rau; nghiên cứu, ứng dụng công nghệ sinh học; phát triển kinh tế dữ liệu dựa trên nền tảng tri thức của Đại học Đà Lạt; đồng thời nâng tầm du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng và Festival Hoa Đà Lạt theo hướng quốc tế.
Trung tâm động lực số 2 là Phan Thiết với định hướng trở thành trung tâm kinh tế biển và ven biển. Bên cạnh du lịch nghỉ dưỡng, kinh tế đêm và dịch vụ biển, địa phương sẽ tập trung phát triển logistics, cảng biển, nuôi trồng thủy sản công nghệ cao và năng lượng tái tạo, đặc biệt là điện gió ngoài khơi. Đây được xem là cửa ngõ kết nối kinh tế biển của tỉnh trong tương lai.
Tại khu vực Gia Nghĩa, trung tâm động lực số 3 sẽ phát triển theo hướng công nghiệp xanh, năng lượng và chế biến khoáng sản. Trọng tâm là hình thành trung tâm công nghiệp bô xít – alumin – nhôm quốc gia, gắn với phát triển công nghiệp chế biến sâu titan, năng lượng tái tạo và khai thác hiệu quả giá trị của Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Đắk Nông.
Trong khi đó, khu vực Bảo Lộc – Di Linh được xác định là trung tâm hành chính, dịch vụ và công nghiệp công nghệ cao của tỉnh. Việc sớm xác định vị trí tỉnh lỵ được đánh giá là yếu tố quan trọng nhằm tạo sự đồng thuận, tập trung nguồn lực đầu tư và thúc đẩy phát triển không gian kinh tế mới.
Đối với khu vực Hàm Tân – La Gi – Sơn Mỹ, định hướng trở thành trung tâm công nghiệp quy mô lớn, đón đầu làn sóng dịch chuyển đầu tư từ Đồng Nai và Tp.HCM, đồng thời tận dụng lợi thế từ sân bay Long Thành và hệ thống cao tốc kết nối vùng.
Để hiện thực hóa mô hình này, các chuyên gia đề xuất ba nhóm giải pháp trọng tâm. Trong đó, ưu tiên hàng đầu là hoàn thiện thể chế quản trị tỉnh mới theo hướng đa trung tâm, đẩy mạnh phân cấp, xây dựng chính quyền số và cơ chế thu hút nhà đầu tư chiến lược.
Song song đó là đầu tư đồng bộ hạ tầng chiến lược gồm hệ thống cao tốc liên vùng, cảng biển quốc tế Vĩnh Tân - Sơn Mỹ, sân bay Phan Thiết, nâng cấp sân bay Liên Khương và hạ tầng năng lượng tái tạo. Đây được xem là nền tảng để tăng cường liên kết vùng và thu hút các dòng vốn đầu tư mới.
Đáng chú ý, tỉnh cũng hướng đến phát triển hàng loạt động lực tăng trưởng mới như kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, kinh tế dữ liệu, kinh tế bạc, kinh tế đêm, kinh tế di sản và các đô thị TOD dọc các tuyến cao tốc.