* Tổng Bí thư, Chủ tịch nước có cho rằng mối quan hệ “ấm áp” hiện nay với Trung Quốc có thể duy trì trong bối cảnh căng thẳng tại Biển Đông, cũng như cạnh tranh giữa Mỹ và Trung Quốc về thương mại và an ninh không? Tổng Bí thư, Chủ tịch nước có tin rằng Việt Nam có thể thúc đẩy tiến triển trong vấn đề tranh chấp Biển Đông mà vẫn duy trì quan hệ tốt với Trung Quốc không?
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm: Việt Nam và Trung Quốc là hai nước láng giềng có quan hệ gắn bó lâu đời. Hiện nay, hai nước đang triển khai hợp tác thực chất trên nhiều lĩnh vực quan trọng.
Chủ trương của Việt Nam là tiếp tục phát triển quan hệ tốt đẹp với Trung Quốc, bởi Trung Quốc hội tụ đầy đủ các yếu tố của một đối tác ưu tiên trong chính sách đối ngoại của Việt Nam: là nước láng giềng, là đối tác quan trọng và là quốc gia có nhiều lợi ích chung cũng như những điểm tương đồng với Việt Nam. Việc duy trì quan hệ hòa bình, ổn định, phát triển và hợp tác có trách nhiệm với Trung Quốc không chỉ mang lại lợi ích cho cả hai nước mà còn đóng góp quan trọng vào hòa bình, ổn định của khu vực.
Về vấn đề Biển Đông, lập trường của Việt Nam rất rõ ràng và nhất quán. Chúng tôi kiên quyết bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và chủ trương giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước Liên Hiệp Quốc về luật Biển năm 1982 (UNCLOS 1982).
Chúng tôi không cho rằng việc duy trì và phát triển quan hệ tốt đẹp với Trung Quốc và xử lý các vấn đề trên Biển Đông là mâu thuẫn với nhau. Nếu duy trì được quan hệ tốt đẹp và đối thoại hiệu quả, mọi bất đồng đều có thể được giải quyết. Ngược lại, sự phát triển tích cực của quan hệ song phương cũng tạo nền tảng thuận lợi cho đối thoại. Vì vậy, việc duy trì quan hệ tốt đẹp với Trung Quốc, bảo vệ chủ quyền và giải quyết các vấn đề trên Biển Đông là những mục tiêu bổ trợ lẫn nhau, chứ không loại trừ nhau.
Đối với quan hệ Mỹ – Trung Quốc, cạnh tranh giữa các nước lớn là một thực tế khách quan. Việt Nam không tiếp cận quan hệ với các nước lớn từ lăng kính an ninh, cũng không lựa chọn đứng về bên nào. Chúng tôi duy trì quan hệ tốt với các nước lớn để cùng giải quyết những vấn đề quan trọng, thiết yếu; chủ trương của Việt Nam là không hợp tác với nước này để gây tổn hại hoặc tạo khó khăn cho nước khác.
Vì vậy, Việt Nam đã và đang duy trì quan hệ tốt đẹp với cả Mỹ và Trung Quốc, mang lại lợi ích cho tất cả các bên, đồng thời đóng góp vào hòa bình, ổn định của khu vực.
* Xin Tổng Bí thư, Chủ tịch nước cho biết mục tiêu tăng trưởng GDP 10% của Việt Nam có khả thi hay Đảng và Chính phủ đang xem xét điều chỉnh giảm xuống do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng Iran? Trong những năm tới, mục tiêu tăng trưởng 2 con số là tham vọng hay là mục tiêu khó đạt được trong thực tế?
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm: Khát vọng phát triển của Việt Nam là khát vọng chung của toàn dân tộc. Chúng tôi đã xác định mục tiêu rõ ràng, đó là đến năm 2045, Việt Nam trở thành quốc gia phát triển, có thu nhập cao. Mục tiêu này đã được đề ra từ nhiều năm trước và liên tục được khẳng định, trong đó có trong Báo cáo chính trị của đại hội Đảng. Thế hệ chúng tôi có trách nhiệm tiếp tục sự nghiệp phát triển đất nước và kiên định theo đuổi định hướng đó.
Để trở thành quốc gia phát triển, có thu nhập cao vào năm 2045, kinh nghiệm quốc tế cũng như quy luật phát triển cho thấy Việt Nam cần duy trì tốc độ tăng trưởng ở mức hai con số, tức tối thiểu từ 10% trở lên. Đây là vấn đề đã được nghiên cứu và cân nhắc rất kỹ lưỡng. Chúng tôi hoàn toàn nhận thức được rằng đây là một mục tiêu đầy tham vọng và rất thách thức. Tuy nhiên, vì quyết tâm thực hiện mục tiêu đó, chúng tôi đã và đang triển khai nhiều giải pháp thực tiễn quan trọng.
Chúng tôi đã đánh giá lại năng lực quốc gia và xác định lại mô hình phát triển, tăng trưởng của đất nước. Mô hình này phải được xây dựng trên nền tảng tự lực, tự cường và tự chủ chiến lược. Chúng tôi đã rà soát toàn bộ các nguồn lực dành cho phát triển, và điều đó cho chúng tôi cơ sở vững chắc để lạc quan.
Điều mang lại cho chúng tôi niềm tin chính là quyết tâm rất cao của toàn bộ hệ thống chính trị: sự cam kết mạnh mẽ của Đảng và Nhà nước, sự đồng thuận rộng rãi của nhân dân, cũng như sự tham gia tích cực của cộng đồng doanh nghiệp, các nhà sản xuất, khu vực kinh tế tư nhân, người lao động và nông dân. Chúng tôi có sự đồng thuận lớn của toàn xã hội đối với mục tiêu đầy tham vọng này.
Chúng tôi tin rằng không có con đường nào khác. Nếu không đạt được mục tiêu này, Việt Nam sẽ không thể hiện thực hóa những khát vọng phát triển lớn hơn mà đất nước đã đặt ra.
Đúng là khi mục tiêu này được đề ra, chúng tôi chưa phải đối mặt với một số khó khăn như hiện nay. Tuy nhiên, nhiều thách thức đã được dự liệu từ trước, bao gồm bất ổn chính trị thế giới, những khó khăn của kinh tế toàn cầu, đứt gãy chuỗi cung ứng, áp lực về năng lượng và biến động của thị trường quốc tế. Dù vậy, dựa trên quỹ đạo phát triển trong những năm gần đây, chúng tôi vẫn duy trì sự lạc quan.
Chúng tôi đã triển khai nhiều biện pháp mới và đang xây dựng một mô hình phát triển, tăng trưởng mới cho Việt Nam trong giai đoạn hiện nay – một mô hình dựa trên nguồn nhân lực chất lượng cao, sức mạnh của con người Việt Nam, tinh thần tự lực, tự cường, tư duy đổi mới sáng tạo, cùng với khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Chúng tôi đã nghiên cứu kỹ kinh nghiệm phát triển của các quốc gia thành công và chuyển hóa những bài học đó thành các chính sách cụ thể.
Đồng thời, chúng tôi cũng rà soát lại hệ thống thể chế, xác định các điểm nghẽn và đang tiến hành những cải cách cần thiết nhằm tháo gỡ các rào cản đối với tăng trưởng, phục vụ tốt hơn cho mục tiêu phát triển dài hạn.
Trên thực tế, kết quả đạt được trong năm 2025 và đặc biệt là trong sáu tháng đầu năm 2026 cho thấy mặc dù vẫn còn những khó khăn và cần có những điều chỉnh nhất định, các mục tiêu cốt lõi vẫn nằm trong tầm tay. Điều này càng củng cố niềm tin của chúng tôi.
Đối với câu hỏi liệu Việt Nam có điều chỉnh mục tiêu tăng trưởng hay không, câu trả lời của chúng tôi là rất rõ ràng: chúng tôi sẽ không điều chỉnh mục tiêu này theo hướng giảm xuống. Chúng tôi kiên định không chỉ với mục tiêu tăng trưởng của năm 2026 mà còn với việc duy trì quỹ đạo tăng trưởng đó trong những năm tiếp theo, bởi chỉ có như vậy mới có thể đạt được các mốc phát triển mà đất nước đã đề ra.
Và tham vọng của chúng tôi còn vượt xa hơn thế. Tầm nhìn của Việt Nam không chỉ dừng lại ở năm 2045. Chúng tôi đang hoạch định cho cả dịp kỷ niệm 100 năm thành lập nước cũng như cho thế kỷ phát triển tiếp theo của Việt Nam, với những khát vọng còn lớn lao hơn nữa trong tương lai.
* Xin trân trọng cảm ơn Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đã dành thời gian quý báu sau một ngày làm việc với lịch trình hết sức bận rộn để trả lời cho hãng Reuters hôm nay.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm: Cảm ơn các phóng viên. Chúng tôi hy vọng phóng viên đưa tin khách quan, đúng thực tế, đúng hình ảnh và sự phát triển của đất nước Việt Nam. Chúng tôi không né tránh nhìn vào khó khăn, thách thức cũng như những hạn chế, tồn tại. Tuy nhiên, chúng tôi đề nghị phóng viên phản ánh chân thực thực tế, đúng theo nguyện vọng, đúng theo yêu cầu, đúng với sự phát triển của đất nước chúng tôi. Xin cảm ơn!
Ngày 2.7, Bộ Công an tổ chức Hội nghị sơ kết công tác công an 6 tháng đầu năm và sơ kết 1 năm tổ chức công an địa phương 2 cấp gắn với địa giới hành chính mới. Thủ tướng Lê Minh Hưng dự và chỉ đạo tại hội nghị. Đại tướng Lương Tam Quang, Bộ trưởng Bộ Công an, chủ trì hội nghị.
Phát biểu chỉ đạo tại hội nghị, Thủ tướng Lê Minh Hưng đánh giá cao những kết quả nổi bật của lực lượng công an nhân dân, từ đó thể hiện rõ vai trò kiến tạo môi trường an ninh, an toàn cho phát triển và là lá chắn vững chắc trong bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội.
Đánh giá cao và cơ bản đồng tình với phương hướng, nhiệm vụ đã đề ra trong thời gian tới, Thủ tướng Lê Minh Hưng đề nghị lực lượng công an nhân dân tiếp tục gương mẫu, đi đầu trong cụ thể hóa, thực hiện chủ trương, chiến lược của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, tiên phong trong kiến tạo phát triển bằng những kết quả, sản phẩm cụ thể, đo đếm được; tích cực tham gia rà soát, kiến nghị khắc phục những bất cập trong cơ chế, chính sách, pháp luật…
Thủ tướng cũng yêu cầu lực lượng công an xây dựng hệ thống dự báo thống nhất tổng hợp thông tin đối ngoại, quốc phòng, an ninh, kinh tế, tài chính, công nghệ, xã hội, không gian mạng, không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống…
Cạnh đó, Thủ tướng yêu cầu tập trung xây dựng "lá chắn an ninh kinh tế" và "tường lửa quốc gia trên không gian mạng", hai trụ cột quan trọng trong kiến trúc an ninh quốc gia trong giai đoạn mới. Đồng thời, phát huy thực chất vai trò của lực lượng tham gia bảo vệ an ninh, trật tự ở cơ sở; củng cố và mở rộng các xã, phường, không ma túy; quyết liệt kéo giảm thêm 10% tội phạm về trật tự xã hội.
Đối với công tác đấu tranh tội phạm, Thủ tướng Lê Minh Hưng yêu cầu đấu tranh quyết liệt với các loại tội phạm, nhất là các loại tội phạm thao túng thị trường, trục lợi chính sách, tài chính, ngân hàng, sở hữu trí tuệ, lừa đảo… Đẩy nhanh tiến độ điều tra, truy tố, đưa ra xét xử các vụ án tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, tập trung thu hồi tối đa tài sản thất thoát.
Về công tác xây dựng lực lượng, Thủ tướng yêu cầu đẩy nhanh phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, công nghiệp an ninh, xác định đây là công cụ chiến lược để nâng cao năng lực bảo vệ an ninh quốc gia… Xây dựng lực lượng công an nhân dân thật sự trong sạch, vững mạnh, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại.
Thủ tướng nhấn mạnh, giai đoạn tới, lực lượng công an nhân dân không chỉ là "thanh bảo kiếm" của Đảng và Nhà nước, là "lá chắn thép" để bảo vệ an ninh Tổ quốc, là chỗ dựa vững chắc của nhân dân, mà còn góp phần bảo vệ tương lai phát triển lâu dài của đất nước, tạo lập môi trường an toàn để đất nước bứt phá đi lên.
Không chỉ đấu tranh với cái xấu, cái ác, cái vi phạm, công an nhân dân còn cần thúc đẩy cái đúng, cái tốt, cái tiến bộ, bảo vệ niềm tin của nhân dân và khát vọng phát triển của dân tộc…
Sau khi nghe lãnh đạo Vườn Bách thảo Singapore giới thiệu về khu vực trồng cây và loài cây Hopea recopei (Chò chai) cũng như quy trình trồng cây, Thủ tướng Singapore Lawrence Wong và Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã thực hiện nghi thức trồng cây trong sự chứng kiến của một số đại biểu hai nước.
Vườn Bách thảo Singapore nằm ở trung tâm thành phố, được thành lập năm 1859, hiện do Hội đồng Công viên Quốc gia quản lý. Trong những năm đầu mới thành lập, vườn đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển nông nghiệp ở Singapore và khu vực thông qua việc thu thập, trồng trọt, thử nghiệm và phân phố.
Trước đó, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cùng đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam đã đến thăm Nhà máy mẫu cho công nghệ sản xuất tiên tiến và Trung tâm thử nghiệm đường sắt Singapore.
Nhà máy mẫu cho công nghệ sản xuất tiên tiến (A*Star Model Factory) là một trong những cơ sở nghiên cứu - ứng dụng tiêu biểu của Singapore trong lĩnh vực công nghiệp thông minh, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong sản xuất.
Tại đây, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã nghe giới thiệu tổng quan và đi tham quan nhà máy mô hình. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm bày tỏ ấn tượng với cách Singapore tạo môi trường để doanh nghiệp trực tiếp thử nghiệm công nghệ trước khi đầu tư lớn.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh đó là tư duy kiến tạo rất thực tiễn: Nhà nước chia sẻ rủi ro ban đầu, doanh nghiệp mạnh dạn đổi mới, nhà khoa học gắn với nhu cầu sản xuất và năng suất của nền kinh tế. Đây cũng là hướng tư duy mà Việt Nam đang thúc đẩy trong chính sách khoa học công nghệ.
Nếu chỉ chọn sự an toàn thì sẽ không có đột phá. Vì vậy, Việt Nam đang hoàn thiện cơ chế chấp nhận rủi ro hợp lý trong nghiên cứu, khuyến khích thử nghiệm công nghệ mới.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước chia sẻ Việt Nam mong muốn hình thành các trung tâm công nghệ thực hành, nơi doanh nghiệp có thể tiếp cận chuyên gia, thử nghiệm quy trình sản xuất mới và đào tạo nhân lực ngay trong môi trường thực tế. Điều này đặc biệt quan trọng đối với công nghiệp hỗ trợ, bán dẫn và công nghệ cao.
Trong hành trình đó, Singapore là đối tác quan trọng và có nhiều kinh nghiệm quý báu; tin tưởng hợp tác Việt Nam - Singapore trong các lĩnh vực AI, bán dẫn, sản xuất thông minh, đổi mới sáng tạo và đào tạo nhân lực công nghệ cao sẽ tiếp tục phát triển mạnh mẽ trong thời gian tới.
Tại Trung tâm thử nghiệm đường sắt Singapore, sau khi tham quan và nghe giới thiệu tổng quan về Tập đoàn và Trung tâm Bảo trì đầu máy toa xe, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đánh giá đây là mô hình tham khảo tốt cho Việt Nam trong bối cảnh nhiều tuyến metro đang và sắp đi vào khai thác; nhấn mạnh Việt Nam có thể tham khảo việc đào tạo đội ngũ kỹ sư tại chỗ đủ sức tự tháo lắp, kiểm định và đại tu các công nghệ lõi; cách ứng dụng chuyển đổi số vào quy trình bảo dưỡng, giúp tiết kiệm chi phí.
Cùng ngày, Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và phu nhân cùng đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam đã tới dâng hoa tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh tại tượng và bia tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh trong khuôn viên Bảo tàng Văn minh châu Á, Singapore.
Trong khuôn khổ chuyến thăm cấp nhà nước đến Trung Quốc của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và phu nhân, hai bên đã ký 32 văn kiện hợp tác trên các lĩnh vực hợp tác kênh đảng, công an, tư pháp, kinh tế, đường sắt, thương mại nông sản, chuỗi sản xuất, chuỗi cung ứng, hợp tác hải quan, khoa học công nghệ, dân sinh, khai thác nguồn nhân lực, truyền thông và địa phương…
Danh sách 32 văn kiện hợp tác được ký kết giữa Việt Nam và Trung Quốc cụ thể như sau:
1. Kế hoạch hợp tác giữa Đảng Cộng sản Việt Nam nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Đảng Cộng sản Trung Quốc nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa giai đoạn 2026 - 2030.
2. Bản ghi nhớ hợp tác giữa Ban Tổ chức Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Ban Tổ chức Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
3. Thỏa thuận hợp tác giữa Bộ Ngoại giao nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Ban Liên lạc Đối ngoại Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
4. Bản ghi nhớ về hợp tác trong khuôn khổ Sáng kiến an ninh toàn cầu giữa Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
5. Giấy chứng nhận bàn giao hồ sơ kết quả Dự án viện trợ Việt Nam lập báo cáo nghiên cứu khả thi tuyến đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng giữa Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
6. Hiệp định giữa Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa về hợp tác và hỗ trợ hành chính lẫn nhau trong lĩnh vực hải quan.
7. Công thư về viện trợ không hoàn lại của Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa cho dự án Xây mới cơ sở 2 Học viện Y - Dược học cổ truyền Việt Nam giai đoạn 1.
8. Bản ghi nhớ giữa Bộ Xây dựng nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Ủy ban Phát triển và Cải cách Quốc gia nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa về triển khai hợp tác đào tạo đường sắt để tăng cường năng lực cho nhân lực đường sắt Việt Nam.
9. Bản Ghi nhớ về hợp tác giáo dục nghề nghiệp giữa Bộ Giáo dục - Đào tạo nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam với Bộ Giáo dục nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
10. Bản ghi nhớ triển khai chương trình nghiên cứu chung Việt Nam-Trung Quốc giữa Bộ Khoa học - Công nghệ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Bộ Khoa học - Công nghệ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
11. Bản ghi nhớ về hợp tác trong lĩnh vực công nghệ số giữa Bộ Khoa học - Công nghệ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam với Bộ Công nghiệp - Công nghệ thông tin nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
12. Nghị định thư về thiết lập, quản lý và vận hành đường dây nóng cấp Bộ trưởng giữa Bộ Công an nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Bộ Công an nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
13. Bản ghi nhớ về hợp tác giao lưu văn hóa, nghệ thuật, thể thao giữa Bộ Công an nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Bộ Công an nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
14. Bản ghi nhớ hợp tác bảo đảm an ninh, trật tự trong lĩnh vực du lịch giữa Bộ Công an nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Bộ Công an nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa;
15. Bản ghi nhớ hợp tác giữa Bộ Tư pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Bộ Tư pháp nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa về tăng cường hợp tác trong lĩnh vực giải quyết tranh chấp dân sự, thương mại của cư dân biên giới.
16. Chương trình hợp tác 2026 - 2027 giữa Bộ Tư pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Bộ Tư pháp nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
17. Bản ghi nhớ về việc thành lập Nhóm công tác đàm phán thúc đẩy xây dựng Khu hợp tác kinh tế qua biên giới giữa Bộ Công Thương nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Bộ Thương mại nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
18. Bản ghi nhớ về việc thành lập Nhóm công tác hợp tác chuỗi sản xuất, chuỗi cung ứng giữa Bộ Công Thương nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Bộ Thương mại nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
19. Nghị định thư về yêu cầu kiểm dịch thực vật đối với việc xuất khẩu quả bưởi và quả chanh giữa Bộ Nông nghiệp và Môi trường nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Tổng cục Hải quan nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa;
20. Bản ghi nhớ về cùng thực hiện Kế hoạch hợp tác phát triển nguồn nhân lực giữa Bộ Tài chính nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam với Tổng Cục Hợp tác phát triển quốc tế quốc gia nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
21. Biên bản hội đàm về khảo sát hiện trường công tác nghiên cứu khả thi Dự án viện trợ Việt Nam sửa chữa, bảo trì Cung Hữu nghị Việt – Trung.
22. Thỏa thuận hợp tác giữa Đài tiếng nói Việt Nam nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Hãng Thông tấn Tân Hoa nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa.
23. Bản Ghi nhớ về hợp tác giữa Thông tấn xã Việt Nam nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Tân Hoa xã nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa theo cơ chế Diễn đàn Truyền thông và Tham vấn Phương Nam toàn cầu.
24. Bản ghi nhớ về Hợp tác thông tin giữa Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Tân Hoa xã nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
25. Thỏa thuận tăng cường hợp tác Văn hóa Nghệ thuật năm 2026 - 2027 giữa Đài Truyền hình Việt Nam nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Đài Phát thanh truyền hình Trung ương Trung Quốc nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa.
26. Thỏa thuận hợp tác giữa Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Đài Phát thanh, Truyền hình Trung ương Trung Quốc nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
27. Bản Ghi nhớ về tăng cường hợp tác giữa Thông tấn xã Việt Nam nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Đài Phát thanh - Truyền hình Trung ương Trung Quốc nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa;
28. Bản ghi nhớ hợp tác giữa Tạp chí Cộng sản Việt Nam nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Đài Truyền hình Trung ương Trung Quốc nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
29. Bản Ghi nhớ hợp tác giữa thành phố Hà Nội, thủ đô nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và thành phố Bắc Kinh, thủ đô nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa giai đoạn 2026 - 2030.
30. Thỏa thuận thiết lập quan hệ hữu nghị cấp tỉnh giữa tỉnh Phú Thọ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và tỉnh Sơn Tây nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
31. Thỏa thuận về triển khai hợp tác bồi dưỡng cán bộ giữa Đảng ủy các tỉnh, thành phố Quảng Ninh, Lạng Sơn, Cao Bằng, Tuyên Quang, Hải Phòng nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Khu ủy Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
32. Bản ghi nhớ giữa Ủy ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn, Việt Nam và Chính quyền nhân dân Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây, Trung Quốc về xác nhận vị trí, loại hình, thời gian mở cửa, thời gian làm việc và nâng cấp cửa khẩu song phương Chi Ma (Việt Nam) - Ái Điểm (Trung Quốc) lên thành cửa khẩu quốc tế.