Thủ tướng Lê Minh Hưng đã ký Nghị định 191 ban hành Quy chế làm việc của Chính phủ. Quy chế áp dụng đối với Chính phủ, Thủ tướng, thành viên Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ, HĐND, UBND cấp tỉnh và các cơ quan, tổ chức, cá nhân có quan hệ công tác với Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.
Mọi hoạt động của Chính phủ phải tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ. Chính phủ quyết định theo nguyên tắc đa số đối với các vấn đề thuộc thẩm quyền.
Quy chế cũng đề cao trách nhiệm cá nhân, nêu gương của thành viên Chính phủ, người đứng đầu bộ, cơ quan ngang bộ. Mỗi nhiệm vụ chỉ giao cho một cơ quan chủ trì, chịu trách nhiệm chính, cơ quan có liên quan phối hợp thực hiện.
Bảo đảm giải quyết công việc đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục; thực hiện phân công, phân cấp, ủy quyền theo quy định pháp luật gắn với cá thể hóa trách nhiệm, tăng cường kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực; bảo đảm sự lãnh đạo tập trung, quản lý thống nhất của Chính phủ.
Thực hiện nghiêm kỷ luật, kỷ cương hành chính; thực hiện nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, bảo đảm cấp dưới phục tùng, chấp hành sự lãnh đạo, chỉ đạo, phân công của cấp trên.
Đồng thời, bảo đảm công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình trong tổ chức và hoạt động của Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ, địa phương theo quy định pháp luật; tạo điều kiện để người dân, doanh nghiệp và các tổ chức xã hội tham gia, giám sát, đóng góp trong xây dựng, thực hiện chính sách, pháp luật.
Khuyến khích, bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám tham mưu, dám chịu trách nhiệm, đề xuất những vấn đề mới có tính chất phức tạp, vì lợi ích chung.
Đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị dựa trên dữ liệu, dữ liệu thời gian thực trong chỉ đạo, điều hành; xây dựng nền hành chính thống nhất, thông suốt, liên tục, dân chủ, pháp quyền, chuyên nghiệp, hiện đại, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, phục vụ nhân dân.
Chính phủ quyết nghị các nội dung thuộc thẩm quyền theo 1 hoặc cả 2 hình thức sau: thảo luận và quyết nghị tại phiên họp Chính phủ; quyết nghị bằng phiếu lấy ý kiến thành viên Chính phủ hoặc hình thức văn bản khác.
Quyết định của Chính phủ phải được quá nửa tổng số thành viên Chính phủ biểu quyết tán thành. Trường hợp số phiếu biểu quyết ngang nhau thì thực hiện theo ý kiến mà Thủ tướng Chính phủ đã biểu quyết.
Các đề xuất, dự án, dự thảo văn bản trình Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội theo quy định pháp luật, bao gồm: định hướng lập pháp nhiệm kỳ, chương trình lập pháp hằng năm và việc điều chỉnh chương trình lập pháp; đề xuất chính sách; dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết và các văn bản khác theo quy định pháp luật.
Chính sách và văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền của Chính phủ. Chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội dài hạn, trung hạn và hằng năm; kế hoạch đầu tư công trung hạn và hằng năm; kế hoạch vay, trả nợ công 5 năm; kế hoạch tài chính 5 năm quốc gia; dự toán ngân sách nhà nước và phương án phân bổ ngân sách trung ương hằng năm; quyết toán ngân sách nhà nước và các nội dung khác thuộc thẩm quyền của Chính phủ hoặc trình cấp có thẩm quyền theo quy định pháp luật.
Đề án về cơ cấu tổ chức của Chính phủ; việc thành lập, bãi bỏ bộ, cơ quan ngang bộ; việc thành lập, giải thể, nhập, chia đơn vị hành chính, điều chỉnh địa giới và đổi tên đơn vị hành chính theo quy định pháp luật để trình cấp có thẩm quyền quyết định.
Tình hình kinh tế – xã hội định kỳ hằng tháng, hằng quý, 6 tháng, cả năm hoặc những vấn đề quan trọng, đột xuất. Chính sách phát triển ngành, lĩnh vực, vùng, địa phương. Việc tạm ngưng hiệu lực, đình chỉ, bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền của Chính phủ theo quy định pháp luật…
Chính phủ, Thủ tướng chỉ đạo các bộ, cơ quan, địa phương tổ chức triển khai thực hiện các nghị quyết, quyết định, kết luận, quy định của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và Đảng uỷ Chính phủ theo đúng đường lối, chủ trương của Đảng, Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước.
Chính phủ, Thủ tướng, phó thủ tướng, các thành viên Chính phủ thực hiện công khai, minh bạch trong hoạt động, được thực hiện chủ yếu thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, cổng thông tin điện tử…
Tùy theo tính chất, mức độ, hậu quả của việc không thực hiện đúng các quy định trên, bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chủ tịch UBND cấp tỉnh chịu trách nhiệm tự kiểm điểm, phê bình và có báo cáo giải trình gửi Thủ tướng Chính phủ. Việc công khai kết quả thực hiện theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ.
Đồng thời, kiểm điểm, xử lý các trường hợp không thực hiện đúng quy định tại quy chế này của các đơn vị, cá nhân liên quan, công khai kết quả xử lý trên Cổng thông tin điện tử Chính phủ và Cổng thông tin điện tử của các bộ, cơ quan, địa phương liên quan.
Văn phòng Chính phủ tổng hợp, báo cáo và đề xuất kiến nghị xử lý các trường hợp không thực hiện đúng quy định tại quy chế này, báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định và công khai trên Cổng thông tin điện tử Chính phủ, Cổng thông tin điện tử của các bộ, cơ quan, địa phương liên quan.
Tại dự án Bộ luật Hình sự (sửa đổi) đang được Bộ Tư pháp thẩm định, Bộ Công an (cơ quan soạn thảo) đề xuất bổ sung một số hành vi nguy hiểm cho xã hội để nội luật hóa các điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế, cam kết quốc tế mà Việt Nam là thành viên.
Đơn cử như hành vi vi phạm bí mật thương mại; cướp có vũ trang chống lại tàu thuyền trên biển; các hành vi cấu thành tội phạm trong các điều ước được liệt kê trong phụ lục của Công ước quốc tế về trừng trị hành vi tài trợ khủng bố; hành vi cung cấp tiền, tài sản bằng bất kỳ phương thức nào, trực tiếp hoặc gián tiếp; mở rộng các hành vi khách quan của tội Rửa tiền; hành vi vi phạm quy định về khai thác thủy sản để đáp ứng yêu cầu của Ủy ban Châu âu về chống khai thác hải sản bất hợp pháp (IUU).
Dự án luật cũng bổ sung hành vi đưa người di cư trái phép tại các điều luật về các tội liên quan đến xuất nhập cảnh nhằm nâng cao khả năng gia nhập Nghị định thư về chống người di cư trái phép bằng đường bộ, đường biển và đường hàng không...
Ngoài ra, Bộ Công an đề nghị bổ sung một số hành vi nguy hiểm cho xã hội để giải quyết vướng mắc, bất cập trong thực tiễn như hành vi tuyên truyền chống Đảng Cộng sản Việt Nam; sản xuất, buôn bán hàng giả là chất hỗ trợ chế biến thực phẩm và dụng cụ bao gói, chứa đựng thực phẩm phẩm; hành vi sản xuất, buôn bán hàng kém chất lượng; các hành vi trong lĩnh vực ngân hàng như bảo lãnh tín dụng, quản lý tài sản bảo đảm, quản lý khoản vay sau giải ngân; hành vi đốt chất thải, nhất là đối với các chất thải nguy hại và hành vi gây ra trái phép tiếng ồn, độ rung và mùi vượt tiêu chuẩn.
Song song với đó mở rộng phạm vi chịu trách nhiệm hình sự về các tội phạm chức vụ, tham nhũng đối với khu vực kinh tế tư; hành vi cố tình chậm cung cấp thông tin, tài liệu và cố tình cung cấp thông tin, tài liệu không đúng theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng; hành vi lạm dụng tình dục trẻ em (quay các bộ phận nhạy cảm, chat sex…); hành vi trái phép liên quan đến hoạt động kinh doanh, giao dịch tiền ảo, tiền kỹ thuật số, tài sản ảo; hành vi lập trình và sử dụng phần mềm trí tuệ nhân tạo (AI) để thực hiện tội phạm; hành vi lừa đảo qua sàn giao dịch ảo; hành vi thao túng dữ liệu mạng xã hội để trục lợi…
Góp ý về nội dung trên, Bộ Tư pháp nhận định bổ sung tội danh mới, hành vi phạm tội mới cần được nghiên cứu hết sức thận trọng và kỹ lưỡng, trên cơ sở phân tích, đánh giá đầy đủ và toàn diện về lý luận, thực tiễn cũng như yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm, tham khảo có chọn lọc kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới.
“Đây là chính sách có tác động và ảnh hưởng lớn đến mọi mặt của đời sống xã hội, thay đổi tư duy, nhận thức của người dân. Tuy nhiên, dự thảo báo cáo tổng kết thi hành Bộ luật Hình sự và dự thảo báo cáo đánh giá tác động chính sách chưa cung cấp đầy đủ thông tin phân tích, đánh giá những luận cứ khoa học, thực tiễn để đưa ra các đề xuất này”, Bộ Tư pháp nêu quan điểm.
Trao đổi lại, Bộ Công an nhấn mạnh đề xuất được đưa ra trên cơ sở tổng kết thực tiễn, nghiên cứu, rà soát các quan điểm, chủ trương của Đảng về xây dựng, bảo vệ, phát triển đất nước và đấu tranh phòng, chống tội phạm…
Những đề xuất bổ sung hình sự hóa trong dự thảo chính sách sẽ là tiền đề, nền tảng để cơ quan chủ trì soạn thảo tiếp tục rà soát, nghiên cứu, lựa chọn việc hình sự hóa hành vi nào, bảo đảm bao quát, toàn diện, tránh bỏ lọt hành vi nguy hiểm đến mức phải xử lý hình sự. Những lập luận sẽ được Bộ Công an thể hiện rõ nét trong hồ sơ dự án Bộ luật Hình sự.
Bộ luật Hình sự sửa đổi dự kiến trình Quốc hội cho ý kiến tại Kỳ họp thứ 3 Quốc hội khoá XVI và thông qua tại Kỳ họp thứ 4 Quốc hội khóa XVI.
Mở rộng phạm vi không chịu trách nhiệm về tội không tố giác tội phạm
Tại dự án luật, Bộ Công an đề xuất mở rộng phạm vi không phải chịu trách nhiệm hình sự về Tội không tố giác tội phạm, che dấu tội phạm đối với những người thân thích của người phạm tội như: Bố mẹ nuôi, bố mẹ vợ, bố mẹ chồng, cha dượng, mẹ kế, con nuôi, con rể, con dâu, con riêng của vợ, con riêng của chồng…
Việc này nhằm bảo đảm tính nhân văn, nhân đạo, phù hợp với truyền thống của người Việt Nam.
Tội không tố giác tội phạm là hành vi biết rõ một tội phạm đang được chuẩn bị, đang thực hiện hoặc đã được thực hiện mà không trình báo. Người vi phạm có thể bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm.
Theo Bộ luật Hình sự, người thân thích (ông bà, cha mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ/chồng) của người phạm tội không phải chịu trách nhiệm hình sự, trừ các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng khác.
Gia đình ông Điệp chỉ có hai vợ chồng nên nhu cầu đi lại không nhiều. Chiếc xe máy xăng nhãn hiệu Honda Wave Alpha được ông mua cách đây gần 1 năm với giá 20 triệu đồng cũng chủ yếu để phục vụ nhu cầu đi lại của bản thân, còn vợ ông thì không có nhu cầu đi xe cá nhân. Kể từ khi có chủ trương về vùng phát thải thấp, ông Điệp đã "thăm dò" cửa hàng mua xe máy cũ nhưng bị "ép giá" chỉ trả khoảng 5 triệu đồng cho chiếc xe Wave Alpha.
Việc mua xe điện mới với mức giá tối thiểu khoảng 30 triệu đồng với ông Điệp không phải là rào cản lớn nhất. Điều khiến ông băn khoăn hơn cả là yếu tố an toàn về pin xe điện. Sạc pin ở nhà thì không gian chật, không đảm bảo. Còn sạc qua đêm thì chắc chắn phải ngồi canh, cũng sẽ gặp bất tiện. Do đó, ông Điệp tính sẽ sạc pin xe điện ban ngày ở ngoài đường.
Ngoài ra, ông Điệp cũng mong ngóng về chính sách, biện pháp, hỗ trợ chuyển đổi phương tiện giao thông sử dụng năng lượng sạch mà năm 2025, UBND TP.Hà Nội từng đưa ra dự thảo để lấy ý kiến rồi đến nay chưa có thông tin rõ ràng, cụ thể sẽ triển khai thế nào. Theo ông, nhiều người có hoàn cảnh khó khăn đang sống trong vùng lõi nên ông mong tiền hỗ trợ chuyển đổi phương tiện được tăng thêm để giảm bớt khó khăn tài chính cho người dân. Quan trọng hơn, ông mong thành phố sớm ban hành chính sách hỗ trợ để thực hiện đồng bộ.
Khác ông Điệp, anh Khổng Quốc Anh (40 tuổi, quê Phú Thọ, hiện tạm trú ở phường Hoàng Văn Thụ, Hà Nội), làm đầu bếp tại một quán ăn trong phố cổ, hiểu rõ chiếc xe máy xăng được anh sử dụng để mưu sinh hằng ngày sẽ không còn phù hợp khi thí điểm triển khai vùng phát thải thấp. Với anh, điều tâm tư không nằm ở việc đổi sang mua xe điện mới vì vẫn có thể xoay xở được. Vấn đề nằm ở chỗ khu trọ tập thể nơi gia đình anh đang thuê không cho để xe điện vì không có hạ tầng phù hợp, và việc sạc xe điện thì càng không.
Nếu chuyển đổi xe máy xăng sang xe điện, theo anh Quốc Anh, điều đó đồng nghĩa với việc buộc phải chuyển nhà trọ. Qua khảo sát của anh, những khu có chỗ để xe và sạc điện an toàn, cách hồ Hoàn Kiếm khoảng 10 km thì giá thuê đã lên tới khoảng 5 triệu đồng/tháng. "Như vậy, chi phí sinh hoạt sẽ tăng thêm và vấn đề tìm được một nơi ở trọ mới cho phù hợp với hoàn cảnh cũng không hề dễ dàng", anh Quốc Anh bày tỏ.
Chia sẻ về chính sách hỗ trợ, một cán bộ Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nội cho biết nội dung này do Sở Xây dựng chủ trì xây dựng, triển khai và chưa đến bước đăng tải công khai lấy ý kiến nhân dân nên phía Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nội "cũng đang chờ".
Theo dự thảo Nghị quyết về chính sách, biện pháp, hỗ trợ chuyển đổi phương tiện giao thông sử dụng năng lượng sạch trên địa bàn TP.Hà Nội (được xây dựng cuối năm 2025), ngân sách thành phố hỗ trợ trực tiếp cho cá nhân có nơi thường trú hoặc đã tạm trú liên tục từ 2 năm trở lên tại Hà Nội, là chủ sở hữu mô tô, xe gắn máy sử dụng nhiên liệu hóa thạch đã đăng ký trước thời điểm ban hành nghị quyết, khi chuyển đổi sang phương tiện sử dụng năng lượng sạch có giá trị từ 10 triệu đồng trở lên.
Mỗi cá nhân được hỗ trợ 1 xe trong thời gian từ khi nghị quyết có hiệu lực đến trước ngày 1.1.2030. Mức hỗ trợ là 20% giá trị phương tiện nhưng không quá 5 triệu đồng; riêng hộ nghèo được hỗ trợ 100% giá trị phương tiện nhưng không quá 20 triệu đồng, hộ cận nghèo được hỗ trợ 80% nhưng không quá 15 triệu đồng.
Dự thảo năm 2025 cũng quy định trường hợp không nhận hỗ trợ bằng tiền, người dân có thể lựa chọn nhận hỗ trợ bằng thẻ vé sử dụng dịch vụ vận tải hành khách công cộng với giá trị tương đương. Bên cạnh đó, thành phố hỗ trợ 30% tiền lãi vay đối với toàn bộ giá trị hợp đồng vay khi cá nhân mua trả góp mô tô, xe gắn máy điện trong thời hạn không quá 12 tháng.
Ông Trịnh Xuân An, đại biểu Quốc hội chuyên trách tại Ủy ban Quốc phòng - An ninh - Đối ngoại Quốc hội, nhìn nhận nếu không có cơ chế hỗ trợ chuyển đổi phù hợp thì chính sách sẽ rất khó nhận được sự đồng thuận. Ông đề nghị cần thiết kế chính sách theo hướng phân tầng, hướng tới đúng đối tượng chịu tác động.
"Đối với người thu nhập thấp, lao động tự do, những người đang trực tiếp sử dụng phương tiện cũ để mưu sinh, cần có hỗ trợ thực chất hơn: hỗ trợ tài chính, vay ưu đãi, thậm chí có cơ chế đổi xe. Đối với người dân đi làm hằng ngày vào trung tâm, cần hỗ trợ gián tiếp thông qua hệ thống giao thông công cộng với chi phí hợp lý, thuận tiện. Đối với doanh nghiệp vận tải, taxi, cần có chính sách tín dụng, hạ tầng và điều kiện kinh doanh thuận lợi để thúc đẩy chuyển đổi nhanh. Và đối với cư dân sống trong vùng phát thải thấp, cần có lộ trình chuyển tiếp hợp lý, tránh gây xáo trộn lớn trong đời sống", ông An nêu.
TP Hà Nội đang giải phóng mặt bằng 1.428 dự án, trong đó có nhiều công trình giao thông lớn như 4 cầu vượt sông Hồng (Hồng Hà, Mễ Sở, Vân Phúc và Ngọc Hồi); khép kín các đường vành đai, mở rộng quốc lộ 1, 6... Lượng phế thải xây dựng phát sinh trên 10.000 tấn mỗi ngày, gấp 4-5 lần bình thường, bao gồm bêtông, gạch, đá, vữa, kim loại, gỗ, nhựa, kính, đất đào, bùn thải...
Khác với rác sinh hoạt, phế thải xây dựng được xem là nguồn tài nguyên thứ cấp bởi phần lớn thành phần còn giá trị sử dụng sau khi được phân loại và xử lý phù hợp. Sau khi nghiền, sàng và xử lý, phế thải có thể trở thành cốt liệu cho nền đường, vật liệu san lấp mặt bằng, sản xuất gạch không nung, bêtông, vật liệu sản xuất cấu kiện xây dựng.
Theo ông Nguyễn Văn Hoan, chuyên gia Viện Chuyên ngành Xi măng bêtông (Viện Vật liệu xây dựng), khoảng 80% chất thải rắn đô thị đang bị chôn lấp, chỉ gần 17% được tái chế dưới dạng nghiền nhỏ để phục vụ san lấp hoặc vật liệu nền đường. Tỷ lệ này thấp hơn nhiều so với tiềm năng sử dụng của loại chất thải gồm đất đá, bêtông, gạch vụn.
Sử dụng vật liệu tái chế giúp giảm tình trạng khai thác đá, cát sông, đất đắp và các loại khoáng sản làm vật liệu xây dựng. "Trong bối cảnh nguồn cát và đá ngày càng khan hiếm, đây là nguồn nguyên liệu rất đáng giá", ông Hoan nói.
Hiện cốt liệu tái chế dùng để san lấp nền đường - loại giá trị thấp nhất, được bán từ 70.000 đến 100.000 đồng/tấn. Cốt liệu hạt, cát nghiền tái chế giá từ 150.000 đến 200.000 đồng/m3. Nếu Hà Nội tái chế được 10.000 tấn phế thải xây dựng để san lấp nền mỗi ngày, ít nhất có thể thu về khoảng 0,7-1 tỷ đồng.
Các nghiên cứu cho thấy vật liệu tái chế có giá thành thấp hơn khoảng 20% so với vật liệu tự nhiên. Tỷ lệ tái chế phế thải xây dựng có thể đạt trên 90% khối lượng đầu vào, riêng bêtông nhựa và bêtông xi măng có thể tái sử dụng gần như 100%, theo PGS.TS Tống Tôn Kiên, Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu và Ứng dụng vật liệu xây dựng nhiệt đới (Đại học Xây dựng).
Quan trọng hơn, nguồn vật liệu tái chế giúp thay thế nguồn vật liệu tự nhiên đang ngày càng cạn kiệt. Tại Hà Nội, hàng loạt công trình đang triển khai đều có nhu cầu lớn về cát vàng, cát xây, đất đắp. Đơn cử dự án vành đai 4 vùng Thủ đô thiếu khoảng 6 triệu m3 đất đắp và khối lượng lớn cát, đá xây dựng. Trong khi đó sản lượng khai thác tại các mỏ vật liệu ở Hà Nội không đủ, buộc nhà thầu phải mua vật liệu từ mỏ tại tỉnh Phú Thọ, tăng chi phí vận chuyển.
Thấy được tiềm năng của phế thải rắn xây dựng, ngành xây dựng đã nhiều năm nghiên cứu, thử nghiệm vật liệu xây dựng tái chế và ban hành cơ bản hệ thống tiêu chuẩn. Những nghiên cứu đầu tiên được triển khai từ năm 2007, do TS Lê Việt Hùng (Viện Vật liệu xây dựng, Bộ Xây dựng) thực hiện. Giai đoạn đầu, nhóm tập trung đánh giá khả năng nghiền, sàng phế thải xây dựng để tái chế thành vật liệu đầu vào cho vữa và bêtông.
Năm 2012, dự án sản xuất thử nghiệm "Hoàn thiện công nghệ tái chế phế thải phá dỡ công trình làm cốt liệu cho xây dựng" đã triển khai thành công dây chuyền sản xuất cốt liệu tái chế ở quy mô công nghiệp. Dây chuyền tạo ra cốt liệu tái chế từ phế thải phá dỡ (bêtông, tường xây gạch), cốt liệu nhỏ được sử dụng sản xuất gạch không nung, còn cốt liệu lớn có kích thước đến 40 mm được dùng thay đá dăm để sản xuất bêtông.
Tại Đại học Xây dựng, PGS.TS Tống Tôn Kiên, Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu và Ứng dụng vật liệu xây dựng nhiệt đới, cho biết giai đoạn 2012-2016, nhóm nghiên cứu của trường đã thực hiện hàng loạt đề tài nghiên cứu chuyên sâu về sử dụng cốt liệu tái chế thành đá dăm và cát để sản xuất vữa và bêtông xi măng chịu lực. Giai đoạn 2019-2021, nhóm tiếp tục sản xuất thử cấu kiện bêtông cốt thép đúc sẵn từ phế thải bêtông trong phòng thí nghiệm. Kết quả cho thấy vật liệu tái chế có thể sử dụng trong các công trình.
Để đưa cốt liệu tái chế vào cuộc sống, các bộ ngành đã ban hành hệ thống tiêu chuẩn. Năm 2023, tiêu chuẩn quốc gia TCVN 13694 ra đời, quy định cấp phối vật liệu tái chế dùng làm lớp móng đường giao thông đô thị. TCVN 11969:2018 quy định cốt liệu lớn tái chế cho bêtông. Nhiều tiêu chuẩn liên quan vật liệu san lấp, tái chế bêtông nhựa, thiết kế hỗn hợp và thi công cũng đã được Bộ Khoa học và Công nghệ thông qua giai đoạn 2020-2025.
Tuy nhiên, theo ông Nguyễn Văn Hoan, chuyên gia Viện chuyên ngành Xi măng bê tông (Viện Vật liệu xây dựng), trở ngại của Hà Nội hiện không nằm ở công nghệ xử lý. Một số doanh nghiệp sẵn sàng đầu tư dây chuyền tái chế hiện đại, thậm chí có thiết bị nghiền di động xử lý ngay tại công trường. Tuy nhiên, đầu ra sản phẩm tái chế chưa ổn định. Nhiều chủ đầu tư và nhà thầu vẫn e ngại chất lượng, độ bền của sản phẩm.
Hà Nội cũng như phần lớn địa phương chưa có quy hoạch riêng cho chất thải rắn xây dựng hoặc quy hoạch vị trí thu gom, xử lý ngoài đê sông khiến doanh nghiệp khó thực hiện dự án. Đơn vị xử lý chất thải rắn công suất trên 500 tấn/ngày phải đánh giá tác động môi trường, phê duyệt báo cáo tác động và có giấy phép môi trường, hệ thống quan trắc tự động..., gây khó khăn cho doanh nghiệp.
Đặc biệt, chi phí sản xuất cao khiến một số doanh nghiệp e ngại đầu tư. Phần lớn phế thải hiện nay từ các công trình thường bị đổ lẫn bêtông, gạch, đất, kim loại và bùn thải. Khi đưa về xử lý, doanh nghiệp phải tốn thêm nhân công và chi phí phân loại. Theo tính toán của Công ty Cổ phần dịch vụ sản xuất Toàn Cầu, chi phí sản xuất tái chế vật liệu đắp nền khoảng 100.000-110.000 đồng/tấn, bao gồm phí đầu tư thiết bị, nhân công sản xuất, chi phí phân loại...
Làm gì để khai thác tài nguyên phế thải xây dựng?
Để giải quyết bài toán chất thải rắn xây dựng, theo PGS.TS Tống Tôn Kiên, trước hết địa phương cần quy hoạch quỹ đất dành riêng cho các khu xử lý, bãi tập kết tái chế. Khi có hạ tầng tiếp nhận phù hợp, việc xử lý loại chất thải không quá phức tạp. Kế đó, cần có quy định bắt buộc phân loại chất thải xây dựng tại nguồn, quy định rõ trách nhiệm chuyển giao cho các đơn vị xử lý được cấp phép. Chủ nguồn thải phải chi trả đầy đủ chi phí xử lý.
Một giải pháp quan trọng khác là thúc đẩy thị trường vật liệu tái chế. Hiện Việt Nam đã có khung chính sách khuyến khích nhưng chưa đủ cụ thể và hấp dẫn để doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư. Theo ông Kiên, cần có cơ chế ưu đãi mạnh hơn đối với các doanh nghiệp sản xuất vật liệu tái chế, đồng thời phát triển các trung tâm xử lý có quy mô đủ lớn, công suất tối thiểu 500-1.000 tấn mỗi ngày để bảo đảm hiệu quả kinh tế.
Bên cạnh đó, chính sách mua sắm công cần đóng vai trò dẫn dắt thị trường. Các dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước nên được quy định tỷ lệ bắt buộc sử dụng vật liệu tái chế trong xây dựng. Điều này đặc biệt phù hợp với các đô thị lớn, nơi nguồn vật liệu tự nhiên khan hiếm và phải vận chuyển từ xa, trong khi nhu cầu tiêu thụ vật liệu xây dựng rất lớn.
Dẫn kinh nghiệm từ Nhật Bản và Anh, ông Kiên cho biết các thành phố thường quy hoạch nhiều điểm tiếp nhận phế thải xây dựng. Đối với vật liệu đã được phân loại, các cơ sở tái chế thậm chí hỗ trợ chi phí vận chuyển hoặc trả tiền cho đơn vị thu gom. Ngược lại, vật liệu chưa được phân loại sẽ được đưa tới các cơ sở chuyên trách để phân loại và tái chế trước khi đưa vào sử dụng trở lại.
Ngoài ra, Nhà nước có thể nghiên cứu áp dụng cơ chế tín chỉ carbon đối với vật liệu tái chế nhằm ghi nhận giá trị giảm phát thải, tạo thêm nguồn thu cho doanh nghiệp. Song song với đó là các chương trình hỗ trợ nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và chuyển giao công nghệ để nâng cao hiệu quả tái chế chất thải xây dựng, hướng tới phát triển kinh tế tuần hoàn trong ngành xây dựng.
Chuyên gia Nguyễn Văn Hoan nhận định Hà Nội cần đồng thời mở rộng quy hoạch bãi tiếp nhận, siết kiểm soát đổ trộm, bắt buộc phân loại tại công trường và từng bước đưa vật liệu tái chế vào các dự án đầu tư công. Nếu không trong 5-10 năm tới thành phố sẽ đối mặt áp lực lớn về bãi đổ, ô nhiễm môi trường và thiếu nguồn vật liệu tự nhiên như cát, đá, đất san lấp.