Theo Sở Tài chính Gia Lai, sau sắp xếp đơn vị hành chính, toàn tỉnh có 1.132 cơ sở nhà, đất dôi dư. Đến nay, địa phương đã bố trí sử dụng 573 cơ sở làm trụ sở làm việc, cơ sở hoạt động sự nghiệp, thiết chế văn hóa – thể thao và các công trình phục vụ cộng đồng. 559 cơ sở còn lại chưa được bố trí sử dụng, phần lớn là các điểm trường nhỏ lẻ sau khi học sinh được tập trung về trường trung tâm.
Tại nhiều địa phương, các cơ sở dôi dư đang được sửa chữa, cải tạo để sớm đưa vào khai thác. Ở phường Quy Nhơn, trụ sở UBND phường Trần Phú cũ tại số 219 Nguyễn Huệ đang được sửa chữa sau khi UBND tỉnh Gia Lai thu hồi và giao Văn phòng Tỉnh ủy quản lý. Trụ sở Thanh tra tỉnh Gia Lai tại số 62 Diên Hồng cũng được nâng cấp để phục vụ nhu cầu sử dụng mới.
Bên cạnh việc bố trí lại các công trình hiện hữu, Gia Lai xây dựng phương án xử lý tài sản theo từng nhóm cụ thể. Trong đó, 380 cơ sở có diện tích nhỏ, nằm xen kẽ trong khu dân cư hoặc các điểm trường không còn nhu cầu sử dụng, phù hợp quy hoạch đất ở, sẽ được giao đất theo quy định. Giải pháp này không chỉ tăng nguồn thu ngân sách mà còn tạo thêm nguồn lực cho đầu tư hạ tầng.
Đối với 44 cơ sở có diện tích lớn, vị trí thuận lợi, địa phương dự kiến cho thuê nhằm thu hút đầu tư và khai thác hiệu quả quỹ đất công. Ngoài ra, tỉnh giữ lại 135 cơ sở tại khu vực Pleiku cũ và một số địa phương khác để hình thành quỹ dự trữ phục vụ nhu cầu phát triển trong tương lai.
Cấp thiết xử lý trụ sở dôi dư, Chủ tịch UBND tỉnh Gia Lai Phạm Anh Tuấn yêu cầu các sở, ngành, địa phương rà soát toàn diện tài sản công; xử lý dứt điểm các cơ sở sử dụng kém hiệu quả hoặc bỏ trống; đồng thời xây dựng phương án khai thác tài sản dôi dư theo tiến độ cụ thể, ưu tiên phục vụ phát triển kinh tế – xã hội.
Tại Đắk Lắk, sau khi thực hiện mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, toàn bộ cơ sở nhà, đất dôi dư đã được UBND tỉnh chuyển giao cho các đơn vị có chức năng quản lý, xử lý, gồm Trung tâm Phát triển quỹ đất tỉnh và UBND các xã, phường.
Tuy nhiên, quá trình triển khai vẫn gặp nhiều khó khăn. Đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý tài sản công ở cơ sở còn thiếu kinh nghiệm, chuyên môn nên lúng túng trong việc tiếp nhận và xử lý tài sản được bàn giao. Nhiều hồ sơ quản lý tài sản cũng chưa đầy đủ, thiếu thông tin về thời điểm đưa vào sử dụng, nguyên giá, giá trị còn lại hoặc biên bản bàn giao chưa hoàn chỉnh. Một số địa phương tiếp nhận và xử lý tài sản chậm hơn quy định.
Ghi nhận thực tế cho thấy không ít công trình đang xuống cấp do chưa được khai thác. Tại số 262 Phan Chu Trinh, phường Buôn Ma Thuột, trụ sở Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản (cũ) có diện tích hơn 2.400 m² hiện trong tình trạng cỏ dại mọc um tùm, nhiều mảng tường bong tróc. Khu vực phía trước còn bị lấn chiếm để buôn bán. Khu đất này từng được UBND tỉnh phê duyệt giá khởi điểm hơn 67 tỉ đồng để đấu giá vào năm 2020. Tuy nhiên đến nay việc đấu giá vẫn chưa thực hiện được, khiến công trình nhiều năm không sử dụng và tiếp tục xuống cấp.
Để tránh lãng phí tài sản công, thời gian qua Sở Tài chính Đắk Lắk đã quản lý hồ sơ pháp lý, thường xuyên kiểm tra hiện trạng, phối hợp với chính quyền địa phương và các đơn vị liên quan trong công tác quản lý, bảo vệ tài sản. UBND tỉnh Đắk Lắk cũng ban hành nhiều văn bản hướng dẫn quản lý, khai thác nhà, đất là tài sản công dôi dư chuyển giao về cấp xã; đồng thời thành lập tổ công tác đôn đốc, tháo gỡ khó khăn và đẩy nhanh tiến độ xử lý.
Đến nay, toàn tỉnh đã có 726 cơ sở nhà, đất được chuyển giao cho địa phương quản lý, khai thác. Trong đó, 115 cơ sở được giao Trung tâm Phát triển quỹ đất quản lý, khai thác; 611 cơ sở giao cho UBND các xã, phường quản lý, xử lý. Hiện Sở Tài chính tiếp tục đôn đốc các địa phương khẩn trương hoàn thành việc xử lý tài sản dôi dư, xác định rõ đơn vị chịu trách nhiệm quản lý, khai thác và xây dựng phương án sử dụng phù hợp.
Thực tế tại Gia Lai và Đắk Lắk cho thấy hướng đi chung hiện nay là ưu tiên đưa tài sản công dôi dư vào sử dụng, cho thuê, giao đất hoặc tạo quỹ dự trữ phát triển. Việc xử lý kịp thời không chỉ tránh thất thoát, lãng phí tài sản nhà nước mà còn góp phần tạo thêm nguồn lực cho đầu tư hạ tầng, phát triển kinh tế – xã hội tại địa phương.
Những chỉ đạo của ông Trần Lưu Quang, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy TP.HCM tại Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố (mở rộng) vừa qua về yêu cầu đổi mới tư duy, đổi mới cách làm và đánh giá cán bộ bằng kết quả thực chất thông qua hệ thống chỉ số đánh giá hiệu suất (KPI) đã truyền đi một thông điệp mạnh mẽ: muốn tạo cú hích phát triển thành phố phải bắt đầu từ mắt xích cốt lõi - đội ngũ cán bộ.
Thông điệp ấy càng có ý nghĩa then chốt khi TP.HCM đang bước vào giai đoạn phát triển mới. Việc triển khai mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, thực hiện sắp xếp đơn vị hành chính và mở rộng không gian phát triển nhằm hướng tới góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, cũng như Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ thành phố lần thứ I (nhiệm kỳ 2025 - 2030), đang đặt ra những yêu cầu ngày càng cao và cụ thể hơn đối với chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức.
Bộ máy mới chỉ có thể vận hành trơn tru khi mỗi mắt xích con người đủ năng lực thực thi, đủ bản lĩnh đổi mới và đủ tinh thần trách nhiệm phục vụ nhân dân.
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: "Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội thì trước hết cần có những con người xã hội chủ nghĩa"; đồng thời căn dặn: "Muôn việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hoặc kém".
Những tư tưởng ấy đến nay vẫn giữ nguyên giá trị lý luận và thực tiễn, bởi mọi chủ trương dù đúng đắn đến đâu cũng phải được hiện thực hóa thông qua hành động của đội ngũ cán bộ.
Cơ chế có thể đột phá, mô hình tổ chức có thể tinh gọn, nhưng con người vẫn luôn là nhân tố quyết định.
Trong bối cảnh hiện nay, khi nền quản trị công chuyển dịch mạnh mẽ từ quản lý theo quy trình sang quản trị theo kết quả đầu ra, việc xây dựng đội ngũ cán bộ cần được tiếp cận toàn diện hơn.
Vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tế địa phương, có thể định hình 4 yêu cầu cơ bản đối với người cán bộ: tâm lực, trí lực, thể lực và năng lực.
Nếu các mục tiêu chiến lược của thành phố là đích đến thì hệ thống KPI là thước đo công bằng trong quản trị. Tuy nhiên, KPI chỉ là công cụ phản ánh kết quả; điều làm nên kết quả đó vẫn phải là con người.
Muốn có những chỉ số phát triển rực rỡ, trước hết phải có những cán bộ dám nghĩ, biết làm. Việc chăm lo xây dựng đồng bộ cả tâm lực, trí lực, thể lực và năng lực sẽ giúp việc đánh giá bằng KPI không còn là áp lực hành chính thuần túy, mà thực sự trở thành động lực tự thân, khuyến khích tinh thần đổi mới của cán bộ.
Trong bộ máy hành chính hiện đại, hiệu quả của mỗi cá nhân sẽ cộng hưởng trực tiếp vào chỉ tiêu phát triển chung của từng cơ quan, của ngành và toàn thành phố. Khi trách nhiệm cá nhân được gắn chặt với mục tiêu chiến lược, khi kết quả thực thi công vụ được sòng phẳng đánh giá công khai, minh bạch và công bằng, mỗi cán bộ sẽ nhìn thấy rõ nét giá trị đóng góp của mình vào dòng chảy phát triển chung của địa phương.
Đổi mới phương thức quản trị phải bắt đầu từ việc mài giũa đội ngũ con người. Đó không chỉ là sự kế thừa khoa học tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác cán bộ mà còn là đòi hỏi khách quan để TP.HCM hiện thực hóa khát vọng phát triển nhanh, bền vững, văn minh, hiện đại và nghĩa tình trong kỷ nguyên mới.
Đội ngũ cán bộ hội tụ đủ tâm lực, trí lực, thể lực và năng lực chính là điểm tựa vững chắc nhất, góp phần quyết định vào việc thực hiện thắng lợi các mục tiêu chiến lược mà Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ thành phố lần thứ I đã đề ra, thúc đẩy thành phố phát triển bứt phá mạnh mẽ.
Luật mở rộng nhóm được trợ giúp pháp lý, trong đó người lao động có thu nhập thấp khi là người bị buộc tội hoặc bị hại trong vụ án hình sự sẽ được hỗ trợ nhằm bảo đảm tốt hơn quyền lợi trong tố tụng. Chính phủ cho biết quy định này giúp tăng khả năng tiếp cận công lý cho nhóm yếu thế.
Bên cạnh đó, luật cơ bản giữ nguyên các nhóm đã được trợ giúp pháp lý theo quy định hiện hành, nhưng cụ thể hóa hơn. Đó là: người có công với cách mạng; thân nhân liệt sĩ và người có công nuôi liệt sĩ; người thuộc hộ nghèo, cận nghèo; người nhiễm chất độc da cam; người khuyết tật; trẻ em; người dân tộc thiểu số ở vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; người dân tộc thiểu số rất ít người; người cao tuổi, người bị bạo lực gia đình, người nhiễm HIV đang hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng.
Người gặp khó khăn đột xuất do thiên tai, hỏa hoạn cũng được trợ giúp pháp lý trong các vụ việc liên quan trực tiếp đến việc khắc phục hậu quả. Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi trong nhiều vai trò như bị tố giác, bị kiến nghị khởi tố, bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, bị buộc tội, bị hại, người làm chứng, người chấp hành biện pháp xử lý chuyển hướng hoặc phạm nhân theo Luật Tư pháp người chưa thành niên đều thuộc diện được trợ giúp.
Ngoài ra, nạn nhân và người đang trong quá trình xác định là nạn nhân của hành vi mua bán người, người dưới 18 tuổi đi cùng; cá nhân bị thiệt hại nhưng không thuê người bảo vệ quyền lợi theo Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước; người nước ngoài theo điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên cũng được trợ giúp pháp lý.
Chính phủ cho biết việc xác định đối tượng được trợ giúp pháp lý dựa trên các chính sách xã hội như giảm nghèo, ưu đãi người có công, chính sách dân tộc và điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước. Luật quy định rõ tiêu chí, điều kiện áp dụng với từng nhóm để bảo đảm minh bạch, khả thi.
Theo luật, Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước có thể thành lập chi nhánh là đơn vị phụ thuộc. Trung tâm chịu trách nhiệm toàn bộ hoạt động của chi nhánh. Căn cứ nhu cầu và điều kiện thực tế, Chủ tịch UBND cấp tỉnh quyết định việc thành lập chi nhánh.
Chính phủ quy định chi tiết về tổ chức, hoạt động của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước và các chi nhánh, cũng như trình tự, thủ tục thành lập, sáp nhập hoặc giải thể.
Luật cũng quy định tiêu chuẩn trợ giúp viên pháp lý, gồm có phẩm chất đạo đức tốt; trình độ cử nhân luật trở lên; đã được đào tạo nghề luật sư hoặc thuộc diện được miễn đào tạo; đã qua thời gian tập sự hành nghề luật sư hoặc tập sự trợ giúp pháp lý; bảo đảm sức khỏe.
Chủ tịch UBND cấp tỉnh có thẩm quyền bổ nhiệm, cấp thẻ, miễn nhiệm và thu hồi thẻ trợ giúp viên pháp lý.
Ngày 7.7, Văn phòng UBND tỉnh Khánh Hòa cho biết đến nay toàn tỉnh đã cắt giảm thời gian giải quyết đối với 1.127/1.889 thủ tục hành chính (TTHC) thuộc các sở, ngành, đơn vị, đạt tỷ lệ trên 59%. Mức cắt giảm phổ biến từ 10% đến 50% thời gian so với quy định, nhiều lĩnh vực giảm sâu hơn.
Theo tổng hợp của Văn phòng UBND tỉnh, 14 sở, ban, đơn vị đã tham mưu UBND tỉnh ban hành 32 quyết định phê duyệt phương án cắt giảm thời gian giải quyết TTHC thuộc lĩnh vực quản lý, áp dụng ở cả cấp tỉnh và cấp xã.
Trong đó, Sở Xây dựng là đơn vị có tỷ lệ cắt giảm cao nhất với 158/210 TTHC, đạt 75,2%. Ban Quản lý khu kinh tế và khu công nghiệp cắt giảm 29/43 TTHC, đạt 67,44%, với mức giảm từ trên 10% đến 84,4%, trung bình 40,1%.
Sở Tài chính cắt giảm 72/114 TTHC, đạt 63,2%; đáng chú ý, nhóm 20 TTHC lĩnh vực đầu tư tại Việt Nam được rút ngắn từ 32 ngày làm việc xuống còn 17 ngày làm việc, tương ứng giảm 47% thời gian giải quyết.
Nhiều đơn vị khác cũng đạt tỷ lệ cắt giảm cao như Sở Công thương 139/220 TTHC (63,18%), Sở Nông nghiệp và Môi trường 196/313 TTHC (62,8%), Sở Giáo dục và Đào tạo 69/112 TTHC (61,6%), Sở Y tế 77/133 TTHC (57,9%), Sở Tư pháp 120/214 TTHC (56,07%, thời gian giải quyết giảm từ 13% đến 74%).
Các đơn vị còn lại như Sở Khoa học và Công nghệ, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Sở Nội vụ, Thanh tra tỉnh, Văn phòng UBND tỉnh đều đạt tỷ lệ cắt giảm từ 50% trở lên.
Thời gian tới, các sở, ngành tiếp tục rà soát, đề xuất phương án đơn giản hóa, cắt giảm TTHC, tập trung vào các lĩnh vực người dân và doanh nghiệp quan tâm như đầu tư, xây dựng, đất đai, tài nguyên và môi trường.
Việc cắt giảm, đơn giản hóa TTHC được tỉnh Khánh Hòa xác định là giải pháp quan trọng nhằm cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, nhất là sau khi vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp.