Buổi sáng ở cửa khẩu Tân Thanh thường sôi động với những dòng xe chở hàng và người nối nhau tại khu vực làm thủ tục xuất nhập cảnh, trái ngược với cảnh đìu hiu ở chợ Tân Thanh – nơi từng được ví như “thiên đường mua sắm” của vùng biên.
Trong chợ, một số tiểu thương lặng lẽ kéo cửa cuốn, mang hàng hóa, như quần áo, túi xách, đồ gia dụng… ra treo trước quầy hàng. Sau khi phủi bụi trên từng món hàng, chỉnh lại những chiếc móc, những người bán hàng uể oải ngồi xuống chiếc ghế nhựa chờ khách.
Ở những lối đi sâu bên trong, nhiều gian hàng vẫn đóng cửa. Có quầy chỉ hé một phần cửa cuốn, phía trước đặt vài thùng hàng. Tiếng mời chào thưa thớt, thi thoảng mới vang lên khi một nhóm khách dừng lại hỏi giá.
Chợ Tân Thanh nằm sát khu vực cửa khẩu Tân Thanh, cách trung tâm tỉnh Lạng Sơn khoảng 30 km. Trong nhiều năm, nơi đây là điểm đến quen thuộc của các đoàn khách từ Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Bắc Giang và nhiều tỉnh phía bắc.
Nhắc về thời chợ đông khách, những tiểu thương lâu năm vẫn nhớ rõ cảnh xe du lịch nối đuôi nhau vào bãi. Từ sáng sớm, khách đã đứng kín các lối đi. Chị Nguyễn Thị Thu, một tiểu thương tại khu chợ, chia sẻ: “Ngày đó, có những ngày người bán không kịp ăn trưa. Hàng vừa chuyển về đã có khách đứng chờ. Một gian hàng nhỏ nhưng phải có vài người cùng trông, người lấy hàng, người tính tiền, người đóng gói”.
Thời ấy, một ki ốt có vị trí đẹp được xem là tài sản lớn. Người muốn thuê phải chờ đợi hoặc trả mức giá cao. Không ít gia đình từ nơi khác đến Tân Thanh thuê nhà, mở quầy, rồi gắn bó với khu chợ suốt nhiều năm.
Nhịp sống của vùng cửa khẩu khi đó cũng xoay quanh những chuyến xe du lịch. Quán ăn, nhà nghỉ, điểm trông xe và dịch vụ vận chuyển hàng hóa cùng hoạt động nhộn nhịp theo dòng khách.
Nhưng sau những năm dịch bệnh, mọi thứ thay đổi nhanh chóng. Hoạt động qua lại biên giới từng có thời gian gián đoạn. Khách du lịch giảm, nhiều gian hàng phải đóng cửa. “Bây giờ có những ngày còn không mở hàng”, chị Thu buồn rầu nói.
Những mặt hàng từng khiến người mua phải đi hàng trăm cây số đến Tân Thanh nay có thể tìm thấy trên các sàn thương mại điện tử. Chỉ cần vài thao tác trên điện thoại, hàng được chuyển tận nhà, giá cả dễ so sánh, mẫu mã cũng phong phú hơn.
Trước sự thay đổi ấy, nhiều tiểu thương phải tìm cách thích nghi. Người chuyển sang bán hàng trực tuyến, người livestream ngay tại quầy, người biến gian hàng thành nơi chứa hàng và đóng đơn. Một số khác rời chợ, tìm công việc mới sau nhiều năm bám trụ.
Những người còn lại vẫn mở cửa mỗi sáng. Với họ, khu chợ không chỉ là nơi buôn bán mà còn là sinh kế, là phần lớn quãng đời đã đi qua.
Sự trầm lắng bên trong chợ tạo nên một hình ảnh đối lập với không khí giao thương ngoài cửa khẩu. Mỗi ngày, hàng hóa và người dân vẫn qua lại khu vực Tân Thanh. Hoạt động thông quan từng bước được số hóa, các tuyến đường chuyên dụng được tổ chức nhằm nâng cao năng lực vận chuyển và giảm áp lực phương tiện tại khu vực cửa khẩu chính.
Dòng người qua biên giới đông lên, nhưng không phải ai cũng trở thành khách của khu chợ. Nhiều đoàn khách sau khi hoàn tất thủ tục lên xe rời đi theo lịch trình đã định. Người sang thăm thân hoặc giao thương thường chỉ dừng lại trong thời gian ngắn. Những chuyến xe chở hàng cũng vận hành theo một quy trình khép kín, ít tạo ra sự kết nối với hoạt động mua bán dân sinh trong chợ.
Trong khi đó, phần lớn không gian chợ vẫn mang dáng dấp của mô hình buôn bán truyền thống, các gian hàng san sát, mặt hàng tương đối giống nhau, khu vực nghỉ chân, ăn uống và trải nghiệm còn hạn chế.
Để tạo sự “chuyển mình” cho thương mại vùng biên, ông Nguyễn Quốc Toàn, Giám đốc Ban quản lý Khu kinh tế cửa khẩu Đồng Đăng – Lạng Sơn, cho hay, đầu tháng 6.2026, UBND tỉnh Lạng Sơn đã ban hành Quyết định phê duyệt đề án, phương án quy hoạch và thiết kế ý tưởng kiến trúc Khu hợp tác thương mại, du lịch Tân Thanh – Pò Chài. Khu vực nghiên cứu rộng khoảng 70,67 ha, gồm 4 phân khu: thương mại – chợ biên giới; dịch vụ – du lịch; văn hóa – giao lưu dân tộc; cải tạo, chỉnh trang tuyến phố và hình thành tuyến phố bản sắc.
Đề án hướng tới xây dựng Tân Thanh thành trung tâm biên giới hiện đại, xanh, sạch, văn minh; hình thành dòng khách ổn định, phát triển sản phẩm du lịch đặc trưng và tạo việc làm cho khoảng 1.000 lao động địa phương. Tổng kinh phí ước tính cho một số nhóm dự án chính khoảng 1.450 tỉ đồng. Nguồn lực thực hiện dự kiến được huy động từ ngân sách nhà nước, vốn xã hội hóa, doanh nghiệp Việt Nam – Trung Quốc, nhà đầu tư tư nhân và các hình thức đối tác công – tư.
Việc triển khai được chia thành 3 giai đoạn. Từ năm 2026 đến 2028, tỉnh Lạng Sơn tập trung hoàn thiện quy hoạch, chuẩn bị quỹ đất và xây dựng hệ thống hạ tầng khung.
Trong giai đoạn 2029 – 2031, các khu chức năng trọng điểm dự kiến được đầu tư, đưa vào vận hành. Đến năm 2035, Tân Thanh hướng tới hoàn thiện mô hình cửa khẩu thông minh.
“Khi hoàn thành, khu hợp tác Tân Thanh – Pò Chài được kỳ vọng tạo thêm động lực cho kinh tế cửa khẩu Lạng Sơn, mở rộng sinh kế cho người dân địa phương và nâng vai trò của Tân Thanh trên hành lang thương mại Việt Nam – Trung Quốc”, ông Toàn nói.
Hiệp hội Kinh doanh vàng Việt Nam vừa có công văn gửi Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng kiến nghị nhiều nội dung liên quan tới nguồn vàng nguyên liệu.
Một trong số đó là kiến nghị ban hành quy định, hướng dẫn cụ thể về cơ chế, cách thức huy động, thu mua nguồn vàng trong dân làm nguyên liệu đầu vào cho sản xuất, chế tác vàng trang sức, mỹ nghệ.
Trong đó, cho phép các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh vàng trang sức được vay vàng trong dân với lãi suất thỏa thuận phù hợp với pháp luật dân sự để sản xuất vàng trang sức mỹ nghệ.
Không đồng tình với đề xuất trên, TS kinh tế Lê Bá Chí Nhân phân tích, về bản chất, cho phép doanh nghiệp vay vàng trực tiếp từ người dân với lãi suất thỏa thuận chính là mở lại kênh tín dụng bằng vàng dưới một hình thức khác, lợi bất cập hại.
Điều này tiềm ẩn nhiều rủi ro vĩ mô như: rủi ro hệ thống, làm suy yếu vai trò của tiền đồng; hình thành một thị trường tín dụng ngầm bằng vàng rất khó kiểm soát. Nhà nước không thể giám sát quy mô, dòng tiền, mức độ rủi ro.
"Doanh nghiệp vay vàng nhưng doanh thu lại bằng tiền đồng. Khi giá vàng biến động mạnh, doanh nghiệp không chỉ chịu rủi ro kinh doanh mà còn gánh thêm rủi ro tài chính. Nếu mất khả năng trả nợ, thiệt hại sẽ chuyển sang phía người dân.
Đáng chú ý, khi vàng trở thành công cụ sinh lãi, người dân có xu hướng nắm giữ vàng thay vì gửi tiết kiệm bằng tiền. Điều này đi ngược nỗ lực củng cố niềm tin vào tiền đồng của Ngân hàng Nhà nước", ông Nhân lý giải.
Vị chuyên gia nhấn mạnh, trước kia, Việt Nam từng trải qua giai đoạn "vàng hóa" nền kinh tế rất nặng nề. Khi đó, hệ thống ngân hàng huy động vàng, cho vay vàng. Doanh nghiệp vay vàng để kinh doanh, trong khi người dân coi vàng như phương tiện thanh toán song song với tiền.
Điều này gây nhiều hệ quả như: chính sách tiền tệ bị suy yếu, tỷ giá chịu áp lực lớn... Năm 2012, Nghị định 24 về quản lý hoạt động kinh doanh vàng ra đời với mục tiêu chính là chấm dứt tình trạng "vàng hóa" nền kinh tế, đưa vàng ra khỏi lưu thông tín dụng. Không có lý gì hiện tại lại cho phép tái diễn.
"Vấn đề cốt lõi hiện nay không phải là tạo điều kiện để doanh nghiệp vay vàng trong dân mà là tìm cách chuyển hóa nguồn vàng trong dân thành nguồn lực cho nền kinh tế một cách an toàn, thông qua hệ thống tài chính chính thức, dưới sự điều tiết của Ngân hàng Nhà nước", ông Nhân nói.
Ông Nguyễn Quang Huy, Giám đốc điều hành Khoa Tài chính - Ngân hàng (Trường ĐH Nguyễn Trãi), nhìn nhận, đề xuất cho phép doanh nghiệp vay vàng từ người dân để phục vụ sản xuất vàng trang sức nếu hiện thực hóa sẽ giúp giảm sự phụ thuộc vào nhập khẩu và cung cấp nguyên liệu ổn định cho ngành chế tác.
Tuy nhiên, vấn đề lãi suất vay thỏa thuận có thể dẫn đến các rủi ro về pháp lý, tài chính nếu không được giám sát chặt chẽ.
"Khi doanh nghiệp gặp phải vấn đề tài chính hoặc rủi ro kinh doanh, việc không thể hoàn trả vàng vay có thể dẫn đến người dân không thu hồi được tài sản.
Ngoài ra, khi doanh nghiệp gặp vấn đề về nhân sự hoặc hoạt động kinh doanh không ổn định, thu hồi vàng vay từ doanh nghiệp cũng trở nên khó khăn, tạo ra sự mất cân bằng trong các giao dịch", ông Huy phân tích.
Đánh giá kiến nghị huy động vàng trong dân để làm nguyên liệu sản xuất trang sức hợp lý về mặt lý thuyết, song chuyên gia vàng Trần Duy Phương nhấn mạnh, điều này rất khó hiện thực hóa.
Vàng trong dân tồn tại dưới nhiều dạng như vàng miếng, vàng nhẫn, vàng trang sức. Việc kiểm định chất lượng vàng không hề đơn giản. Hiện nay, trừ vàng miếng có thương hiệu, phần lớn vàng nhẫn, vàng trang sức trên thị trường không đồng nhất về tiêu chuẩn.
"Doanh nghiệp sẽ huy động loại vàng nào, có chấp nhận tất cả. Người dân cho vay vàng miếng, vàng nhẫn... khi nhận lại sẽ nhận vàng dưới hình thức ra sao... Tất cả đều không đơn giản", ông Phương nêu vấn đề.
Băn khoăn quan trọng khác được ông Phương đề cập là rủi ro lớn về cân đối trạng thái của doanh nghiệp kinh doanh vàng. Giả sử, doanh nghiệp huy động vàng ở vùng giá 170 - 175 triệu đồng/lượng, song đến khi đáo hạn, giá đã tăng lên 200 triệu đồng/lượng. Khi đó, việc cân đối nguồn để trả nợ trở nên rất khó khăn.
Ngày 29/4, thông tin tại Họp báo thường kỳ Bộ Khoa học và Công nghệ tháng 4/2026, ông Nguyễn Anh Cương, Phó Cục trưởng Cục Viễn thông đã thông tin cụ thể về Thông tư số 08/2026/TT-BKHCN của Bộ Khoa học và Công nghệ về hướng dẫn việc xác thực thông tin thuê bao di động mặt đất.
Theo ông Nguyễn Anh Cương, Phó Cục trưởng Cục Viễn thông, qua quá trình triển khai, Cục nhận thấy hiện có 2 khái niệm hay bị nhầm lẫn gần đây là xác thực lại thông tin thuê bao đảm bảo thông tin chính xác theo quy định và xác nhận sử dụng chính chủ.
Thứ nhất, việc xác thực thông tin thuê bao theo đúng quy định vẫn được thực hiện thường xuyên, liên tục, đảm bảo thông tin thuê bao được đăng ký với giấy tờ hợp pháp, đúng người đăng ký khi được đối soát với cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư.
Đợt tổng rà soát năm 2023 là hướng tới đảm bảo tất cả các thông tin thuê bao đều được gắn với một giấy tờ hợp pháp được đối soát với cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư. Giai đoạn này đã xử lý được 17 triệu thuê bao có giấy tờ không hợp lệ - chuẩn hoá 11 triệu và xử lý thu hồi 6 triệu.
Giai đoạn này vì một số yếu tố kỹ thuật, mới chỉ thực hiện đối soát 3 trường dữ liệu: tên, ngày tháng năm sinh, địa chỉ. Thông tư 08 bổ sung thêm trường hình ảnh để đảm bảo kết quả đối soát chính xác hơn, hạn chế các hành vi như giả mạo giấy tờ thay đổi khuôn mặt trong khi nhà mạng không có khả năng đối soát kiểm chứng.
Kể cả giai đoạn trước đây hay hiện nay, việc thực hiện rà soát này vẫn do các doanh nghiệp viễn thông thực hiện. Không yêu cầu toàn bộ người dân phải làm xác thực. Người dân về cơ bản đã cung cấp đầy đủ thông tin bao gồm cả hình ảnh khi đăng ký thuê bao mới. Người sử dụng chỉ phải cập nhật lại thông tin thuê bao khi có phát hiện sai lệch thông tin so với thông tin đối soát (hình ảnh,…), giấy tờ sử dụng để đăng ký bị hết hiệu lực (như CMND 9 số..) hoặc bị phát hiện đang sử dụng sim không chính chủ. Trong các trường hợp đó người sử dụng sẽ nhận được thông báo từ nhà mạng để thực hiện xác thực lại thông tin.
Thứ hai, về câu chuyện chính chủ. Về cơ bản, quá trình xác thực từ giai đoạn 2023 đến nay đã làm được việc đảm bảo mỗi thuê bao đang hoạt động được gắn chính xác với một giấy tờ, một cá nhân cụ thể. Theo quy định tại Luật Viễn thông 2023, người sử dụng sẽ phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về số thuê bao mình đứng tên.
Tuy nhiên, với 30 năm phát triển, hiện đang có gần 120 triệu thuê bao, của 10 mạng di động. Cũng không ít trường hợp thời gian vừa qua người dân bị liên đới khi bị thất lạc số thuê bao mà không ngừng cung cấp dịch vụ, bị lợi dụng vào các hành vi vi phạm pháp luật. Do đó cần có một công cụ để hỗ trợ người dân có thể nhìn lại tổng thể, xác nhận cũng như làm sạch đảm bảo lại tính chính chủ sử dụng của toàn thể các thuê bao di động.
Một trong những điểm mới, đột phá của Thông tư số 08/2026/TT-BKHCN là trên cơ sở quy định tại Nghị định 70/2024/NĐ-CP, cùng với sự hỗ trợ, phối hợp tích cực của Cục C06 – Bộ Công an, lần đầu tiên có một cơ sở dữ liệu lưu trữ đầy đủ thông tin của tất cả các mạng thông qua ứng dụng VNeID, để từ đó người dùng có thể kiểm tra lại các SIM thuộc tất cả các mạng đang đứng tên, xác nhận số thuê bao đang sử dụng/không sử dụng để đảm bảo tính chính chủ.
Theo quy định tại Thông tư 08, các doanh nghiệp viễn thông sẽ có tối đa 30 ngày kể từ ngày 15/4 để cập nhật toàn bộ thông tin lên VNeID. Dữ liệu hiện vẫn đang được Cục C06 - Bộ Công an tích cực phối hợp với các doanh nghiệp viễn thông để đưa lên VneID.
"Tới thời điểm hiện tại, theo thống kê sơ bộ hiện đã có hơn 95 triệu thuê bao được đưa lên VNeID. Đã có gần 900.000 số được người dùng xác nhận không sử dụng chính chủ; hơn 60 triệu thuê bao đã được xác nhận sử dụng chính chủ. Và vẫn còn khoảng hơn 34 triệu là thuê bao chưa xác nhận trên hệ thống VNeID", ông Nguyễn Anh Cương thông tin.
Tuy nhiên, thời điểm này khi dữ liệu vẫn chưa được đưa lên đầy đủ và vẫn còn nhiều người chưa xác nhận trạng thái.
Quá trình tổng rà soát xác nhận trạng thái chính chủ sẽ vẫn được triển khai tới 15/6, do đó thời điểm hiện tại chưa có con số thống kê chính xác.
Và việc tổng rà soát chính chủ này, như trong Thông tư 08, là điều khoản chuyển tiếp, hướng tới nhằm khắc phục một số tồn tại từ nhiều năm phát triển. Tinh thần là hỗ trợ người dân chuẩn hoá, bảo vệ quyền lợi chính chủ của thuê bao. Do đó sẽ được thiết kế để hỗ trợ tối đa người dân có thể xác nhận, cập nhật lại thông tin đảm bảo chính chủ.
Bộ KH&CN khuyến nghị người dân chủ động truy cập Ứng dụng VNeID, theo dõi các thông báo từ doanh nghiệp viễn thông để thực hiện kiểm tra, xác nhận chính chủ các số thuê bao trên VNeID. Việc chủ động xác minh và quản lý các số thuê bao không chỉ giúp giảm thiểu rủi ro, bảo vệ quyền lợi của chính người sử dụng, mà còn góp phần xây dựng môi trường viễn thông an toàn, minh bạch, phục vụ hiệu quả cho quá trình chuyển đổi số quốc gia.
Với những người yếu thế, không có tài khoản VNeID, cơ quan chức năng đã có kế hoạch phối hợp với công an cấp xã và các nhà mạng để hỗ trợ trực tiếp tại địa phương. Mục tiêu là đảm bảo "không ai bị bỏ lại phía sau" trong quá trình chuẩn hóa thông tin thuê bao.
Trao đổi với Thanh Niên chiều 22.5, ông Trịnh Anh Tuấn, Chủ tịch Ủy ban Cạnh tranh quốc gia (Bộ Công thương) xác nhận, đơn vị này đã gửi giấy mời làm việc với đại diện 2 sàn thương mại điện tử Shopee và Tiktok để làm rõ việc áp dụng các chính sách phí mới cho người bán hàng.
Theo thư mời gửi ngày 20.5, cuộc làm việc giữa Ủy ban Cạnh tranh quốc gia và đại diện các sàn thương mại điện tử nói trên sẽ diễn ra ngày 26.5.
Cũng theo Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia, thời gian gần đây, đơn vị này ghi nhận nhiều thông tin phản ánh một số nền tảng thương mại điện tử điều chỉnh, áp dụng các chính sách phí mới cho người bán hàng trên nền tảng kể từ tháng 5, trong đó có Shopee và TikTok.
Nhiều ý kiến phản ánh, các nền tảng thương mại nói trên điều chỉnh tăng các loại phí cố định, xử lý giao dịch và một số loại phí dịch vụ có thể ảnh hưởng đáng kể đến chi phí vận hành chung của các nhà bán hàng trên nền tảng, từ đó tiếp tục ảnh hưởng đến giá bán dành cho người tiêu dùng cũng như môi trường cạnh tranh trong thương mại điện tử
Trước đó, ngày 18.5, Ủy ban Cạnh tranh quốc gia đã có văn bản đề nghị các doanh nghiệp liên quan cung cấp thông tin, tài liệu phục vụ công tác kiểm soát, giám sát theo quy định của luật pháp về cạnh tranh.
Theo báo cáo Chỉ số thương mại điện tử Việt Nam 2025 của Hiệp hội Thương mại điện tử Việt Nam (VECOM), phân tích dữ liệu của Metric.vn và các báo cáo thị trường liên quan, quy mô tổng giá trị hàng hóa, dịch vụ giao dịch thương mại điện tử B2C tại Việt Nam năm 2025 ước đạt khoảng 31 - 32 tỉ USD, tăng khoảng 25 - 27% so với năm 2024 và thuộc nhóm thị trường tăng trưởng nhanh nhất khu vực ASEAN.
Dự báo trong năm nay, quy mô thị trường thương mại điện tử Việt Nam có thể đạt khoảng 35 - 40 tỉ USD, tiếp tục duy trì đà tăng trưởng mạnh nhờ tỷ lệ người dùng internet cao, dân số trẻ và sự phát triển của xu hướng "mua sắm giải trí" - mua sắm kết hợp giải trí thông qua video ngắn và phát trực tiếp.
Trong đó, Shopee và TikTok tiếp tục giữ vị trí dẫn đầu trong nhóm 10 nền tảng thương mại điện tử B2C lớn nhất tại Việt Nam.
Đại diện lãnh đạo Cục Thương mại điện tử và Kinh tế (Bộ Công thương) cũng bày tỏ quan điểm, các sàn thương mại điện tử tăng các chi phí vận hành gian hàng, quảng bá sản phẩm, logistics hoặc hiển thị sản phẩm trên nền tảng có thể tạo áp lực đáng kể đối với các nhà bán hàng, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh và các chủ thể mới tham gia thương mại điện tử.
Về nguyên tắc, việc xây dựng giá dịch vụ là quyền của doanh nghiệp theo cơ chế thị trường. Tuy nhiên, các nền tảng thương mại điện tử phải bảo đảm tuân thủ các quy định của pháp luật, cạnh tranh và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Ngoài ra, các nền tảng thương mại điện tử phải công khai, minh bạch chính sách phí, điều kiện giao dịch và các thay đổi có ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của người bán.
Ghi nhận của Thanh Niên, từ ngày 23.5, Shopee Việt Nam điều chỉnh phí cố định với nhiều nhóm sản phẩm. Trong đó, nhóm sản phẩm sức khỏe và sắc đẹp tăng thêm khoảng 3%, nâng mức phí lên 16 - 17%. Nhóm phụ kiện điện tử như cáp sạc, ốp lưng, kính cường lực… tăng khoảng 4%, lên mức 15%.
Từ sau ngày 9.5, TikTok Shop cũng tăng phí hoa hồng với ngành thời trang tăng từ 14,6% lên 16,1%; còn nhóm sản phẩm dành cho mẹ và bé tăng từ 14,5% lên 17,8%.