“Năm 1999, tôi làm trong một công ty của Nhật tại Việt Nam, cũng bị đối xử không ra gì. Sếp mới khi đó muốn thay cả nhóm nhân viên cũ (cùng làm từ khi công ty mới thành lập). Sau đó, 80% đồng nghiệp của tôi đã xin nghỉ việc. Còn tôi vẫn cố chịu đựng. Cả một năm sau đó, tôi cứ sáng đi chiều về, không được cho làm bất cứ việc gì quan trọng.
Mãi đến khi các thành viên mới (‘lính cũ’ mà sếp kéo về) có nguy cơ bị mất hợp đồng với một khách hàng tiềm năng lâu năm, trong khi chỉ còn 20 ngày nữa là phải giao hàng, tôi và những người cũ mới được sếp lớn gọi qua nhờ hỗ trợ giải quyết. Thực ra, sếp không trực tiếp mở lời mà nhờ các nhân viên thân tín qua nói với chúng tôi bằng giọng bề trên. Thấy vậy, tôi chỉ thản nhiên đáp: ‘Nghỉ lâu rồi nên hết mối và không thể giúp gì được’.
Sau đó, sếp bên Nhật phải bay mở cuộc họp nói chuyện với chúng tôi hai lần, tôi mới đồng ý, nhưng ra nhiều điều kiện rõ ràng và tất cả phải nhất định tuân theo. Và tôi ra tay trong nửa tháng đã giúp mọi việc được giải quyết ổn thỏa, công ty xuất hàng trước thời hạn vài ngày. Từ đó trở đi, không ai dám gây khó dễ cho tôi nữa”.
Đó là chia sẻ của độc giả Tientanovn về cách đối phó của bản thân sau bài viết “3 năm nay tôi bị sếp ‘sa thải thầm lặng'”. “Quiet firing” không diễn ra bằng một quyết định cho nghỉ việc rõ ràng, mà bằng hàng loạt tín hiệu khiến nhân viên dần mất động lực và buộc phải tự rời đi: bị cắt giảm cơ hội phát triển, không được giao việc quan trọng, liên tục bị phớt lờ hoặc đánh giá thiếu công bằng… Trong tình huống đó, phản ứng theo cảm xúc thường chỉ khiến người lao động rơi vào thế bất lợi hơn. Thẳng thắn trao đổi với cấp trên, chủ động tìm cơ hội mới, tiếp tục chứng minh năng lực hay chấp nhận rời đi để bảo vệ sức khỏe tinh thần, hay im lặng chịu đựng? Đó là câu hỏi khiến không ít người trăn trở.
>> Tôi vẫn kiên định bám nghề sau khi thất nghiệp
Chọn cách rời đi thay vì chịu đựng bất công, bạn đọc Tramnguy bình luận: “Tôi từng bị ‘sa thải thầm lặng’ trong thời gian gần ba năm. Năm thứ nhất, khi nhận ra vấn đề, tôi chủ động đề xuất giảm lương nhưng sếp không đồng ý. Đến kỳ review lương, sếp lại tăng lương cho tôi. Năm thứ hai, tôi chủ động xin nghỉ, sếp cũng không đồng ý vì lúc đó tôi đang theo một dự án. Nếu tôi nghỉ việc dự án đó sẽ hỏng giữa chừng, nên sếp khuyên và tôi ở lại. Năm thứ ba, tôi tiếp tục xin nghỉ, lần này giống như giọt nước tràn ly khi tôi bị quy trách nhiệm gánh thay cho cả team dự án.
Nhìn lại thời gian ba năm đó, tôi gần như bị cô lập, giao tiếp chính của tôi chủ yếu là với sếp. Tôi rời đi trong êm đẹp để cho trọn vẹn, nhưng sau đó xóa toàn bộ thông tin liên hệ của những người mà trước đây chủ động cô lập tôi. May mắn là khi rời công ty ở tuổi 42 tôi có công việc mới tốt hơn và được sếp mới tín nhiệm cao”.
Đồng quan điểm, độc giả Hố Đen nói thêm:“Tôi cũng rơi vào tình cảnh tương tự chỉ vì mâu thuẫn với các lãnh đạo. Ban đầu, họ đặt điều vu khống tôi để ép nghỉ nhưng không được. Sau đó, họ phân tôi dạy ba tiết ở ba buổi khác nhau. Không chấp nhận bị đối xử bất công, tôi nghỉ việc luôn. Từ ngày đó, tôi tự hứa với bản thân luôn tìm cách tạo dựng một nguồn thu nhập riêng bất chấp mang tiếng là ‘không cống hiến hết mình’. Tôi mất nhiều thời gian và phải đến gần 40 tuổi mới tìm được hướng ổn định và chính thức chấm dứt tháng ngày làm thuê cho người khác”.
Tuy nhiên, không phải ai cũng dám đứng lên đấu tranh hay dứt khoát nghỉ việc để tìm cơ hội mới, bạn đọc RĐ lại chọn cách im lặng: “Quan điểm của tôi là khi đi làm bản thân sẽ luôn làm hết mình vì công ty đã trả đủ lương mua sức lao động của mình. Còn nếu tôi vẫn nhận lương dù không được giao việc thì đó là việc của công ty. Hàng ngày, tôi vẫn tốn thời gian (tự do cá nhân) để vào văn phòng làm việc, vậy thì tôi nhận lương hoàn toàn không áy náy gì. Nhiệm vụ của quản lý là giao việc cho nhân viên, nếu sếp không giao việc thì đó là lỗi họ chứ không phải tôi, nên chẳng việc gì phải áy náy”.
Kỳ nghỉ lễ 30/4-1/5 vừa rồi, tôi chi khoảng 20 triệu cho chuyến du lịch của gia đình ba người. Điều đáng nói là chúng tôi vẫn đang ở nhà thuê. Khi biết chuyện, không ít người quen của tôi nói rằng: "Chi tiêu như vậy là lãng phí", hay "sao không để dành tiền mua nhà, nghỉ lễ ở nhà cho đỡ tốn?".
Thực ra, tôi đã có nhiều năm sống với tâm lý phải dành dụm, phải tích lũy càng nhiều càng tốt để hướng tới việc sở hữu một căn nhà của riêng mình. Nhưng càng chạy theo mục tiêu đó, tôi càng nhận ra cuộc sống của mình trở nên căng thẳng, mệt mỏi, bế tắc. Những dịp nghỉ lễ đáng lẽ là thời gian để nghỉ ngơi, lại biến thành những ngày quanh quẩn trong nhà, vì "đi đâu cũng tốn kém".
Năm nay, dù thu nhập của hai vợ chồng ở Sài Gòn vẫn loanh quanh 30 triệu một tháng, nhưng tôi quyết định làm khác đi. Tôi muốn cả gia đình có một chuyến đi chơi thực sự, dù không quá xa xỉ nhưng đủ để thay đổi không khí, để vợ chồng và con có thời gian bên nhau đúng nghĩa.
20 triệu không phải là số tiền nhỏ với gia đình tôi. Đó là cả một khoản tích góp lớn. Nhưng đổi lại, chúng tôi có những ngày không phải vội vã, không phải lo công việc, không phải tính toán từng đồng chi tiêu nhỏ lẻ. Con tôi lần đầu được trải nghiệm những điều mới mẻ, vợ tôi có những khoảnh khắc thư giãn hiếm hoi, còn tôi thì thấy mình thực sự được nghỉ.
>> Vợ chồng lương 30 triệu không bám trụ nổi Sài Gòn
Có người sẽ nói, những thứ đó không "cụ thể" như một khoản tiền tiết kiệm. Nhưng với tôi, ký ức và trải nghiệm cũng là một dạng tài sản, chỉ là không thể đo đếm ngay lập tức.
Tôi không phủ nhận tầm quan trọng của việc tiết kiệm, càng không đánh giá thấp mục tiêu mua nhà. Nhưng nếu vì một mục tiêu trong tương lai mà đánh đổi hết những niềm vui ở hiện tại, tôi thấy không đáng. Bởi không ai biết chắc mình sẽ mất bao lâu để đạt được mục tiêu đó, và trong quãng thời gian ấy, mình đã bỏ lỡ bao nhiêu khoảnh khắc đáng nhớ?
Tiết kiệm không có nghĩa là phải sống dè sẻn đến mức tự tước đi những trải nghiệm của bản thân và gia đình. Với tôi, việc "hưởng thụ trước mắt" trong khả năng cho phép cũng là một cách để cuộc sống có ý nghĩa hơn. Chuyến đi vừa rồi khiến tôi cảm thấy gia đình mình gắn kết hơn, bản thân tôi nhẹ nhõm hơn. Và đôi khi, chỉ cần vậy cũng đã đủ để thấy số tiền bỏ ra là xứng đáng.
Có thể lựa chọn của tôi không phải dành cho tất cả mọi người. Nhưng nếu cứ mãi chờ "khi nào đủ điều kiện" mới cho phép mình tận hưởng cuộc sống, thì có lẽ sẽ chẳng bao giờ là đủ. Bởi sống không chỉ là tích lũy cho tương lai, mà còn là biết cách tận hưởng hiện tại, trong giới hạn mình có thể.
Đọc bài viết "Tôi không ăn nữa khi cả bàn tiệc gắp thức ăn cho nhau", tôi lại có cái nhìn khác với tác giả. Tôi nghĩ sự nhiệt tình mời mọc trên mâm tiệc là một nét đặc trưng của người Việt. Nó có mặt hay, cũng có những lúc khiến người khác khó xử. Bản thân tôi cũng không ít lần rơi vào tình huống ấy, nhưng tôi xem đó là điều gần như đương nhiên khi tham gia một bữa tiệc đông người.
Tôi từng ngồi chung bàn với những người rất cởi mở. Họ chủ động bắt chuyện, kết nối mọi người, chia đều những món ăn được dọn với số lượng có hạn để không ai phải ngại ngần hay đắn đo. Nhờ vậy, những người vốn xa lạ, ban đầu còn giữ ý, chỉ sau vài phút đã nói chuyện rôm rả. Không khí bữa ăn có tiếng cười, có sự giao lưu đúng nghĩa, thay vì ai biết người nấy.
Ngược lại, cũng có những lần tôi gặp cả bàn ăn gần như im lặng. Hỏi gì đáp nấy, ai ăn phần người nấy, không khí gượng gạo dù tôi cũng cố gắng bắt chuyện. Khi đó, bữa tiệc giống như một nghĩa vụ phải hoàn thành hơn là dịp gặp gỡ. Món ăn ngon cũng trở nên nhạt đi, mọi người chỉ mong ăn nhanh cho xong để rời đi.
Đặt hai trải nghiệm ấy cạnh nhau, tôi càng thấy giá trị của những người biết quan tâm đến người ngồi cùng bàn. Đúng là đôi khi sự nhiệt tình của họ có thể khiến người khác hơi khó xử, nhưng họ cũng đang làm một việc quan trọng: tạo ra bầu không khí thân thiện để mọi người gần nhau hơn.
>> 'Tôi kinh hãi vì 10 người nhúng đũa vào nồi lẩu'
Vì thế, đọc chia sẻ của tác giả bài viết trước, tôi nghĩ có lẽ bạn không phù hợp với kiểu tiệc đông người vốn rất phổ biến ở Việt Nam. Cảm giác đó giống như bạn mặc một bộ vest đi chơi thể thao rồi thấy mọi thứ xung quanh không phù hợp với mình. Ở đây, không hẳn ai đúng, ai sai, mà chỉ là kỳ vọng của mỗi người khác nhau.
Theo tôi, đã ngồi chung một mâm tiệc thì cũng nên xuề xòa, hòa đồng với nhau một chút. Hãy vui vì có người sẵn sàng làm điều mà nhiều người ngại làm: chủ động kết nối và tạo không khí cho bữa ăn. Đừng quá xét nét hay đánh giá hành động của họ. Nếu bạn không muốn ăn món đó thì cứ việc để lại trong bát của mình một cách lịch sự, tế nhị là được.
Nếu ai cũng chỉ giữ ý, sợ gắp vào phần của người khác, sợ lấy mất miếng ngon mà người bên cạnh đang để dành, thì rất dễ xảy ra cảnh đồ ăn vẫn còn mà không ai dám động đũa. Trong nhiều bữa tiệc, tôi thấy có miếng thịt đùi gà rất ngon nhưng chẳng ai dám gắp vì ai cũng nghĩ nên nhường cho phụ nữ hoặc trẻ nhỏ. Cuối cùng miếng ngon vẫn còn đến cuối đĩa. Nếu không có ai chủ động chia sẻ, mọi người lại càng ngại ngần hơn.
Ăn tiệc đông người vốn là một sinh hoạt cộng đồng. Cũng như khi ngồi cùng bàn, nhiều người sẽ tự nhiên rót nước, mời nhau mà chẳng cần ai yêu cầu. Nếu chỉ chăm chăm lo phần mình, đến cuối bữa rất có thể lại bị nhận xét là thiếu ý tứ, không biết quan tâm đến người khác.
Vì vậy, theo tôi, trong những bữa tiệc như thế, mỗi người nên bớt câu nệ một chút. Có thể không phải ai cũng thích kiểu mời mọc hay gắp thức ăn cho nhau, nhưng nếu nhìn đó như một cách người Việt thể hiện sự hiếu khách và mong muốn kết nối, mọi chuyện sẽ nhẹ nhàng hơn rất nhiều.
Tác giả cho rằng: Thay vì nghỉ 30 - 45 phút ăn trưa thì tốn từ 1h30 đến 2h đồng hồ để ăn trưa và ngủ. Dậy lúc 1h30 chiều thì tốn thêm 15 - 20 phút rửa mặt, đi vệ sinh, rửa tay. Thì 2h mới làm. Rồi đến 5h00 rục rịch về. Vậy là làm việc có 5 - 6h".
Tôi hoàn toàn không đồng ý với quan điểm này bởi lập luận như vậy là đang đánh đồng giữa việc sử dụng thời gian thiếu hiệu quả với bản thân giấc ngủ trưa.
Ở nhiều công ty tại Việt Nam, ngày làm việc bắt đầu từ 7h30 sáng, thậm chí sớm hơn. Người lao động phải thức dậy từ 5h30 hoặc 6h để chuẩn bị, đưa con đi học, di chuyển đến nơi làm việc. Đến 11h30 trưa, họ đã trải qua khoảng 4 tiếng làm việc liên tục.
Trong điều kiện thời tiết nóng ẩm, nhiệt độ ngoài trời có thể lên tới 35-40 độ C, việc cơ thể xuất hiện cảm giác mệt mỏi vào giữa ngày là điều bình thường. Một giấc ngủ ngắn 20-30 phút không phải biểu hiện của sự lười biếng mà là nhu cầu sinh lý tự nhiên giúp phục hồi sự tỉnh táo.
Thực tế, rất ít người ngủ đến 1h30 rồi mất thêm nửa tiếng để vệ sinh cá nhân như ví dụ được đưa ra. Phần lớn nhân viên ăn trưa, nghỉ ngơi một chút rồi trở lại làm việc đúng giờ.
Nếu có những nơi quản lý lỏng lẻo khiến thời gian nghỉ bị kéo dài quá mức, vấn đề nằm ở cách tổ chức lao động chứ không nằm ở giấc ngủ trưa. Nếu chỉ cần ngồi lâu là hiệu quả, những quốc gia làm việc nhiều giờ nhất thế giới đã phải là những nền kinh tế năng suất nhất thế giới.
Trong khi đó, nhiều nghiên cứu trong nhiều năm qua đều cho thấy sau một ngưỡng nhất định, thời gian làm việc tăng lên nhưng hiệu quả lại giảm xuống. Một nhân viên tỉnh táo, tập trung trong 6 giờ có thể tạo ra nhiều giá trị hơn một người ngồi đủ 8 tiếng nhưng liên tục mệt mỏi, mất tập trung hoặc xử lý công việc trong trạng thái uể oải.
Thêm vào đó, cũng cần nhìn vào bối cảnh địa lý cụ thể: Nhiều quốc gia châu Âu bắt đầu ngày làm việc lúc 9h sáng. Mùa đông, mặt trời mọc muộn. Điều kiện khí hậu ôn hòa hơn giúp cơ thể ít bị tiêu hao năng lượng bởi nhiệt độ cao.
Trong khi đó, Việt Nam nằm trong vùng nhiệt đới. Mặt trời mọc sớm, thời gian nắng kéo dài, độ ẩm cao. Nhịp sinh hoạt tự nhiên của người dân cũng khác.
Không phải ngẫu nhiên mà ở nhiều nước có khí hậu nóng như Tây Ban Nha, Italy hay một số quốc gia Mỹ Latin từng tồn tại văn hóa nghỉ trưa kéo dài. Tôi nghĩ đó là sự thích nghi với môi trường sống chứ không phải dấu hiệu của sự chậm phát triển.