Sau khi nghe lãnh đạo Vườn Bách thảo Singapore giới thiệu về khu vực trồng cây và loài cây Hopea recopei (Chò chai) cũng như quy trình trồng cây, Thủ tướng Singapore Lawrence Wong và Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã thực hiện nghi thức trồng cây trong sự chứng kiến của một số đại biểu hai nước.
Vườn Bách thảo Singapore nằm ở trung tâm thành phố, được thành lập năm 1859, hiện do Hội đồng Công viên Quốc gia quản lý. Trong những năm đầu mới thành lập, vườn đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển nông nghiệp ở Singapore và khu vực thông qua việc thu thập, trồng trọt, thử nghiệm và phân phố.
Trước đó, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cùng đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam đã đến thăm Nhà máy mẫu cho công nghệ sản xuất tiên tiến và Trung tâm thử nghiệm đường sắt Singapore.
Nhà máy mẫu cho công nghệ sản xuất tiên tiến (A*Star Model Factory) là một trong những cơ sở nghiên cứu – ứng dụng tiêu biểu của Singapore trong lĩnh vực công nghiệp thông minh, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong sản xuất.
Tại đây, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã nghe giới thiệu tổng quan và đi tham quan nhà máy mô hình. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm bày tỏ ấn tượng với cách Singapore tạo môi trường để doanh nghiệp trực tiếp thử nghiệm công nghệ trước khi đầu tư lớn.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh đó là tư duy kiến tạo rất thực tiễn: Nhà nước chia sẻ rủi ro ban đầu, doanh nghiệp mạnh dạn đổi mới, nhà khoa học gắn với nhu cầu sản xuất và năng suất của nền kinh tế. Đây cũng là hướng tư duy mà Việt Nam đang thúc đẩy trong chính sách khoa học công nghệ.
Nếu chỉ chọn sự an toàn thì sẽ không có đột phá. Vì vậy, Việt Nam đang hoàn thiện cơ chế chấp nhận rủi ro hợp lý trong nghiên cứu, khuyến khích thử nghiệm công nghệ mới.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước chia sẻ Việt Nam mong muốn hình thành các trung tâm công nghệ thực hành, nơi doanh nghiệp có thể tiếp cận chuyên gia, thử nghiệm quy trình sản xuất mới và đào tạo nhân lực ngay trong môi trường thực tế. Điều này đặc biệt quan trọng đối với công nghiệp hỗ trợ, bán dẫn và công nghệ cao.
Trong hành trình đó, Singapore là đối tác quan trọng và có nhiều kinh nghiệm quý báu; tin tưởng hợp tác Việt Nam – Singapore trong các lĩnh vực AI, bán dẫn, sản xuất thông minh, đổi mới sáng tạo và đào tạo nhân lực công nghệ cao sẽ tiếp tục phát triển mạnh mẽ trong thời gian tới.
Tại Trung tâm thử nghiệm đường sắt Singapore, sau khi tham quan và nghe giới thiệu tổng quan về Tập đoàn và Trung tâm Bảo trì đầu máy toa xe, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đánh giá đây là mô hình tham khảo tốt cho Việt Nam trong bối cảnh nhiều tuyến metro đang và sắp đi vào khai thác; nhấn mạnh Việt Nam có thể tham khảo việc đào tạo đội ngũ kỹ sư tại chỗ đủ sức tự tháo lắp, kiểm định và đại tu các công nghệ lõi; cách ứng dụng chuyển đổi số vào quy trình bảo dưỡng, giúp tiết kiệm chi phí.
Cùng ngày, Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và phu nhân cùng đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam đã tới dâng hoa tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh tại tượng và bia tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh trong khuôn viên Bảo tàng Văn minh châu Á, Singapore.
Tin Gốc: Thanh Niên

Tham gia đoàn có: Trưởng ban Tổ chức T.Ư Nguyễn Duy Ngọc; Trưởng Ban Chính sách, chiến lược T.Ư Nguyễn Thanh Nghị; Đại tướng Phan Văn Giang, Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Quốc phòng; Đại tướng Lương Tam Quang, Bộ trưởng Công an; Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Lê Hoài Trung; Bí thư Thành ủy TPHCM Trần Lưu Quang; Chánh Văn phòng T.Ư Đảng Nguyễn Hải Ninh; Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Doãn Anh; Chủ nhiệm Văn phòng Chủ tịch nước Lê Khánh Hải; Bộ trưởng Tài chính Ngô Văn Tuấn; Bộ trưởng Khoa học và Công nghệ Vũ Hải Quân; Bộ trưởng Y tế Đào Hồng Lan; Bộ trưởng Công Thương Lê Mạnh Hùng; Trợ lý Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Phụ trách Văn phòng Tổng Bí thư Tô Ân Xô; Đại sứ Việt Nam tại Ấn Độ Nguyễn Thanh Hải.
Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cường cho biết chuyến thăm thể hiện sự coi trọng của Việt Nam đối với quan hệ Đối tác Chiến lược toàn diện Việt Nam - Ấn Độ cũng như với khu vực Nam Á nói chung.
Ấn Độ là đối tác hữu nghị truyền thống ở khu vực Nam Á mà Việt Nam rất coi trọng và mong muốn đưa quan hệ lên tầm cao mới. Thời gian qua, quan hệ hai nước phát triển ổn định, nhất quán, ngày càng đi vào chiều sâu. Đặc biệt, việc thiết lập quan hệ Đối tác Chiến lược toàn diện từ năm 2016 đã tạo bước chuyển về chất.
Hiện nay, hai nước có hơn 20 cơ chế hợp tác song phương trên các lĩnh vực và đã ký kết nhiều văn kiện hợp tác quan trọng.
Đây cũng là dịp rất ý nghĩa để hai nước củng cố và tăng cường quan hệ về mọi mặt, đồng thời cùng nhìn lại việc thực hiện khuôn khổ Đối tác Chiến lược toàn diện 10 năm qua, từ đó kiến tạo xung lực mới và định hình khuôn khổ hợp tác cho quan hệ song phương giữa Việt Nam và Ấn Độ lên tầm cao mới trong giai đoạn tiếp theo.
Dự kiến, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm sẽ có chương trình rất phong phú tại Thủ đô New Delhi và tại trung tâm kinh tế, tài chính, khoa học công nghệ phát triển nhất là Mumbai.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm sẽ cùng lãnh đạo cấp cao Ấn Độ trao đổi, thảo luận về các định hướng chiến lược thúc đẩy hợp tác, tạo ra đột phá trên các lĩnh vực tiềm năng như khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, y tế, năng lượng sạch, cơ sở hạ tầng, thúc đẩy giao lưu nhân dân, văn hóa, tôn giáo...
Tin Gốc: Thanh Niên
Chính Trị
Toàn văn bài phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Shangri-La 23

CHỦ ĐỘNG KIẾN TẠO HÒA BÌNH - ỔN ĐỊNH - PHÁT TRIỂN TRONG MỘT THẾ GIỚI NHIỀU BIẾN ĐỘNG
Thưa Ngài Lawrence Wong, Thủ tướng nước chủ nhà Singapore,
Thưa Tiến sĩ Bastian Giegerich, Tổng giám đốc Viện nghiên cứu chiến lược quốc tế (IISS),
Thưa quý vị và các bạn!
Trước hết, tôi trân trọng cảm ơn Chính phủ Singapore và Viện Nghiên cứu chiến lược quốc tế đã dành cho tôi vinh dự phát biểu tại phiên khai mạc của diễn đàn quan trọng này. Trong hơn hai thập kỷ qua, Đối thoại Shangri-La đã trở thành không gian đối thoại hàng đầu về an ninh khu vực, nơi các quốc gia cùng chia sẻ nhận định, lắng nghe nghiêm túc và tìm kiếm những cách tiếp cận có trách nhiệm cho hòa bình, ổn định và phát triển.
Chúng ta gặp nhau vào thời điểm thế giới đứng trước nhiều rủi ro, bất định: kết nối rộng hơn nhưng dễ tổn thương hơn; công nghệ tiến bộ hơn nhưng rủi ro lạm dụng lớn hơn; phụ thuộc lẫn nhau sâu sắc hơn nhưng cũng dễ bị biến thành công cụ gây sức ép hơn. Trong khi các quốc gia đều nói về hòa bình, ổn định và hợp tác, môi trường chiến lược lại gia tăng nghi kỵ, phân mảnh và cạnh tranh thiếu kiểm soát. Vì vậy, điều chúng ta cần là thống nhất và triển khai một tầm nhìn chung, tối thiểu và thiết yếu, để bảo đảm hòa bình, lòng tin và phát triển cho nhân loại trong thế kỷ XXI. Đồng thời, nâng cao năng lực ngăn ngừa khủng hoảng từ sớm, từ xa; bởi thực tế cho thấy, nhiều khủng hoảng lớn thường bắt đầu từ những hiểu lầm không được hóa giải, những tín hiệu không được giải mã đúng và những cơ chế phòng ngừa không kích hoạt kịp thời.
Trên tinh thần ấy, tôi muốn chia sẻ chủ đề: Chủ động kiến tạo hòa bình - ổn định - phát triển trong một thế giới nhiều biến động.
Thưa quý vị,
Biến động là trạng thái thường trực của thế giới. Nhưng để biến động dẫn tới xung đột hay trở thành động lực tiến tới hòa bình lại là lựa chọn chiến lược của các quốc gia và cộng đồng quốc tế. Khi nhìn vào thế giới hôm nay, tôi cho rằng những bất ổn hiện nay phản ánh ba cuộc khủng hoảng nền tảng đang diễn ra đồng thời và tác động lẫn nhau. Đó là: khủng hoảng trật tự quốc tế, khủng hoảng mô hình phát triển và khủng hoảng lòng tin chiến lược.
Trước hết là khủng hoảng trật tự quốc tế. Trật tự quốc tế không phải là điều bất biến. Một trật tự công bằng có thể điều chỉnh để phản ánh những thay đổi của thế giới. Nhưng mọi sự điều chỉnh cần diễn ra bằng luật lệ, đối thoại, chia sẻ và tự kiềm chế; không thể bằng cưỡng ép, áp đặt, đe dọa sử dụng vũ lực hoặc tạo "sự đã rồi".
Khủng hoảng trật tự quốc tế bắt đầu khi luật lệ vẫn được nhắc đến, nhưng sức ràng buộc suy giảm; khi cam kết vẫn được tuyên bố, nhưng hành động thực tế lại làm xói mòn chính những cam kết ấy; khi nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế bị diễn giải theo hướng áp đặt chủ quan, được thực thi không nhất quán, hoặc bị đặt sau tư duy ưu tiên sử dụng sức mạnh, "cá lớn nuốt cá bé". Trong một môi trường như vậy, các quốc gia, nhất là các quốc gia vừa và nhỏ, phải đối mặt với sức ép chọn phe, sự cưỡng ép về kinh tế, công nghệ, tài chính và an ninh; đồng thời những không gian kết nối như biển và đại dương, không gian mạng, chuỗi cung ứng, hạ tầng số, tuyến cáp dữ liệu lại có nguy cơ trở thành không gian cạnh tranh. Những căng thẳng gần đây tại các tuyến hàng hải chiến lược ở Trung Đông cho thấy xung đột tại một điểm nóng có thể nhanh chóng tác động đến thương mại, năng lượng, logistics và đời sống kinh tế - xã hội của nhiều khu vực khác nhau trên phạm vi toàn cầu.
Hai là khủng hoảng mô hình phát triển. Trong nhiều thập kỷ, toàn cầu hóa, thương mại, đầu tư, công nghệ và kết nối chuỗi cung ứng đã tạo ra cơ hội phát triển to lớn cho nhiều quốc gia, trong đó có các nước đang phát triển. Nhưng cũng chính những động lực ấy đang đứng trước nhiều sức ép mới. Tăng trưởng chậm lại. Nợ công và chi phí vốn gia tăng. Biến đổi khí hậu đe dọa sinh kế của hàng trăm triệu người. Công nghệ mới mở ra cơ hội lớn nhưng cũng tạo ra khoảng cách mới. Thương mại, tài chính, thuế quan, năng lượng, lương thực, dữ liệu và công nghệ có nguy cơ bị sử dụng như công cụ gây sức ép.
Đối với rất nhiều quốc gia, phát triển không phải là lựa chọn thứ yếu đặt sau an ninh. Phát triển chính là nền tảng của an ninh bền vững. Nếu quá trình phát triển bị gián đoạn, nếu các nước đang phát triển bị thu hẹp cơ hội vươn lên, thì sự "tròng trành" về kinh tế rất dễ chuyển hóa thành bất ổn về xã hội, chính trị và thậm chí bất định về chiến lược.
Ba là khủng hoảng lòng tin chiến lược. Đây là cuộc khủng hoảng âm thầm nhưng nguy hiểm, vì nó khiến các quốc gia dễ nhìn hành động của nhau qua lăng kính nghi kỵ và bất an. Khi lòng tin suy giảm, một động thái phòng vệ có thể bị diễn giải thành khiêu khích, một khác biệt lợi ích có thể bị đẩy thành đối đầu, một sự cố nhỏ có thể kích hoạt vòng xoáy phản ứng nếu thiếu đối thoại, liên lạc và tự kiềm chế. Lòng tin chiến lược không phải là xóa bỏ khác biệt hay phủ nhận cạnh tranh. Điều cốt lõi là quản trị khác biệt trong khuôn khổ luật lệ, làm cho cạnh tranh có giới hạn, có trách nhiệm và có thể dự báo. Một trật tự khu vực bền vững không thể được xây dựng trên nỗi sợ thường trực và sự thiếu tin cậy lẫn nhau.
Công nghệ mới đang làm thách thức này phức tạp hơn. Dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo, không gian mạng, công nghệ lượng tử, hệ thống tự động và hạ tầng số vừa mở rộng năng lực phát triển cao hơn, vừa có thể khuếch đại nghi kỵ, thao túng thông tin, rút ngắn thời gian ra quyết định và làm tăng nguy cơ tính toán sai lầm. Khi công nghệ vượt quá tốc độ của luật lệ và sự kiểm soát của con người, ổn định chiến lược trở nên mong manh hơn. Vì vậy, vượt qua khủng hoảng lòng tin đòi hỏi có một khung chiến lược để xây dựng lòng tin chiến lược, gồm kênh liên lạc nhanh khi có sự cố, minh bạch, đối thoại, chia sẻ thông tin thực chất để giảm hiểu lầm, quy tắc ứng xử rõ ràng để ngăn va chạm và chuẩn mực công nghệ đủ mạnh để bảo đảm con người luôn giữ trách nhiệm cuối cùng trong những quyết định có hệ quả an ninh nghiêm trọng.
Ba cuộc khủng hoảng nêu trên đang hội tụ rõ nét tại châu Á - Thái Bình Dương. Đây là trung tâm tăng trưởng năng động của thế giới, nhưng cũng là nơi cạnh tranh chiến lược gay gắt; là không gian của các tuyến hàng hải huyết mạch, nhưng cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro trên biển; là khu vực hưởng lợi sâu từ toàn cầu hóa, nhưng đang chịu sức ép trực tiếp từ phân mảnh chuỗi cung ứng, biến đổi khí hậu, chuyển đổi công nghệ và cạnh tranh địa kinh tế mới. Chính vì là nơi hội tụ thách thức, châu Á - Thái Bình Dương cũng phải là nơi khởi phát lời giải.
Khu vực này có lợi ích chung trong hòa bình, kết nối và phát triển; có kinh nghiệm hợp tác đa tầng; có ASEAN như một cấu trúc đối thoại và cân bằng; có đủ động lực và quyết tâm không để cạnh tranh trượt thành đối đầu, không để các tuyến kết nối trở thành đường ranh chia cắt, không để an ninh của nước này thành bất an của nước khác.
Từ cách nhìn đó, tôi xin chia sẻ một số định hướng để cùng nhau kiến tạo một châu Á - Thái Bình Dương hòa bình, ổn định, phát triển, tự cường và có năng lực giảm thiểu rủi ro từ sớm, từ xa.
Thứ nhất, phải làm cho luật lệ và đối thoại trở thành phương tiện hữu hiệu giảm thiểu rủi ro thực sự. Đối thoại Shangri-La là nơi các quốc gia lắng nghe nhau, làm rõ ý định, tìm kiếm điểm chung và kiểm soát khác biệt, nhưng đối thoại không nên dừng ở phát biểu lập trường.
Đối thoại phải giúp nhận diện sớm rủi ro, chia sẻ thông tin, duy trì kênh liên lạc khi căng thẳng và ngăn khác biệt trượt thành khủng hoảng. Trật tự dựa trên luật lệ cũng không thuộc về riêng một nhóm quốc gia nào, mà là nền tảng chung để các nước lớn, vừa và nhỏ cùng tồn tại hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế, Hiến chương Liên Hiệp Quốc, tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, không sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực, giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình và bình đẳng giữa các quốc gia.
Luật lệ chỉ có sức sống khi được thực thi nhất quán và chuyển hóa thành cơ chế cụ thể như cảnh báo sớm, liên lạc khẩn cấp, xử lý sự cố, tự kiềm chế và hợp tác có thể kiểm chứng.
Điều này đặc biệt quan trọng đối với biển và đại dương. Biển và đại dương là tài nguyên, là không gian kết nối chung, là huyết mạch của thương mại, năng lượng, lương thực và chuỗi cung ứng toàn cầu. Không quốc gia nào được lợi nếu các tuyến kết nối ấy trở thành nơi phô diễn sức mạnh, cưỡng ép hoặc đối đầu.
Đối với Biển Đông, lập trường của Việt Nam là nhất quán, rõ ràng và có nguyên tắc. Việt Nam ủng hộ giải quyết mọi tranh chấp và bất đồng bằng biện pháp hòa bình, trên cơ sở luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước Liên Hiệp Quốc về luật Biển năm 1982. Việt Nam tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của các quốc gia khác; đồng thời kiên quyết, kiên trì bảo vệ độc lập, chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán hợp pháp của mình theo luật pháp quốc tế.
Thứ hai, cần kiến tạo một cấu trúc khu vực mở, bao trùm và lấy ASEAN làm trung tâm. Trong bối cảnh nhiều cơ chế và sáng kiến mới xuất hiện, chúng ta cần xây dựng một cấu trúc có khả năng kết nối lợi ích, giảm nghi kỵ và bổ trợ cho các cơ chế hiện có.
Mọi sáng kiến đóng góp cho hòa bình, ổn định và phát triển đều đáng được hoan nghênh, nếu minh bạch, tôn trọng luật pháp quốc tế, bổ trợ cho nhau và không làm suy yếu vai trò trung tâm của ASEAN và không biến Đông Nam Á thành không gian đối đầu giữa các khối. Vai trò trung tâm của ASEAN không tự nhiên mà có và cũng không tự duy trì. ASEAN chỉ có thể giữ vai trò đó bằng đoàn kết, tự chủ chiến lược và năng lực kiến tạo chương trình nghị sự chung.
Bao trùm phải gắn với hiệu quả, đối thoại phải tạo ra hành động, đồng thuận phải giúp khu vực phản ứng kịp thời trước các vấn đề chung. Việt Nam ủng hộ và sẵn sàng hợp tác chặt chẽ với Philippines trên cương vị Chủ tịch ASEAN 2026, cùng các nước thành viên củng cố hòa bình, an ninh, mở rộng các hành lang thịnh vượng, thúc đẩy kết nối, phát triển bao trùm, bền vững và đặt người dân ASEAN ở vị trí trung tâm.
Thứ ba, cần đặt an ninh con người và năng lực chống chịu xã hội vào trung tâm của an ninh bền vững. Bất ổn hôm nay không chỉ đến từ xung đột quân sự mà còn từ những đứt gãy trong đời sống phát triển. Vì vậy, củng cố quốc phòng là nhu cầu chính đáng, nhưng an ninh bền vững không thể chỉ dựa vào sức mạnh quân sự, càng không thể được xây bằng chạy đua vũ trang hoặc bằng cách làm gia tăng bất an phát triển cho nước khác. Điều chúng ta cần là một nền tảng phát triển có khả năng chống chịu cao trước các cú sốc, chuỗi cung ứng mở và đa dạng, kết nối hạ tầng thông suốt, hợp tác về tài chính, công nghệ và nhân lực; đồng thời thúc đẩy hợp tác thiết thực trong cứu trợ thảm họa, y tế, an ninh nguồn nước, lương thực, năng lượng, an ninh mạng, bảo vệ hạ tầng trọng yếu và tìm kiếm cứu nạn. Một khi hợp tác mang lại sự bảo đảm an toàn, sinh kế và nâng cao đời sống của người dân, lòng tin chiến lược sẽ được củng cố và bồi đắp.
Thứ tư, cần kiến tạo các chuẩn mực trách nhiệm đối với công nghệ mới và công nghiệp quốc phòng. Trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, công nghệ lượng tử, hệ thống tự động, công nghệ không gian, an ninh mạng và chuỗi cung ứng công nghệ cao đang định hình lại an ninh quốc tế. Những công nghệ này có thể mở rộng năng lực phát triển, dự báo rủi ro và quản trị, nhưng cũng có thể bị lạm dụng để tấn công mạng, thao túng thông tin, tự động hóa xung đột, giám sát bất hợp pháp hoặc tạo ra các hình thức cưỡng ép mới. Trong quốc phòng - an ninh, câu hỏi hệ trọng không phải là công nghệ mạnh đến đâu mà là con người có thể kiểm soát được công nghệ ấy đến mức nào. Vì vậy, chúng ta cần thúc đẩy đối thoại về AI trong quốc phòng - an ninh, bảo đảm trách nhiệm cuối cùng của con người trong các quyết định có hệ quả nghiêm trọng, quy tắc ứng xử trên không gian mạng, bảo vệ cáp biển, hạ tầng dữ liệu trọng yếu, minh bạch đối với các công nghệ tác động đến ổn định chiến lược. Công nghiệp quốc phòng cần phục vụ phòng vệ chính đáng và ổn định khu vực, không trở thành động lực cho chạy đua vũ trang.
Thứ năm, cần củng cố nền tảng xã hội và khả năng chống chịu; bảo vệ không gian thông tin và nâng cao nhận thức. Trong thế giới kết nối số sâu rộng, bất ổn không chỉ đến từ xung đột quân sự, đứt gãy chuỗi cung ứng hay tấn công mạng, mà còn có thể bắt đầu từ sự xói mòn niềm tin trong xã hội. Tin giả, thao túng thông tin, kích động cực đoan, phân cực xã hội và các chiến dịch gây ảnh hưởng có chủ đích có thể làm suy yếu đồng thuận quốc gia, làm méo mó nhận thức công chúng, khoét sâu chia rẽ và khiến khủng hoảng lan nhanh hơn. Vì vậy, bảo vệ hòa bình trong thời đại mới cũng đòi hỏi phải bảo vệ sự thật, củng cố niềm tin xã hội, nâng cao năng lực truyền thông chiến lược, giáo dục công dân số, thúc đẩy trách nhiệm của các nền tảng công nghệ và hợp tác quốc tế trong chống thông tin sai lệch. Một xã hội có khả năng phân biệt đúng sai, giữ được đồng thuận trước biến động và không bị dẫn dắt bởi sợ hãi, thù hận hay thao túng sẽ là nền tảng quan trọng của an ninh bền vững.
Thứ sáu, cần nâng cao năng lực ngoại giao phòng ngừa, hòa giải và trung gian trong khu vực. Nhiều cuộc khủng hoảng không bùng phát chỉ vì khác biệt lợi ích mà vì các bên thiếu kênh trao đổi đáng tin cậy, thiếu không gian để xuống thang và thiếu cơ chế giúp chuyển đối đầu trở lại đối thoại. Vì vậy, châu Á - Thái Bình Dương cần coi ngoại giao phòng ngừa là một năng lực chiến lược, không phải là biện pháp tình thế sau khi khủng hoảng đã xảy ra. Chúng ta cần nhiều hơn các kênh tham vấn khác nhau, các cơ chế trung gian linh hoạt, các nhóm tiếp xúc khi có sự cố, các diễn đàn bán chính thức và những sáng kiến xây dựng lòng tin giữa quân đội, an ninh, lực lượng thực thi pháp luật, học giả, doanh nghiệp và các tổ chức xã hội. Mục tiêu là tạo ra những "lối thoát ngoại giao" trước khi các bên bị cuốn vào vòng xoáy leo thang dẫn đến nguy cơ xung đột.
Với các đối tác có ảnh hưởng lớn trong và ngoài khu vực, Việt Nam mong muốn gửi một thông điệp chân thành: châu Á - Thái Bình Dương là không gian mở, mọi quốc gia có lợi ích chính đáng đều có thể đóng góp cho hòa bình, ổn định và phát triển. Khu vực hoan nghênh sự hiện diện minh bạch, có trách nhiệm, tôn trọng luật pháp quốc tế, ủng hộ vai trò trung tâm của ASEAN và góp phần giảm căng thẳng. Điều khu vực mong muốn không phải là sự hiện diện hay vắng mặt thuần túy của bất kỳ nước lớn nào, mà là một cam kết có trách nhiệm. Chúng tôi nhìn nhận cạnh tranh là tất yếu, nhưng cạnh tranh phải được đặt trong giới hạn của luật pháp, minh bạch và tự kiềm chế.
Ba cuộc khủng hoảng của thế giới hôm nay không phải là điều tất yếu mà chúng ta buộc phải chấp nhận. Điều quan trọng là phải nhìn thẳng vào khủng hoảng, nhưng không để khủng hoảng che khuất cơ hội hành động. Khủng hoảng trật tự quốc tế cho thấy luật pháp quốc tế và sự tự kiềm chế cần được củng cố. Khủng hoảng mô hình phát triển cho thấy cần làm mới các động lực tăng trưởng theo hướng bao trùm, bền vững và lấy con người làm trung tâm. Khủng hoảng lòng tin chiến lược đòi hỏi đối thoại, minh bạch, trách nhiệm và những cơ chế hợp tác thực chất hơn.
Những câu trả lời ấy sẽ không tự hình thành. Chúng chỉ có thể trở thành hiện thực nếu các quốc gia cùng nhau duy trì và kiến tạo luật lệ, kết nối lợi ích, củng cố lòng tin và xây dựng các cơ chế giảm thiểu rủi ro có hiệu lực trong thực tế. Trong một thế giới nhiều biến động, thách thức không chỉ đến từ những bất ổn bên ngoài, mà còn từ việc chúng ta chưa chuẩn bị đủ tốt để quản trị rủi ro. Điều quan trọng là chuyển từ ứng phó bị động sang kiến tạo chủ động; từ nhắc lại nguyên tắc sang vận hành cơ chế; từ quản lý khủng hoảng sau khi xảy ra sang giảm thiểu rủi ro trước khi khủng hoảng bùng phát.
Vì vậy, lựa chọn của châu Á - Thái Bình Dương hôm nay không phải là giữa cạnh tranh hay không cạnh tranh, bởi cạnh tranh là một thực tế của quan hệ quốc tế. Lựa chọn quan trọng hơn là giữa cạnh tranh thiếu kiểm soát và cùng tồn tại có trách nhiệm; giữa chia rẽ và đối thoại; giữa nghi kỵ, cưỡng ép và một trật tự dựa trên luật lệ và lòng tin. Việt Nam tin rằng khu vực của chúng ta có đủ bản lĩnh và lợi ích chung để lựa chọn con đường hòa bình, hợp tác và thịnh vượng.
Việt Nam hiểu rõ giá trị của hòa bình bằng chính lịch sử của mình, hiểu giá trị của phát triển bằng chính hành trình Đổi Mới và hội nhập của mình. Từ trải nghiệm ấy, Việt Nam nhận thức sâu sắc rằng lợi ích quốc gia của chúng tôi gắn bó chặt chẽ với hòa bình, ổn định và thịnh vượng của khu vực. Đóng góp cho hòa bình khu vực cũng là bảo vệ lợi ích lâu dài của Việt Nam. Mở rộng hợp tác, giảm thiểu rủi ro và kết nối các lợi ích chính đáng cũng chính là cách Việt Nam thực hiện trách nhiệm của mình đối với cộng đồng quốc tế.
Hòa bình, ổn định và phát triển là mẫu số chung của mọi quốc gia và dân tộc. Nhưng chỉ có ý nghĩa khi được chuyển hóa thành hành động cụ thể, kiềm chế trước bất đồng, đối thoại khi khác biệt gia tăng, hợp tác khi thách thức vượt qua biên giới, và xây dựng những cơ chế giảm thiểu rủi ro có thể vận hành trong thực tế.
Với tinh thần đó, Việt Nam sẵn sàng cùng các quốc gia trong và ngoài khu vực củng cố luật lệ, bồi đắp lòng tin, thúc đẩy đối thoại, tăng cường hợp tác, giảm thiểu rủi ro và cùng nhau kiến tạo một châu Á - Thái Bình Dương an toàn hơn, tự cường hơn và thịnh vượng hơn.
Tin Gốc: Thanh Niên
Chính Trị
Phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ XIII

Báo Thanh Niên trân trọng giới thiệu toàn văn bài phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ XIII, nhiệm kỳ 2026 - 2031.
Kính thưa các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam,
Thưa các đồng chí đại biểu, khách quý,
Thưa các đồng chí cán bộ Đoàn, đoàn viên, thanh niên, thiếu niên, nhi đồng,
Hôm nay, trong không khí phấn khởi, tin tưởng và tràn đầy khí thế của tuổi trẻ cả nước, tôi rất vui khi đến dự Đại hội đại biểu toàn quốc Đoàn TNCS Hồ Chí Minh lần thứ XIII - sự kiện chính trị quan trọng, ngày hội lớn của thanh niên Việt Nam. Thay mặt lãnh đạo Đảng, Nhà nước, tôi gửi tới các đồng chí đại biểu, các thế hệ cán bộ Đoàn, cùng toàn thể đoàn viên, thanh niên, thiếu niên, nhi đồng Việt Nam lời chào thân ái, lời thăm hỏi thân thiết và những tình cảm tốt đẹp nhất.
Thưa toàn thể các đồng chí,
Trải qua 95 năm xây dựng, học tập, lao động, chiến đấu, cống hiến và trưởng thành, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ kính yêu, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh đã không ngừng lớn mạnh, xứng đáng là đội dự bị tin cậy của Đảng, trường học xã hội chủ nghĩa của thanh niên, lực lượng xung kích cách mạng, người bạn đồng hành thân thiết của tuổi trẻ Việt Nam. Lịch sử vẻ vang của Đoàn hòa trong lịch sử hào hùng của dân tộc; mỗi chặng đường phát triển của đất nước đều có dấu ấn sâu đậm của những người trẻ biết đặt Tổ quốc lên trên hết, biến tình yêu nước thành ý chí hành động, thành khát vọng vươn lên, thành những việc làm thiết thực phục vụ nhân dân, dựng xây, phát triển đất nước.
Nhiệm kỳ vừa qua, công tác Đoàn và phong trào thiếu niên - nhi đồng có nhiều đổi mới, thiết thực hơn, hiện đại hơn, gần thanh niên hơn. Công tác giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống, truyền thống lịch sử, văn hóa dân tộc được triển khai phong phú, chú trọng không gian số, lan tỏa nhiều giá trị tốt đẹp. Các phong trào thanh niên tình nguyện, tuổi trẻ sáng tạo, tuổi trẻ xung kích bảo vệ Tổ quốc tiếp tục hướng mạnh về cơ sở, biên giới, hải đảo, khu công nghiệp, khu dân cư, vùng còn nhiều khó khăn. Các chương trình đồng hành với thanh niên ngày càng sát nhu cầu thực tiễn. Công tác xây dựng Đoàn, mở rộng mặt trận đoàn kết tập hợp thanh niên, chăm sóc thiếu niên, nhi đồng, giới thiệu đoàn viên ưu tú cho Đảng đạt nhiều kết quả đáng ghi nhận.
Thay mặt lãnh đạo Đảng, Nhà nước, tôi nhiệt liệt biểu dương, ghi nhận và chúc mừng những kết quả, thành tích rất đáng trân trọng của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh và tuổi trẻ cả nước trong nhiệm kỳ qua.
Bên cạnh những kết quả đó, chúng ta cũng cần thẳng thắn nhìn nhận những hạn chế, bất cập. Công tác giáo dục lý tưởng cách mạng ở một số nơi còn chậm đổi mới, chưa thật sự chạm tới suy nghĩ, băn khoăn và khát vọng của thanh niên. Việc tập hợp thanh niên ngoài khu vực truyền thống, nhất là thanh niên công nhân, lao động tự do, thanh niên trong doanh nghiệp ngoài nhà nước, thanh niên trên nền tảng số còn khó khăn. Một số phong trào còn dàn trải, nặng bề nổi, thiếu sản phẩm rõ nét. Chất lượng cán bộ Đoàn, năng lực số, năng lực tham mưu chính sách, đối thoại và tổ chức thanh niên hành động chưa đồng đều.
Những hạn chế đó đòi hỏi Đoàn phải đổi mới mạnh mẽ hơn, quyết liệt hơn, thực chất hơn. Đổi mới để nâng cao bản lĩnh chính trị, phương pháp hành động, để thực hiện tốt hơn yêu cầu của Đảng; gần thanh niên hơn, sát cơ sở hơn, hiệu quả hơn trong hoạt động; xứng đáng hơn với niềm tin của Đảng, Nhà nước, nhân dân và của chính thế hệ trẻ vào tổ chức Đoàn Thanh niên.
Thưa các đồng chí,
Đại hội lần này diễn ra khi đất nước đứng trước vận hội phát triển mới. Qua gần một thế kỷ dưới sự lãnh đạo của Đảng, sau 40 năm đổi mới, cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế của Việt Nam ngày càng được nâng lên; đồng thời mục tiêu phía trước cao hơn, yêu cầu phát triển nhanh và bền vững cấp bách hơn. Khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo, kinh tế xanh, kinh tế số mở ra cơ hội lớn; nhưng cũng đặt ra thách thức về việc làm, kỹ năng, bản lĩnh văn hóa, an ninh mạng và năng lực tự chủ quốc gia.
Trong bối cảnh đó, thanh niên không chỉ kế tục sự nghiệp của Đảng, của cách mạng, mà trực tiếp tham gia kiến tạo tương lai. Tương lai rạng rỡ của đất nước được góp sức từ từng bạn trẻ hôm nay: Có lý tưởng trong sáng, tri thức vững vàng, kỷ luật nghiêm, nhân ái sâu sắc; dám nghĩ, dám làm, dám đổi mới, dám chịu trách nhiệm, dám dấn thân vì Tổ quốc, vì nhân dân. Sau Đại hội lần này, phải chuyển hóa rõ rệt hành động của tuổi trẻ cả nước: Bản lĩnh hơn trong lý tưởng, tự cường hơn trong học tập và lao động, tiên phong hơn trong sáng tạo, mạnh mẽ hơn trong khát vọng cống hiến và chủ động hơn trong làm chủ tương lai của chính mình, của đất nước.
Tôi cơ bản tán thành với phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp nêu trong dự thảo Báo cáo chính trị trình đại hội và xin nhấn mạnh thêm một số vấn đề để đại hội quan tâm thảo luận, thống nhất thực hiện.
Thứ nhất, phải làm sâu sắc hơn công tác giáo dục lý tưởng cách mạng, bồi đắp lòng yêu nước, bản lĩnh chính trị, đạo đức, lối sống và khát vọng cống hiến cho thanh niên.
Giáo dục lý tưởng cho thanh niên không chỉ là truyền đạt nghị quyết, tổ chức sinh hoạt chính trị, càng không thể dừng ở khẩu hiệu. Điều quan trọng là làm cho thanh niên hiểu đúng, tin mãnh liệt, hành động tự giác: Hiểu giá trị của độc lập, tự do; hiểu con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; hiểu vì sao sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam; hiểu rằng yêu nước hôm nay trước hết là sống có trách nhiệm, học tập nghiêm túc, lao động sáng tạo, tuân thủ pháp luật, giữ gìn nhân cách, phụng sự nhân dân.
Đoàn phải giáo dục bằng lý lẽ đúng, sự thật thuyết phục, tấm gương gần gũi, đối thoại chân thành và môi trường rèn luyện thực tiễn. Trên không gian mạng, Đoàn phải hiện diện mạnh mẽ, thông minh, nhân văn; biết lắng nghe, nói đúng điều thanh niên cần, nói bằng cách thanh niên hiểu; lan tỏa điều tốt đẹp, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh với thông tin xấu độc, tin giả, lối sống thực dụng, lệch chuẩn, vô cảm. Mỗi cán bộ Đoàn phải là người truyền cảm hứng; mỗi cơ sở Đoàn là điểm tựa niềm tin; mỗi đoàn viên là hạt nhân tích cực trong cộng đồng.
Thứ hai, phải xây dựng thế hệ thanh niên Việt Nam học tập suốt đời, làm chủ khoa học - công nghệ, tiên phong trong đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và hội nhập quốc tế.
Trong kỷ nguyên mới, tri thức, công nghệ, dữ liệu, đổi mới sáng tạo và chất lượng con người quyết định năng lực cạnh tranh quốc gia. Đầu tư cho thanh niên chính là đầu tư cho năng lực cạnh tranh lâu dài của đất nước. Một quốc gia muốn phát triển nhanh, bền vững, tự chủ và hội nhập thành công thì phải có lớp thanh niên giỏi chuyên môn, vững kỹ năng, sáng văn hóa, bền bản lĩnh và giàu trách nhiệm xã hội. Thanh niên không thể chỉ học để có bằng cấp, mà phải học để làm người, làm việc, sáng tạo, làm chủ cuộc sống và phụng sự Tổ quốc. Mỗi bạn trẻ cần hình thành thói quen tự học, luyện ngoại ngữ, rèn kỹ năng số, kỹ năng nghề nghiệp, tư duy phản biện, khả năng hợp tác và năng lực thích ứng với biến đổi nhanh của xã hội và thị trường lao động.
Đoàn phải cổ vũ mạnh mẽ tinh thần "thanh niên Việt Nam làm chủ tương lai bằng tri thức, bản lĩnh và sáng tạo"; tạo môi trường để người trẻ nghiên cứu khoa học, khởi nghiệp sáng tạo, ứng dụng trí tuệ nhân tạo, phát triển kinh tế xanh, kinh tế số, kinh tế tuần hoàn; kết nối thanh niên với nhà trường, viện nghiên cứu, doanh nghiệp, chuyên gia, thị trường và trí thức trẻ Việt Nam toàn cầu. Phải giúp thanh niên biến ước mơ thành năng lực, biến năng lực thành sản phẩm, biến sản phẩm thành giá trị cho đất nước.
Thứ ba, phải đổi mới mạnh mẽ các phong trào hành động cách mạng theo hướng thiết thực, chuyên sâu, có sản phẩm cụ thể và tác động xã hội rõ ràng.
Phong trào của Đoàn phải bám sát nhiệm vụ chính trị của đất nước, nhu cầu của nhân dân và nguyện vọng chính đáng của thanh niên. Phong trào thanh niên không chỉ tạo khí thế, mà phải tạo giá trị; không chỉ đông người tham gia, mà phải có kết quả đo đếm được; không chỉ làm trong một thời điểm, mà phải để lại mô hình, kinh nghiệm, năng lực và đội ngũ.
Mỗi phong trào cần trả lời rõ: Phục vụ ai, giải quyết việc gì, tạo sản phẩm gì, để lại mô hình gì, phát hiện cán bộ nào, bồi dưỡng đoàn viên ưu tú nào? Thanh niên tình nguyện phải đi vào việc khó, việc mới, việc ở cơ sở; tham gia chuyển đổi số cộng đồng, xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh, bảo vệ môi trường, phòng chống thiên tai, chăm lo an sinh xã hội, hỗ trợ biên giới, hải đảo. Tuổi trẻ sáng tạo phải gắn với nâng cao năng suất lao động, cải cách hành chính, phát triển khoa học - công nghệ, giải quyết vấn đề thực tiễn. Tuổi trẻ xung kích bảo vệ Tổ quốc phải góp phần bảo vệ chủ quyền, an ninh mạng, an ninh văn hóa, an ninh con người; giữ gìn trật tự, an toàn xã hội từ cơ sở.
Thứ tư, phải đồng hành thiết thực hơn với thanh niên trong học tập, lao động, lập thân, lập nghiệp, khởi nghiệp và phát triển toàn diện.
Thanh niên hôm nay có khát vọng lớn, nhưng cũng đối diện nhiều áp lực cụ thể: học gì, làm gì, lập nghiệp ở đâu, cạnh tranh ra sao, giữ mình thế nào, sống có ích thế nào trong một thế giới biến động nhanh. Vì vậy, Đoàn phải thật sự là người bạn gần gũi, tin cậy; hiểu thanh niên, nghe thanh niên, nói được tiếng nói của thanh niên và cùng thanh niên tìm lời giải cho những vấn đề thiết thân, thiết thực.
Đoàn cần chăm lo tốt hơn việc hướng nghiệp, đào tạo kỹ năng, hỗ trợ việc làm, khởi nghiệp, nhà ở, đời sống văn hóa, sức khỏe thể chất và tinh thần của thanh niên. Phải quan tâm nhiều hơn đến thanh niên công nhân, nông thôn, sau xuất ngũ, dân tộc thiểu số, tôn giáo, yếu thế, khuyết tật, hoàn lương, thanh niên Việt Nam ở nước ngoài. Không để những ước mơ chính đáng của tuổi trẻ bị bỏ lại phía sau vì thiếu thông tin, thiếu cơ hội, thiếu điểm tựa và thiếu niềm tin. Đồng hành với thanh niên là mở đường, tiếp sức, trao niềm tin, giao việc, tạo môi trường để thanh niên tự tin trưởng thành.
Thứ năm, phải xây dựng Đoàn vững mạnh toàn diện, thật sự là đội dự bị tin cậy của Đảng và môi trường rèn luyện cán bộ trẻ cho hệ thống chính trị.
Xây dựng Đoàn là góp phần xây dựng Đảng trong thanh niên. Tổ chức Đoàn phải vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và hành động; phải gần thanh niên, hiểu thanh niên, tin thanh niên, giao việc và dẫn dắt thanh niên trưởng thành. Cán bộ Đoàn thời kỳ mới phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, đạo đức trong sáng, phương pháp dân vận tốt, năng lực tổ chức phong trào, năng lực số, năng lực tham mưu chính sách, khả năng đối thoại và xử lý vấn đề mới phát sinh trong thanh niên. Mỗi cán bộ Đoàn phải là tấm gương về học tập, đổi mới, dấn thân, nói đi đôi với làm; không hành chính hóa, không xa cơ sở, không để chỉ giỏi tổ chức sự kiện mà yếu về tổ chức thanh niên hành động.
Đoàn cần nâng cao chất lượng đoàn viên, sinh hoạt chi đoàn, tổ chức cơ sở Đoàn. Sinh hoạt Đoàn phải tránh hình thức, tăng đối thoại, rèn luyện, việc cụ thể. Việc giới thiệu đoàn viên ưu tú cho Đảng phải coi trọng chất lượng, dựa trên bản lĩnh chính trị, đạo đức, năng lực hành động, uy tín trong thanh niên và kết quả rèn luyện qua thực tiễn. Đoàn phải thực sự là môi trường phát hiện, bồi dưỡng, thử thách, cung cấp nguồn cán bộ trẻ chất lượng cao cho Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và hệ thống chính trị.
Thưa toàn thể đại hội,
Để Đoàn TNCS Hồ Chí Minh hoàn thành tốt nhiệm vụ trong giai đoạn mới, tôi đề nghị cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các ban, bộ, ngành, địa phương tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo, phối hợp, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác Đoàn và phong trào thanh thiếu niên. Công tác thanh niên là trách nhiệm của Đảng, Nhà nước, cả hệ thống chính trị, gia đình, nhà trường và xã hội; không phải nhiệm vụ riêng của Đoàn. Cấp ủy các cấp cần lãnh đạo, định hướng, giao nhiệm vụ, kiểm tra, đánh giá công tác Đoàn bằng kết quả thực chất. Chính quyền các cấp cần cụ thể hóa chính sách học tập, việc làm, nhà ở, khởi nghiệp, thiết chế văn hóa, thể thao, sức khỏe tinh thần, môi trường sáng tạo cho thanh niên. Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội cần phối hợp chặt chẽ với Đoàn trong tập hợp, giáo dục, chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của thanh niên.
Các bạn đoàn viên, thanh niên thân mến,
Đất nước đang cần ở thanh niên một tinh thần mới: Nghĩ rộng hơn, học nhanh hơn, làm tốt hơn, sống đẹp hơn, trách nhiệm hơn và cống hiến nhiều hơn. Đảng, Nhà nước và nhân dân đặt niềm tin tưởng sâu sắc vào thế hệ trẻ Việt Nam. Niềm tin ấy phải được thể hiện bằng hành động cụ thể. Tôi mong mỗi thanh niên Việt Nam hãy nuôi dưỡng hoài bão lớn nhưng cần bắt đầu từ những việc thường ngày: Học tập nghiêm túc, lao động sáng tạo, sống trung thực, kỷ luật, nhân ái, trách nhiệm; tự hào về dân tộc, yêu thương đồng bào, tôn trọng pháp luật, bảo vệ lẽ phải, dấn thân vì việc chung. Mỗi thanh niên Việt Nam khi bước ra thế giới phải là một hình ảnh đẹp của đất nước: Tự tin về tri thức, đàng hoàng về nhân cách, sâu sắc về văn hóa, trách nhiệm với Tổ quốc và thân thiện với bạn bè quốc tế.
Mỗi đoàn viên, thanh niên hãy tự hỏi: Mình đã làm gì để xứng đáng với Tổ quốc thân yêu? Đã góp gì để gia đình, người thân, quê hương, cơ quan, đơn vị, trường học, cộng đồng tốt đẹp hơn? Đã chuẩn bị gì để không tụt lại phía sau thời đại? Và phải sống, học tập, lao động, cống hiến thế nào để khi nhìn lại tuổi trẻ, có thể tự hào rằng mình đã sống xứng đáng?
Với truyền thống vẻ vang của Đoàn, với bản lĩnh, trí tuệ, khát vọng và sức sáng tạo của tuổi trẻ Việt Nam, với sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước và sự đồng hành của toàn xã hội, tôi tin tưởng Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đoàn sẽ sớm đi vào cuộc sống; công tác Đoàn và phong trào thanh thiếu nhi sẽ phát triển thực chất, mạnh mẽ, sáng tạo hơn, đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Xin chúc các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các vị đại biểu mạnh khỏe, hạnh phúc.
Chúc các đồng chí đoàn viên, thanh niên Việt Nam luôn giữ mãi ngọn lửa lý tưởng cách mạng, lòng yêu nước, niềm tin, khát vọng cống hiến và trách nhiệm với Tổ quốc, nhân dân; không ngừng rèn luyện, dấn thân, sáng tạo, góp phần viết tiếp những trang sử vẻ vang của tuổi trẻ và của dân tộc Việt Nam.
Chúc đại hội thành công tốt đẹp.
Xin trân trọng cảm ơn các đồng chí.
Tin Gốc: Thanh Niên

