Tại buổi làm việc, Tây Ninh kiến nghị đẩy nhanh tiến độ dự án Nâng cấp, mở rộng Quốc lộ 62 – dự án thành phần thuộc Dự án 3 tuyến Quốc lộ 53, 62, 91B kết nối vùng, thích ứng biến đổi khí hậu khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, sử dụng vốn vay Ngân hàng Thế giới.
Quốc lộ 62 đã đưa vào sử dụng hơn 25 năm nhưng chưa được sửa chữa, nâng cấp. Nhiều đoạn xuống cấp nghiêm trọng, gây khó khăn cho việc đi lại và vận chuyển hàng hóa, thường xuyên ùn tắc và tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn giao thông.
Tây Ninh kiến nghị Bộ Xây dựng báo cáo Chính phủ tháo gỡ vướng mắc về nguồn vốn để sớm triển khai dự án.
Đoàn công tác Bộ Xây dựng cho biết bộ đã phối hợp với Bộ Tài chính hoàn thiện dự thảo hiệp định vay vốn Ngân hàng Thế giới. Trong tháng 5-2026, Bộ Tài chính chủ trì họp rà soát dự thảo này. Đến nay, nội dung hiệp định đã hoàn tất; Bộ Tài chính đang triển khai thủ tục trình cấp có thẩm quyền cho phép ký kết.
Kết luận nội dung này, Bộ trưởng Trần Hồng Minh giao các đơn vị liên quan, trong đó có chủ đầu tư là Cục Đường bộ, khẩn trương hoàn thành công tác chuẩn bị để sớm khởi công dự án.
“Phấn đấu khởi công dự án trong quý IV-2026 theo kế hoạch đề ra”, Bộ trưởng nhấn mạnh.
Về dự án đường cao tốc Chơn Thành – Đức Hòa, Bộ trưởng yêu cầu Ban quản lý dự án phối hợp với địa phương xử lý các vướng mắc về mặt bằng, đồng thời hoàn thành toàn bộ tuyến trong quý IV-2026.
Với kiến nghị thảm nhựa nóng toàn tuyến quốc lộ N2 qua địa bàn tỉnh, Bộ trưởng giao Cục Đường bộ Việt Nam kiểm tra, xây dựng kế hoạch bảo trì và sớm bố trí kinh phí thực hiện.
Bộ trưởng Trần Hồng Minh cũng thống nhất với các đề xuất của Tây Ninh về: nâng cao tĩnh không cầu Bến Lức (QL1) và cầu Đức Huệ (ĐT.822); đầu tư nút giao khác mức liên thông Long Kim và nút giao Bình Nhựt trên quốc lộ 1; khảo sát nâng cấp tuyến sông Vàm Cỏ Đông.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ
Thời Sự
Đại hội Công đoàn sẽ thảo luận tăng năng suất, hỗ trợ tăng trưởng hai con số
Đại hội Công đoàn Việt Nam lần thứ 14 nhiệm kỳ 2026-2031 khai mạc sáng 3/6 tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia với sự tham dự của 780 đại biểu đại diện cho gần 10 triệu đoàn viên, người lao động cả nước.
Diễn ra từ ngày 3 đến 5/6, Đại hội tổng kết việc thực hiện Nghị quyết Đại hội Công đoàn 13 giai đoạn 2023-2026; kiểm điểm hoạt động của Ban Chấp hành Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam khóa 13; xác định mục tiêu, nhiệm vụ và các khâu đột phá trong nhiệm kỳ mới; sửa đổi Điều lệ Công đoàn Việt Nam và bầu Ban Chấp hành khóa 14.
Phiên trọng thể ngày 4/6 sẽ có sự tham dự của lãnh đạo Đảng, Nhà nước. Ngày 5/6, chương trình thảo luận giữa Thủ tướng và các đại biểu dự Đại hội sẽ tập trung vào chủ đề nâng cao năng suất lao động, thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số.
Theo lãnh đạo Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam, trước thềm Đại hội, người lao động cả nước đã gửi nhiều kiến nghị liên quan trực tiếp đến đời sống như điều chỉnh lương tối thiểu vùng, giảm giờ làm trong khu vực doanh nghiệp, giảm tuổi nghỉ hưu đối với một số nhóm lao động làm việc trong môi trường nặng nhọc, độc hại.
Các kiến nghị này sẽ được lựa chọn, tổng hợp thành 10 nội dung trọng tâm để báo cáo lãnh đạo Đảng, Nhà nước. Sau Đại hội, Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam cũng sẽ tiếp tục khảo sát để đề xuất mức điều chỉnh lương tối thiểu vùng năm 2027.
Là một trong ba bên tham gia đàm phán tiền lương tại Hội đồng Tiền lương quốc gia, Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam cho biết lương tối thiểu vùng đã được điều chỉnh hai lần trong giai đoạn 2023-2026, tăng 6% từ ngày 1/7/2024 và tăng 7,2% từ ngày 1/1/2026.
Trong nhiệm kỳ 2026-2031, Công đoàn Việt Nam xác định hai khâu đột phá gồm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công đoàn, đặc biệt là cán bộ chuyên trách và chủ tịch công đoàn cơ sở; đồng thời đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số trong hoạt động công đoàn và thúc đẩy sản xuất kinh doanh.
Đại hội sẽ xem xét, thông qua 4 đề án gồm nâng cao hiệu quả đối thoại, thương lượng tập thể và xây dựng quan hệ lao động giai đoạn 2026-2031; phát triển lực lượng sản xuất mới, thúc đẩy việc làm có thu nhập ổn định cho người lao động; chuyển đổi số trong hoạt động công đoàn và xây dựng mô hình tổ chức công đoàn mở, linh hoạt, năng động; phát động phong trào thi đua "Lao động giỏi, năng suất cao, thu nhập tốt".
Trong 5 năm tới, Công đoàn Việt Nam đặt mục tiêu phát triển thêm 4 triệu đoàn viên, phấn đấu ít nhất 90% doanh nghiệp có từ 20 lao động trở lên thành lập tổ chức công đoàn; giới thiệu ít nhất 300.000 đoàn viên ưu tú để xem xét kết nạp Đảng. Tổ chức này cũng hướng tới ít nhất 65% công nhân lao động trong doanh nghiệp được học tập, nâng cao trình độ và kỹ năng nghề nghiệp.
Giai đoạn 2023-2026, các cấp công đoàn đã chi hơn 27.200 tỷ đồng cho các hoạt động chăm lo, hỗ trợ người lao động; phát triển mới trên 2,2 triệu đoàn viên và ghi nhận các sáng kiến làm lợi hơn 40.000 tỷ đồng.
Tin Gốc: Vnexpress

Trong nhiều năm qua, Thành ủy và UBND TP.HCM xác định chương trình chống ngập, xử lý nước thải và chỉnh trang đô thị là những nhiệm vụ trọng tâm.
Trong đó việc cải tạo kênh rạch không chỉ là giải pháp môi trường, mà còn là bài toán về không gian sống và phát triển bền vững. Từ đó những con kênh dần hồi sinh.
Sáng tháng 5, khu vực kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè hiện lên trong trẻo sau những cơn mưa đầu mùa. Hai bên bờ kênh, hàng cây xanh rợp bóng, lối đi bộ tấp nập người dân tập thể dục, trẻ em vui chơi.
Dòng nước không còn đen đặc như nhiều năm trước, thay vào đó là sắc nước dịu hơn, phản chiếu nhịp sống đô thị đang dần thay đổi.
Nhiều người còn nhớ, hơn 20 năm trước, nơi đây từng là một trong những điểm ô nhiễm nghiêm trọng nhất thành phố. Dự án cải tạo kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè được khởi động từ năm 2002, kéo dài nhiều năm, đi kèm giải tỏa hàng chục ngàn hộ dân ven kênh.
Sau khi hoàn thành, dòng kênh dài gần 10 km không chỉ được cải thiện về môi trường mà còn trở thành trục cảnh quan đô thị quan trọng.
Trong đó, tuyến đường Hoàng Sa - Trường Sa chạy dọc hai bên bờ kênh nay đã trở thành không gian giao thông kết hợp sinh hoạt cộng đồng, nơi thường xuyên diễn ra các hoạt động văn hóa, lễ hội sông nước của thành phố.
Rời trung tâm, về phía tây thành phố, kênh Tân Hóa - Lò Gốm cũng ghi nhận sự thay đổi rõ rệt.
Từ một dòng kênh ô nhiễm nặng, rác thải tràn ngập, khu vực này nay đã trở thành tuyến kênh kết hợp đường giao thông, vừa cải thiện môi trường vừa giảm áp lực ùn tắc cho khu vực đông dân cư.
Năm 2011, TP.HCM bắt đầu triển khai dự án cải tạo kênh Tân Hóa - Lò Gốm theo hướng kết hợp kênh hở và cống hộp. Dòng kênh được chỉnh trang, hai bên hình thành trục đường mới, góp phần thay đổi bộ mặt đô thị khu vực phía tây.
Không chỉ cải tạo các tuyến kênh lớn, TP.HCM còn khơi thông lại những dòng kênh từng bị lấp, trong đó phải kể đến kênh Hàng Bàng - khu vực gắn liền với lịch sử giao thương của Chợ Lớn.
Trở lại kênh Hàng Bàng hôm nay, hai bên bờ đã được kè kiên cố, trồng cây xanh, lắp lan can và hình thành không gian đi bộ. Dòng nước giữa kênh trong hơn trước, thay cho hình ảnh đen đặc và ô nhiễm kéo dài nhiều năm.
Bà Nguyễn Hoàng Ý (55 tuổi), người sống lâu năm tại khu vực này, nhớ lại: "Ngày xưa nước đen, mùi hôi, ai cũng mong sớm được cải tạo. Giờ sạch sẽ, có cây xanh, buổi chiều người dân ra tập thể dục thấy vui hơn nhiều".
Trong nhịp phát triển mới, TP.HCM đang từng bước tìm lại bản sắc "đô thị sông nước" - không chỉ trong ký ức lịch sử mà ngay giữa đời sống hiện tại, nơi những dòng kênh dần hồi sinh gắn với mục tiêu an dân.
Nghị quyết Đại hội Đảng bộ TP.HCM các nhiệm kỳ 2020 - 2025 và 2025 - 2030 đều xác định chương trình chống ngập, xử lý nước thải và chỉnh trang đô thị có ý nghĩa quan trọng trong sự phát triển kinh tế - xã hội, hướng tới mục tiêu tăng trưởng hai con số trong giai đoạn tới.
Trên thực tế, Thành ủy và UBND TP.HCM đã tập trung nguồn lực cho các chương trình này, coi đây là giải pháp trọng tâm để giải quyết bài toán ngập úng, cải thiện môi trường kênh rạch và nâng cao chất lượng sống người dân.
Cách tiếp cận cũng đang thay đổi: từ xử lý hạ tầng đơn thuần sang mô hình tích hợp giữa chỉnh trang đô thị, cải thiện môi trường và phát triển không gian sống.
Sau mỗi dự án, không chỉ có kè, cống hay đường giao thông, mà còn hình thành công viên, lối đi bộ và các không gian sinh hoạt cộng đồng ven kênh.
Cùng với đó, thành phố ban hành nhiều cơ chế linh hoạt trong bồi thường, hỗ trợ và tái định cư, đặc biệt với các trường hợp nhà ở ven kênh rạch không đủ giấy tờ pháp lý, nhằm đẩy nhanh tiến độ giải tỏa và chỉnh trang đô thị.
Ông Phương Thái Hoàng (74 tuổi), từng sống nhiều năm bên kênh Đôi, là một trong những hộ dân di dời theo diện tái định cư.
Hơn hai thập niên trước, ông mua căn nhà chưa đầy 30m2 sát mép kênh vì giá rẻ, rồi cơi nới dần cho cả gia đình nhiều thế hệ.
Căn nhà chiều ngang khoảng 2,5m, dựng trên nền cừ tràm, mỗi khi ghe tàu chạy qua lại rung lắc. "Cực chẳng đã mới ở, chứ đâu phải ai muốn ở đó đâu", ông nói.
Cuộc sống ven kênh với ông Hoàng gắn với nhiều bất an: mùa nước lớn chuột bò lên nhà, mùi hôi từ kênh bốc lên, nền nhà nhiều lần sụt lún do cừ mục.
Cứ vài năm gia đình lại phải tốn hàng chục triệu đồng để gia cố. Không gian chật hẹp, nhà san sát khiến nguy cơ cháy nổ, trộm cắp luôn thường trực. Khi có chủ trương giải tỏa, ông từng lo ngại mức bồi thường không đủ để ổn định cuộc sống mới.
Nhưng sau khi được địa phương giới thiệu các khu tái định cư, ông chọn căn hộ mới vì thuận tiện cho con cháu học hành, làm việc.
"Tôi mừng nhất là tụi nhỏ có chỗ ở sạch sẽ, ổn định hơn" - ông nói, bởi sau nhiều năm sống chông chênh bên mé kênh, điều thay đổi lớn nhất với ông không chỉ là nơi ở mới, mà là cảm giác an tâm.
Đánh giá về chủ trương hồi sinh kênh rạch của TP.HCM, TS khoa học - KTS Ngô Viết Nam Sơn cho rằng Sài Gòn - TP.HCM vốn là một đô thị sông nước, nhiều tuyến kênh từng bị lấp trong quá trình đô thị hóa (như khu vực đường Nguyễn Huệ hay Hàm Nghi ngày nay vốn trước kia là kênh rạch).
Vì vậy, việc chỉnh trang và khôi phục hệ thống này mang ý nghĩa lớn đối với bản sắc đô thị.
Theo ông Sơn, hồi sinh kênh rạch trước hết giúp khơi lại ký ức đô thị, đồng thời phát huy giá trị bản sắc vốn có của thành phố. Trước đây, các hoạt động buôn bán giao thương ven sông, ven kênh từng rất sầm uất.
Hiện nay, những không gian này hoàn toàn có thể được tái hiện thông qua các hoạt động đô thị ven nước, qua đó làm sống lại các khu vực từng là trung tâm giao thương như Bến Bình Đông hay nhiều tuyến kênh đã bị lấp.
Không gian ven kênh, ven sông cũng được xem là quỹ đất công cộng có giá trị cảnh quan lớn, có thể kết hợp phát triển công trình văn hóa, dịch vụ cộng đồng, tạo thêm những điểm đến mới cho người dân.
Đồng thời hệ thống mặt nước còn góp phần cải thiện khí hậu đô thị, giúp giảm nhiệt, giảm ô nhiễm không khí, lọc bụi, hạn chế tiếng ồn và hỗ trợ tiêu thoát nước trong bối cảnh đô thị hóa nhanh.
Ông Sơn nhấn mạnh thêm, hệ thống sông ngòi, kênh rạch trong tương lai có thể được xem như một "khung xanh" của đô thị, kết nối các không gian xanh, mặt nước và công trình công cộng, trở thành không gian thư giãn, sinh hoạt cho người dân sau giờ làm việc.
Về cách tiếp cận hiện nay trong cải tạo kênh rạch, ông cho rằng việc có nơi ưu tiên thoát nước, có nơi giữ yếu tố tự nhiên của mặt nước đều phù hợp, miễn là đáp ứng đúng mục tiêu từng dự án.
"Không nên áp dụng một mô hình duy nhất cho toàn bộ hệ thống kênh rạch. Ở những nơi phù hợp, cần kết hợp đồng thời ba mục tiêu: thoát nước, giao thông thủy và không gian sinh thái", ông Sơn nói.
Theo báo cáo của Sở Xây dựng TP.HCM, trong giai đoạn 2026 - 2030, TP.HCM đặt mục tiêu di dời hơn 23.000 căn nhà trên và ven kênh rạch.
Mục đích là để góp phần cải thiện môi trường sống, giảm ô nhiễm và tăng khả năng thoát nước cho đô thị...
Việc di dời, giải phóng mặt bằng tập trung tại các tuyến chính như kênh Đôi, kênh Tẻ, rạch Ông Lớn. Riêng các khu vực nhỏ lẻ giao cho địa phương chủ động triển khai.
Để thực hiện mục tiêu đó, UBND TP.HCM đã triển khai xây dựng Kế hoạch tổ chức thực hiện Đề án chỉnh trang đô thị, khu vực nhà trên và ven sông, kênh, rạch trên địa bàn thành phố giai đoạn 2025 - 2030.
Dự kiến triển khai 40 dự án vốn ngân sách và 4 dự án vốn xã hội hóa với số lượng di dời 23.429 căn nhà. Trong đó Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng hạ tầng đô thị TP.HCM thực hiện 38/44 dự án (6 dự án còn lại do đơn vị khác làm chủ đầu tư).
Phía Ban Quản lý dự án hạ tầng đô thị nhận định việc thực hiện tốt công tác tái định cư sẽ góp phần quan trọng vào thành công chung của chương trình dự án.
Do đó ban đã phối hợp chặt chẽ với Sở Xây dựng các địa phương ngay từ giai đoạn chủ trương đầu tư thực hiện những nội dung như xây dựng kế hoạch, bố trí dự án tái định cư song song với bước chuẩn bị đầu tư; đảm bảo các phương án tái định cư được thông qua song song với việc phê duyệt chủ trương đầu tư.
Trong trường hợp cần triển khai dự án tái định cư phải được thực hiện trước để đảm bảo đời sống của người dân khi triển khai công tác bồi thường giải phóng mặt bằng.
Với các cơ chế chính sách mới, đặc biệt là cơ chế hỗ trợ đặc thù trong công tác bồi thường và tái định cư, cùng với việc chủ động bố trí nguồn lực đầu tư, nhiều dự án chỉnh trang đô thị của thành phố đã được đẩy nhanh tiến độ và tạo được sự đồng thuận của người dân.
Trao đổi thêm với Tuổi Trẻ, ông Đậu An Phúc, Giám đốc Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng hạ tầng đô thị TP.HCM (đơn vị tham gia cải tạo nhiều dự án kênh rạch lớn), cho biết Ban Thường vụ Thành ủy đã có kết luận về chủ trương áp dụng biện pháp, mức hỗ trợ khác khi triển khai hai dự án chỉnh trang đô thị, di dời nhà ở trên và ven kênh rạch là dự án bờ bắc kênh Đôi và dự án rạch Xuyên Tâm.
Và việc áp dụng các mức hỗ trợ phù hợp đã giúp tạo sự đồng thuận cao của người dân, từ đó tháo gỡ một trong những nút thắt lớn nhất của các dự án chỉnh trang đô thị.
"Từ những hiệu quả đạt được trong quá trình triển khai hai dự án nêu trên, thành phố đã tiếp tục hoàn thiện khung chính sách về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư, trong đó đáng chú ý là chủ trương áp dụng các biện pháp và mức hỗ trợ phù hợp đối với các trường hợp nhà ở trên và ven kênh rạch", ông Phúc nói.
Ngoài ta, theo ông Phúc, thành phố cũng giao nhiệm vụ chuẩn bị đầu tư sớm và đảm bảo nguồn vốn cho nhiều dự án ngay từ đầu nhiệm kỳ. Nhờ đó, nhiều dự án chỉnh trang kênh rạch đã được chuẩn bị đầu tư sớm (như dự án rạch Văn Thánh, dự án rạch Ông Bé, dự án rạch Bà Lớn...).
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

Những ngày gần đây, cá voi (ngư dân gọi là cá Ông) liên tục xuất hiện, vẫy vùng ở vùng biển Mũi Né. Ngư dân phấn khởi reo hò, ghi lại hình ảnh cá voi tung tăng trên mặt nước.
Theo ông Nguyễn Ngọc Ẩn, Giám đốc Bảo tàng cổ vật Mũi Né, một nhà nghiên cứu văn hóa địa phương, việc cá voi xuất hiện ở vùng biển này không phải hiếm. Tuy nhiên, với tần suất liên tục như thời gian qua, trong bối cảnh vùng biển từng chịu áp lực khai thác tài nguyên, đây là tín hiệu đáng mừng.
Ông Ẩn cho rằng, sự hiện diện của cá voi không chỉ mang ý nghĩa tâm linh, biểu trưng cho bình yên biển cả, mà còn phản ánh môi trường biển còn trong lành, nguồn lợi thủy sản vẫn dồi dào.
Cá voi là loài săn mồi cấp cao, phụ thuộc vào nguồn cá nhỏ và sinh vật phù du. Khi cá voi xuất hiện, có thể suy ra hệ sinh thái vẫn đủ sức nuôi dưỡng các loài lớn.
Trong bối cảnh vùng biển Nam Trung bộ chịu áp lực từ khai thác và biến đổi khí hậu, việc cá voi xuất hiện cho thấy hệ sinh thái chưa suy kiệt. Ngược lại, nếu cá voi dạt bờ trong trạng thái suy yếu, đó có thể là cảnh báo về ô nhiễm, tiếng ồn dưới nước hoặc biến động dòng chảy.
Theo quan niệm dân gian, cá Ông là biểu tượng tâm linh bền vững của ngư dân miền biển. Những câu chuyện cá Ông cứu nạn giữa khơi xa được truyền qua nhiều thế hệ, góp phần bồi đắp niềm tin sâu sắc.
Vì vậy, mỗi khi cá Ông “lụy bờ” (chết dạt bờ), ngư dân đều tổ chức tang lễ trang nghiêm với đầy đủ nghi thức. Tín ngưỡng này gắn bó chặt chẽ với đời sống làng chài, vừa là điểm tựa tinh thần, vừa góp phần gắn kết cộng đồng, giúp ngư dân yên tâm bám biển.
Ông Ẩn kể, cá Ông từng nhiều lần cứu ngư dân trên biển. “Ông nội tôi từng được cá Ông cứu sống khi gặp nạn trên biển. Sau đó, ông đã hiến đất để xây lăng cá Ông tại Hàm Tiến (nay thuộc phường Mũi Né - PV). Từ đó về sau, mỗi tháng ông đều mang 6 lít dầu lửa đến lăng vạn để thắp nhang, đèn cúng ông Nam Hải”, ông Ẩn kể.
Theo ông Hai Long, ngư dân Mũi Né, giai đoạn 2010 - 2023 ghi nhận nhiều trường hợp cá voi nhỏ dạt bờ. "Theo tập tục cha ông, nơi nào có Ông lụy thì nơi đó biển yên, môi trường trong lành, nguồn lợi còn phong phú", ông Hai Long chia sẻ.
Hiện nay, tại vạn Làng chài Mũi Né có khu chôn cất cá Ông. Sau vài năm, bộ xương được cải táng, đưa về thờ tại Lăng ông Nam Hải (phường Phan Thiết), nơi lưu giữ hàng chục bộ cốt cá Ông qua nhiều thế hệ.
Theo ông Nguyễn Ngọc Ẩn, sự xuất hiện của cá voi đang mở ra một hướng tiếp cận mới cho du lịch Mũi Né. Trong bối cảnh địa phương được định vị là khu du lịch quốc gia, việc đa dạng hóa và làm mới sản phẩm trở thành yêu cầu cấp thiết.
Hiện nay, du lịch Mũi Né chủ yếu dựa vào các lợi thế sẵn có như biển, đồi cát và nghỉ dưỡng. Tuy nhiên, những sản phẩm này đang dần bão hòa, thiếu yếu tố mới để giữ chân và tạo hứng thú cho du khách. Vì vậy, việc gắn yếu tố tự nhiên như cá voi với trải nghiệm du lịch sinh thái, văn hóa được xem là hướng đi tiềm năng, góp phần làm phong phú sản phẩm và nâng cao sức hấp dẫn cho điểm đến.
"Cá voi có thể trở thành một phần của sản phẩm du lịch sinh thái - văn hóa nếu được khai thác đúng cách. Tôi nghĩ các doanh nghiệp du lịch cần khai phá để có những tour khám phá biển. Trên thế giới, mô hình du lịch quan sát cá voi đã phát triển mạnh, nhưng luôn đi kèm quy định nghiêm ngặt để bảo vệ loài và môi trường sống", ông Ẩn gợi mở.
Hướng đi khả thi với Mũi Né là kết hợp tham quan Lăng ông Nam Hải, tìm hiểu tín ngưỡng cá Ông và phát triển các tour trải nghiệm biển. Tuy nhiên, yếu tố then chốt là kiểm soát hoạt động trên biển. Nếu tàu thuyền bám đuổi tự phát, gây tiếng ồn, cá voi có thể rời đi, thậm chí ảnh hưởng hệ sinh thái.
Ở góc độ kinh tế, khi môi trường biển được bảo vệ, nguồn lợi thủy sản ổn định, ngư dân có thể bám biển lâu dài. Đồng thời, du lịch phát triển sẽ mở thêm sinh kế từ dịch vụ.
Sự xuất hiện của cá voi ở Mũi Né vì thế không chỉ là hiện tượng tự nhiên. Đây còn là phép thử đối với cách con người ứng xử với biển. Nếu được gìn giữ đúng cách, đó sẽ là nền tảng cho mô hình phát triển bền vững, nơi môi trường, văn hóa và kinh tế cùng song hành.
Tin Gốc: Thanh Niên

