Tổng thống Ferdinand Marcos Jr. nhấn mạnh chuyến thăm có ý nghĩa quan trọng, là chuyến thăm đầu tiên của một Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam đến Philippines và diễn ra đúng dịp hai nước kỷ niệm 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao (1976 – 2026).
Tổng thống Ferdinand Marcos Jr. khẳng định Việt Nam là nước duy nhất trong Đông Nam Á mà Philippines có quan hệ ở tầm mức Đối tác chiến lược, cho thấy sự coi trọng của Philippines đối với mối quan hệ này.
Việc chính thức nâng tầm quan hệ lên Đối tác chiến lược tăng cường trong chuyến thăm lần này của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm sẽ củng cố hơn nữa quan hệ song phương, mở ra giai đoạn hợp tác mới trong các lĩnh vực chính trị, quốc phòng – an ninh và các lĩnh vực thực chất khác vì lợi ích nhân dân hai nước, vì hòa bình, ổn định và phát triển của khu vực.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm khẳng định Việt Nam luôn coi trọng và mong muốn làm sâu sắc hơn nữa quan hệ láng giềng hữu nghị với Philippines trên tất cả các lĩnh vực trên cơ sở cam kết chung đối với hòa bình, ổn định, thượng tôn luật pháp quốc tế.
Tại hội đàm, hai nhà lãnh đạo bày tỏ vui mừng trước những bước phát triển tích cực và hiệu quả của quan hệ Đối tác chiến lược giữa hai nước kể từ khi được thiết lập năm 2015, đặc biệt sau chuyến thăm cấp Nhà nước của Tổng thống Marcos Jr. tới Việt Nam vào tháng 1.2024. Hai bên nhất trí ra tuyên bố chung nâng tầm quan hệ Việt Nam – Philippines lên Đối tác chiến lược tăng cường, mở ra kỷ nguyên phát triển mới cho hợp tác song phương.
Với việc nâng tầm khuôn khổ quan hệ lên Đối tác chiến lược tăng cường, hai bên nhất trí phối hợp cùng xây dựng chương trình hành động triển khai khuôn khổ quan hệ mới trong thời gian tới; nhất trí tăng cường tin cậy chính trị, củng cố nền tảng chiến lược vững chắc cho quan hệ hai nước thông qua tăng cường tiếp xúc, trao đổi đoàn cấp cao, phát huy các cơ chế hợp tác, tăng cường quan hệ trên các kênh và giữa các cấp, các ngành và địa phương của hai nước.
Hai bên nhất trí củng cố, thúc đẩy hợp tác thực chất về an ninh – quốc phòng, hợp tác biển, đại dương; bảo đảm tự do hàng hải và hàng không, duy trì hòa bình và ổn định trong khu vực thông qua các cơ chế phối hợp, chia sẻ kinh nghiệm trong chống đánh bắt cá bất hợp pháp, không khai báo và không theo quy định (IUU), bảo vệ môi trường biển và phát triển bền vững nghề cá.
Về thương mại, hai bên nhất trí các định hướng lớn để tạo đột phá trong hợp tác kinh tế để mang lại lợi ích thực chất cho người dân và sự phát triển của mỗi nước; nhấn mạnh mục tiêu sớm đạt kim ngạch thương mại 10 tỉ USD, giảm rào cản thương mại, đa dạng hóa xuất khẩu sang các mặt hàng tiềm năng, mở cửa thị trường cho sản phẩm nông nghiệp, trong đó có các trái cây tươi của mỗi nước.
Đồng thời mở rộng hợp tác sang các lĩnh vực mới như kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế biển, nông nghiệp công nghệ cao, năng lượng tái tạo; đẩy mạnh hợp tác thương mại nông lâm thủy sản.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Tổng thống Ferdinand Marcos Jr. nhất trí thúc đẩy các cơ quan liên quan của hai nước tiếp tục tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp của nước này tham gia đầu tư, tổ chức hoạt động xúc tiến thương mại tại nước kia.
Khẳng định Việt Nam là đối tác quan trọng của Philippines trong cung cấp phân bón, gạo để bảo đảm an ninh lương thực, Tổng thống Ferdinand Marcos Jr. đề nghị hai bên sớm tổ chức kỳ họp thứ 3 của Ủy ban hỗn hợp thương mại Philippines – Việt Nam; thúc đẩy triển khai các thỏa thuận đã đạt được trong khuôn khổ, quy định của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO).
Tổng thống Ferdinand Marcos Jr. khẳng định Philippines hoan nghênh các nhà đầu tư Việt Nam đến tìm hiểu, mở rộng đầu tư trong các lĩnh vực năng lượng tái tạo, y tế, chuyển đổi số,… Philippines sẽ dành nhiều chính sách ưu đãi, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho các nhà đầu tư Việt Nam.
Về hợp tác giáo dục – đào tạo, văn hóa và giao lưu nhân dân, Tổng thống Ferdinand Marcos Jr. mong muốn có thêm ngày càng nhiều du khách Việt Nam đến Philippines và ngược lại; mong muốn hai bên tăng cường trao đổi về giáo dục, hợp tác học thuật giữa các trường đại học hai nước nhất là trong các lĩnh vực mới như trí tuệ nhân tạo.
Hai nhà lãnh đạo chia sẻ quan điểm chung thúc đẩy hợp tác thực chất trong một số lĩnh vực ưu tiên, trọng tâm là phát triển nông nghiệp bền vững, nông nghiệp tái sinh, kết nối hạ tầng cứng, mở thêm các đường bay thẳng, tăng cường hợp tác giữa một số cặp cảng tiêu biểu; chia sẻ kinh nghiệm về chuyển đổi số, xây dựng chính phủ số, ứng dụng trí tuệ nhân tạo và phát triển đô thị thông minh.
Về các vấn đề khu vực và quốc tế, hai bên nhấn mạnh tầm quan trọng của việc duy trì hòa bình, ổn định, bảo đảm an ninh, an toàn và tự do hàng hải, hàng không; giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước Liên Hiệp Quốc về luật Biển (UNCLOS) 1982; tích cực phối hợp với các nước ASEAN thúc đẩy đàm phán Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC) hiệu quả, thực chất, phù hợp với luật pháp quốc tế, đặc biệt là UNCLOS 1982.
Hai nhà lãnh đạo nhất trí thúc đẩy các bộ, ngành và địa phương hai nước phối hợp chặt chẽ, triển khai hiệu quả các thỏa thuận đã đạt được giữa lãnh đạo hai nước, góp phần đưa quan hệ Đối tác chiến lược tăng cường Việt Nam – Philippines vào giai đoạn phát triển mới.
Kết luận nêu rõ, Bộ Chính trị thống nhất thông qua chủ trương của Đề án "Đẩy mạnh công tác sở hữu trí tuệ phục vụ phát triển kinh tế - xã hội trong tình hình mới" của Bộ KH-CN.
Để công tác sở hữu trí tuệ phục vụ hiệu quả phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong tình hình mới, Bộ Chính trị nêu rõ, cần quán triệt và triển khai một số nhiệm vụ trọng tâm.
Trong đó, nhấn mạnh việc cần chuyển mạnh từ tư duy quản lý hành chính về sở hữu trí tuệ sang kiến tạo hệ sinh thái sở hữu trí tuệ.
Kế đó là xây dựng văn hóa tôn trọng sáng tạo và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ trong toàn xã hội.
Kiên quyết phê phán, xử lý nghiêm hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, như: sử dụng phần mềm vi phạm bản quyền, sao chép, đạo văn trong học thuật, các vi phạm về quyền tác giả, sáng chế, kiểu dáng công nghiệp...
Đồng thời, hoàn thiện về thể chế sở hữu trí tuệ; khẩn trương rà soát, sửa đổi, bổ sung hệ thống pháp luật về sở hữu trí tuệ theo hướng phù hợp với các chuẩn mực quốc tế.
Kết luận cũng yêu cầu, phát triển thị trường quyền sở hữu trí tuệ, thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu.
Hoàn thiện cơ chế định giá quyền sở hữu trí tuệ; xây dựng thị trường công nghệ hiện đại, đẩy mạnh khai thác quyền sở hữu trí tuệ.
Khuyến khích, hỗ trợ các doanh nghiệp có chiến lược kinh doanh lâu dài, tăng cường đầu tư mạnh mẽ cho nghiên cứu và phát triển công nghệ.
Theo kết luận, một trong những nhiệm vụ trọng tâm được Bộ Chính trị nêu rõ là triển khai ban hành chương trình quốc gia về phát triển sở hữu trí tuệ.
Cùng đó, nâng cao hiệu lực thực thi và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ; bố trí đủ nguồn lực cho các cơ quan bảo hộ và thực thi quyền sở hữu trí tuệ; tăng cường năng lực cho các hóa chuyên trách về sở hữu trí tuệ.
Đồng thời, bảo đảm hài hòa giữa bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ với yêu cầu phổ cập tri thức, phát triển KH-CN và lợi ích chung của xã hội.
Kết luận cũng nêu rõ, bảo đảm an ninh quốc gia về công nghệ, dữ liệu và bí mật kinh doanh, phù hợp với thông lệ quốc tế và yêu cầu bảo vệ lợi ích quốc gia trong quá trình hội nhập quốc tế; đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ.
Đẩy mạnh hội nhập quốc tế sâu, rộng, có chọn lọc về sở hữu trí tuệ nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế tự chủ, tự cường; tích cực, chủ động và bảo đảm nguồn lực thực hiện cam kết theo các điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia, nghĩa vụ về sở hữu trí tuệ mà Việt Nam đã cam kết.
Về tổ chức thực hiện, Bộ Chính trị yêu cầu Đảng ủy Quốc hội chỉ đạo rà soát, hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ; tăng cường hoạt động giám sát theo quy định.
Đảng ủy Chính phủ lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện kết luận; phối hợp Đảng ủy Quốc hội thể chế tòa đầy đủ các chủ trương, chính sách nêu trong kết luận và bố trí đủ nguồn lực để tổ chức thực hiện
Kết luận cũng đề ra các nhiệm vụ đối với Đảng ủy MTTQ Việt Nam, các đoàn thể T.Ư, Ban Tuyên giáo và Dân vận T.Ư, Ban Chính sách, chiến lược T.Ư.
Tại cuộc tiếp, đại diện lãnh đạo Tập đoàn Dầu khí quốc gia Ấn Độ (ONGC) bày tỏ mong muốn tiếp tục là đối tác chiến lược lâu dài, đồng hành cùng Việt Nam phát triển ngành dầu khí và bảo đảm an ninh năng lượng, góp phần củng cố quan hệ Việt Nam - Ấn Độ.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đánh giá Tập đoàn Dầu khí quốc gia Ấn Độ là một trong những tập đoàn dầu khí có kinh nghiệm, năng lực triển khai các dự án phù hợp với nhu cầu phát triển ngành Dầu khí của Việt Nam; ghi nhận những đóng góp thực chất của tập đoàn tại Việt Nam trong gần 40 năm qua; hoan nghênh tập đoàn tiếp tục mở rộng hợp tác trong lĩnh vực thăm dò, khai thác dầu khí tại Việt Nam.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cho biết Việt Nam đã đặt mục tiêu tập trung bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia trước mắt và lâu dài; bao gồm việc bảo đảm nguồn cung dầu thô, khí đốt, đồng thời tiếp tục hoàn thiện khung khổ pháp lý dầu khí; mong muốn tập đoàn tiếp tục là đối tác quan trọng trong lĩnh vực thăm dò và khai thác dầu khí, góp phần vào duy trì sản lượng khai thác và bảo đảm nguồn cung năng lượng. Việt Nam sẵn sàng tạo điều kiện thuận lợi, trên cơ sở tuân thủ pháp luật và các cam kết liên quan.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm mong muốn hợp tác với tập đoàn không chỉ trong duy trì các dự án hiện hữu, mà hướng tới việc mở rộng hợp tác trong lĩnh vực thăm dò và khai thác dầu khí, gắn với chiến lược bảo đảm an ninh năng lượng dài hạn.
Tiếp đại diện lãnh đạo Tập đoàn Larsen & Toubro (L&T), Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm mong muốn tăng cường hợp tác với các tập đoàn hàng đầu của Ấn Độ, nhất là trong lĩnh vực hạ tầng và công nghiệp, nhằm nâng cao năng lực kết nối và thúc đẩy phát triển bền vững. Việt Nam đánh giá cao tập đoàn có năng lực triển khai các dự án hạ tầng quy mô lớn, phức tạp và đa lĩnh vực.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cho biết Việt Nam đang đẩy mạnh phát triển kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại; hoan nghênh tập đoàn tiếp tục mở rộng hợp tác, đầu tư tại Việt Nam trong các lĩnh vực hạ tầng, năng lượng.
Việt Nam cam kết tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư có năng lực, trên cơ sở tuân thủ pháp luật, bảo đảm minh bạch, hài hòa lợi ích giữa các bên; kỳ vọng tập đoàn sẽ trở thành đối tác chiến lược lâu dài, đồng hành trong quá trình phát triển hạ tầng hiện đại, góp phần thúc đẩy hợp tác kinh tế Việt Nam - Ấn Độ trong giai đoạn mới.
Đại diện lãnh đạo Tập đoàn Larsen & Toubro bày tỏ mong muốn tiếp tục tham gia vào các dự án hạ tầng giao thông, năng lượng, cảng biển tại Việt Nam.
Tiếp lãnh đạo Tập đoàn Adani, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh Việt Nam đang bước vào giai đoạn phát triển mới, trong đó hạ tầng, năng lượng và logistics là các trụ cột then chốt để đạt mục tiêu tăng trưởng nhanh và bền vững.
Nhận định Tập đoàn Adani là một trong những tập đoàn có kinh nghiệm hàng đầu thế giới trong việc triển khai các dự án quy mô lớn trong lĩnh vực năng lượng, cảng biển và logistics, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đánh giá cao những hoạt động đầu tư hiện hữu của tập đoàn tại Việt Nam trong lĩnh vực năng lượng; hoan nghênh sự quan tâm và các đề xuất đầu tư cụ thể của tập đoàn tại Việt Nam, nhất là trong bối cảnh nhu cầu phát triển hạ tầng năng lượng và logistics của Việt Nam đang gia tăng nhanh chóng.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cho biết, thời gian tới, Việt Nam mong muốn Tập đoàn Adani nghiên cứu, tham gia hợp tác không chỉ dừng ở từng dự án riêng lẻ, mà hướng tới khả năng tham gia vào các chương trình phát triển hạ tầng quy mô lớn, có tính kết nối giữa các lĩnh vực như cảng biển - logistics - năng lượng. Hai bên có thể nghiên cứu các mô hình hợp tác phù hợp, từng bước mở rộng quy mô, gắn với chiến lược phát triển dài hạn của Việt Nam và chiến lược hướng đông của tập đoàn.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm kỳ vọng tập đoàn sẽ trở thành đối tác lâu dài, đồng hành cùng Việt Nam trong quá trình phát triển hạ tầng, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững và nâng cao năng lực cạnh tranh. Việt Nam luôn tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp nước ngoài, trong đó có Tập đoàn Adani, hoạt động hiệu quả, an toàn, thành công và bền vững tại Việt Nam.
Tại buổi tiếp, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm khẳng định Việt Nam luôn coi Nhật Bản là một trong những đối tác chiến lược quan trọng hàng đầu, tin cậy, ổn định lâu dài.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nêu 6 định hướng lớn để tăng cường hợp tác chiến lược giữa hai nước, trong đó có việc tăng cường tin cậy chính trị, hợp tác giữa các kênh đảng, chính phủ và ở cấp độ địa phương; củng cố hợp tác quốc phòng - an ninh thực chất và hiệu quả; tăng cường liên kết kinh tế, bảo đảm an ninh kinh tế, an ninh lương thực và năng lượng, đồng thời mở rộng sang các lĩnh vực mới gắn liền với thế mạnh của Nhật Bản về khoa học công nghệ; triển khai hiệu quả các nội dung hợp tác.
Thủ tướng Takaichi Sanae khẳng định ủng hộ công cuộc cải cách cũng như nỗ lực tự chủ kinh tế của Việt Nam, tin tưởng Việt Nam sẽ đạt nhiều thành tựu hơn nữa trong thời gian tới.
Thủ tướng Takaichi Sanae khẳng định Nhật Bản mong muốn hợp tác chặt chẽ cùng Việt Nam để triển khai Tầm nhìn Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương tự do và rộng mở. Nhật Bản ủng hộ và sẽ tiếp tục đồng hành, hỗ trợ Việt Nam thực hiện các mục tiêu phát triển trong kỷ nguyên mới, góp phần vào sự phát triển thịnh vượng của khu vực; phối hợp chặt chẽ đưa quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam - Nhật Bản lên tầm cao mới.
Thủ tướng Nhật Bản cam kết sẽ triển khai dự án hợp tác đầu tiên trong khuôn khổ sáng kiến Power Asia thông qua hỗ trợ mua sắm dầu thô cho Nhà máy Lọc hóa dầu Nghi Sơn nhằm đảm bảo nhà máy hoạt động 100% công suất. Bà cũng bày tỏ mong muốn hợp tác với Việt Nam để thúc đẩy các dự án năng lượng, điện khí, trong lĩnh vực khóang sản chiến lược.
Bà Takaichi Sanae khẳng định tiếp tục hỗ trợ, tạo điều kiện cho cộng đồng gần 700.000 người Việt Nam sinh sống, học tập, làm việc tại Nhật Bản trên cơ sở chính sách xây dựng xã hội Nhật Bản trật tự và hài hòa cùng chung sống với người nước ngoài. Bà cũng nhất trí hai bên cần tăng cường trao đổi lãnh sự trong đó có việc chia sẻ và phối hợp thông báo lãnh sự giữa hai nước, phối hợp chặt chẽ về phòng chống tội phạm.
Tại buổi tiếp, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Thủ tướng Takaichi đã trao đổi và nhất trí phối hợp chặt chẽ tại các diễn đàn khu vực và quốc tế trong bối cảnh tình hình quốc tế có nhiều biến động nhanh chóng, phức tạp, đang gây ảnh hưởng tiêu cực đến an ninh kinh tế và an ninh năng lượng toàn cầu, cùng đóng góp thiết thực vào việc duy trì hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển của khu vực và trên thế giới.
Trước đó, sau lễ đón chính thức, Thủ tướng Lê Minh Hưng và Thủ tướng Nhật Bản Takaichi Sanae cùng đoàn đại biểu cấp cao hai nước đã tiến hành hội đàm tại Trụ sở Chính phủ.
Thủ tướng Lê Minh Hưng khẳng định Việt Nam luôn coi Nhật Bản là một trong những đối tác chiến lược quan trọng hàng đầu, người bạn chân thành, tin cậy, cùng đồng hành hiện thực hóa các mục tiêu phát triển bền vững.
Thủ tướng Nhật Bản Takaichi Sanae đánh giá Việt Nam có vị trí quan trọng trong chuỗi cung ứng khu vực và có chính sách đối ngoại tự chủ, hội nhập quốc tế sâu rộng, khẳng định Nhật Bản ủng hộ các nỗ lực, định hướng phát triển của Việt Nam, sẵn sàng đồng hành cùng Việt Nam trong thực hiện các mục tiêu phát triển. Thủ tướng Nhật Bản bày tỏ mong muốn hợp tác với Việt Nam nhằm tăng cường tính tự chủ và khả năng chống chịu của nền kinh tế của hai nước.
Thủ tướng Lê Minh Hưng mong muốn hai bên phối hợp chặt chẽ cùng đưa quan hệ song phương phát triển lên tầm cao mới, làm sâu sắc hơn hợp tác giữa hai nước trên mọi lĩnh vực.
Về hợp tác kinh tế, hai thủ tướng nhất trí làm sâu sắc hơn hợp tác kinh tế là trụ cột chính của quan hệ thông qua hợp tác thương mại, đầu tư, ODA, góp phần bảo đảm vững chắc an ninh kinh tế, an ninh năng lượng và nông nghiệp bền vững.
Hai bên nhất trí các biện pháp nhằm sớm đưa đầu tư của Nhật Bản vào Việt Nam đạt 5 tỉ USD/năm và kim ngạch thương mại song phương sớm đạt 60 tỉ USD vào năm 2030, thúc đẩy sớm mở cửa cho bưởi da xanh của Việt Nam và nho của Nhật Bản. Hai bên cũng nhất trí triển khai các dự án hợp tác ODA trong lĩnh vực ứng phó với biển đổi khí hậu, tiếp tục thúc đẩy cụ thể hóa các nội dung hợp tác trong khuôn khổ các sáng kiến của Nhật Bản tại khu vực như Sáng kiến Cộng đồng phát thải ròng bằng 0 châu Á, Sáng kiến Đối tác về khả năng chống chịu năng lượng và tài nguyên châu Á (POWER ASIA), thúc đẩy trao đổi về các dự án năng lượng như hạt nhân, điện khí...
Nhật Bản sẽ hỗ trợ thu xếp nguồn cung dầu thô cho Nhà máy Lọc hóa dầu Nghi Sơn. Thủ tướng Takaichi khẳng định Nhật Bản sẽ tiếp tục hỗ trợ Việt Nam thực hiện hiệu quả Dự án 1 triệu ha lúa giảm phát thải tại Đồng bằng sông Cửu Long.
Thủ tướng Lê Minh Hưng đánh giá cao hoạt động của các ngân hàng và tổ chức tài chính Nhật Bản tại Việt Nam, đóng vai trò cầu nối quan trọng giữa doanh nghiệp hai nước. Đề nghị xây dựng cơ chế mua bán sáp nhập giữa doanh nghiệp vừa và nhỏ hai nước, khuyến khích doanh nghiệp Nhật Bản đầu tư vào các dự án có hàm lượng công nghệ cao, tăng tỷ lệ nội địa hóa, hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam tham gia vào các dự án đầu tư của Chính phủ Nhật Bản, đầu tư kinh doanh thuận lợi tại Nhật Bản.
Về hợp tác khoa học - công nghệ, hai Thủ tướng nhất trí tái khởi động Ủy ban hỗn hợp Việt-Nhật về hợp tác khoa học - công nghệ trong năm 2026 và sớm thu xếp tổ chức sự kiện công-tư về công nghệ cao.
Thủ tướng Takaichi Sanae cho biết Nhật Bản mong muốn tiếp tục hỗ trợ Việt Nam nâng cao năng lực tự chủ công nghệ trong các lĩnh vực như trí tuệ nhân tạo (AI), bán dẫn, vũ trụ… cho rằng đây là nội dung ưu tiên hợp tác trong thời gian tới, thúc đẩy đào tạo nhân lực chất lượng cao trong các lĩnh vực công nghệ cao thông qua, cung cấp học bổng cho du học sinh, nghiên cứu sinh Việt Nam, đồng tài trợ các dự án nghiên cứu chung thông qua Chương trình hợp tác khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo Nhật Bản - ASEAN (NEXUS), Chương trình nghiên cứu khoa học Sakura…
Thủ tướng Lê Minh Hưng đề nghị Chính phủ Nhật Bản đơn giản hóa các thủ tục visa cho công dân Việt Nam, góp phần tạo điều kiện thuận lợi để thực hiện mục tiêu tăng gấp đối số lượt khách du lịch hai chiều vào năm 2030. Hai nhà Lãnh đạo cùng nhất trí hợp tác chặt chẽ đối với dự án Đại học Việt Nhật và sớm ký Hiệp định về trường Đại học Việt Nhật giữa hai nước.
Hai bên khẳng định tầm quan trọng của việc giải quyết tranh chấp trên Biển Đông bằng biện pháp hòa bình, trên cơ sở luật pháp quốc tế, nhất là Công ước của Liên Hiệp Quốc về luật Biển năm 1982 (UNCLOS).