Chính phủ vừa ban hành Nghị quyết 169 về mục tiêu tăng trưởng của các địa phương năm 2026 và giai đoạn 2026 – 2030.
Mục tiêu phấn đấu tăng trưởng 2 con số gắn với giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô đã được Đại hội 14 và Hội nghị Trung ương 2, khóa 14 xác định là nhiệm vụ chính trị trọng tâm trong giai đoạn 2026 – 2030, khẳng định khát vọng vươn lên của cả dân tộc.
Năm 2026 có ý nghĩa quan trọng, khởi đầu cho giai đoạn phát triển mới của đất nước, trong khi tình hình thế giới tiếp tục biến động rất nhanh, mạnh, khó lường, ảnh hưởng đến việc thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội của nước ta.
Nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu phấn đấu tăng trưởng 2 con số trong năm 2026 và giai đoạn 2026 – 2030, bảo đảm tăng trưởng kinh tế cao, bền vững, thực chất, Chính phủ yêu cầu Chủ tịch các tỉnh, thành theo dõi sát, nắm chắc diễn biến tình hình tăng trưởng trên địa bàn, phối hợp chặt chẽ, thực hiện đồng bộ, toàn diện, hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp đề ra trên các lĩnh vực.
Theo Nghị quyết này, Hải Phòng là địa phương được giao mức tăng trưởng GRDP cao nhất cả nước, với mục tiêu đạt 13% và phấn đấu đạt 14%. Tiếp đó là Quảng Ninh, Phú Thọ, Khánh Hòa, Nghệ An… được giao ở mức 11-12%, còn Hà Nội được giao mức 11%, Tp.HCM là 10,25%.
Đáng chú ý, 2 địa phương được giao mức tăng trưởng GRDP dưới 2 con số là Sơn La (8-8,5%) và Đồng Tháp (9%).
Để đảm bảo mục tiêu tăng trưởng 2 con số của cả nước, tại Nghị quyết, Chính phủ yêu cầu các địa phương đầu tàu kinh tế phát huy hơn nữa vai trò dẫn dắt, lan tỏa, phấn đấu đạt và vượt chỉ tiêu được giao, đóng góp nhiều hơn vào thu ngân sách nhà nước, tăng trưởng kinh tế chung của cả nước.
Các địa phương có tốc độ tăng trưởng đạt và vượt kịch bản đề ra thì tiếp tục phấn đấu đạt mức cao hơn.
Với các địa phương có tốc độ tăng trưởng thấp hơn kịch bản đề ra hoặc thấp hơn mức bình quân chung của cả nước, Chính phủ yêu cầu khẩn trương rà soát, cập nhật kịch bản; đánh giá các nguyên nhân khách quan và chủ quan, nhận diện đầy đủ các điểm nghẽn, tồn tại, hạn chế để xây dựng các nhiệm vụ, giải pháp đột phá, khả thi để đảm bảo hoàn thành các mục tiêu đã đề ra.
Cùng với đó, các địa phương tổ chức nghiên cứu, rà soát các nguồn lực, động lực, năng lực mới cho tăng trưởng và giải pháp thực hiện, báo cáo Hội đồng nhân dân cùng cấp trong tháng 6/2026 để giao bổ sung mục tiêu tăng trưởng của địa phương năm 2026 và giai đoạn 2026 – 2030 theo Nghị quyết này và điều chỉnh trong trường hợp Hội đồng nhân dân đã quyết nghị mục tiêu thấp hơn mục tiêu tại Nghị quyết này.
Chính phủ yêu cầu các cơ quan, đơn vị tiếp tục tập trung xử lý, tháo gỡ, giải quyết dứt điểm các dự án tồn đọng kéo dài liên quan đến đất đai, quy hoạch trên địa bàn, sớm đưa vào khai thác, sử dụng để thúc đẩy tăng trưởng; tiếp tục cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh, ngành nghề kinh doanh có điều kiện, tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp.
Các địa phương khẩn trương rà soát nội dung quy hoạch các tỉnh, thành phố và hoàn thành việc lập, điều chỉnh, phê duyệt các quy hoạch thuộc hệ thống quy hoạch bảo đảm đồng bộ, thống nhất với yêu cầu tăng trưởng 2 con số, phù hợp với quy hoạch 6 vùng kinh tế – xã hội.
Ngoài ra, Chính phủ yêu cầu các địa phương khẩn trương chỉ đạo quyết liệt tăng tốc, đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công, coi đây là nhiệm vụ chính trị trọng tâm, tiêu chí quan trọng đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của tập thể, cá nhân và người đứng đầu.
Từ những chuyến đi học ở nước ngoài, những ngày tự mày mò tài liệu đến 13 trạm BTS đầu tiên được dựng lên bằng chính sức người, họ đã tạo nên cuộc gọi đầu tiên và mở ra hành trình "từ 0 đến 1" của người Việt trong lĩnh vực viễn thông.
Trong lịch sử ngành viễn thông Việt Nam, có những cột mốc được ghi nhớ một cách đặc biệt - không phải vì quy mô thị trường hay số lượng thuê bao, mà vì nó mang đến một "điểm chạm vào tương lai" hoàn toàn mới. Sự ra đời của VinaPhone là một trong những cột mốc như vậy, nó đánh dấu nỗ lực của đội ngũ kỹ sư Việt Nam trong việc tự học hỏi, tiếp thu và triển khai công nghệ, đánh dấu bước chuyển lớn từ "biết sử dụng" sang "biết làm chủ".
Trước đó, sự xuất hiện của MobiFone đã tiên phong mở đường, tận dụng mô hình hợp tác kinh doanh quốc tế để nhanh chóng đưa GSM vào Việt Nam. Nhưng với VinaPhone, hành trình đó bắt đầu gần như từ con số 0. Không đội ngũ vận hành mạng GSM hoàn chỉnh, chưa có quy trình chuẩn, chưa có kinh nghiệm triển khai thực địa. Mọi thứ đều phải xây dựng đồng thời: đào tạo con người, tiếp nhận công nghệ, hình thành hệ thống khai thác, rồi từng bước triển khai hạ tầng trên thực tế.
Từ "số 0" về năng lực nội tại đến "số 1", khi mạng lưới đầu tiên được dựng lên và cuộc gọi đầu tiên được thực hiện, đội ngũ kỹ sư VinaPhone đã chứng minh người Việt có thể tự mình tiếp nhận và vận hành một mạng di động hiện đại.
Ông Hoàng Gia Bổng (nguyên Trưởng Trung tâm điện thoại di động GSM, Công ty Điện báo Hà Nội) - một trong những kỹ sư trực tiếp tham gia xây dựng hệ thống và thực hiện cuộc gọi đầu tiên của VinaPhone cách đây 30 năm nhớ lại:
Năm 1993, ông được Tổng cục trưởng Tổng cục Bưu điện Đặng Văn Thân cử sang Pháp học về mạng di động. Một năm sau, ông tiếp tục sang Đức đào tạo chuyển giao công nghệ - bước chuẩn bị trực tiếp cho việc xây dựng mạng VinaPhone.
"Khóa học đó chỉ có 5 người. Xin nhấn mạnh, cử đi đào tạo để xây dựng mạng di động cho Việt Nam mà có đúng 5 người, trong đó có 2 nữ và 3 nam. Nói thật thế này, cảm giác của chúng tôi như "con nông thôn" lên thành phố, khủng khiếp lắm!", ông cười.
Rào cản lớn nhất ban đầu là ngoại ngữ. Thời điểm đó, phần lớn cán bộ kỹ thuật ngành bưu điện không được đào tạo ngoại ngữ bài bản, chủ yếu tự học để vượt qua các kỳ kiểm tra.
Nhưng ngoại ngữ chỉ là một phần, thách thức lớn hơn là công nghệ GSM - hoàn toàn mới với Việt Nam thời điểm đó. Từ vốn kiến thức ban đầu, họ buộc phải tự nghiên cứu tài liệu, tự hệ thống hóa lại để chuẩn bị cho việc triển khai thực tế sau này.
Năm 1995, sau khi ký kết dự án, thiết bị do Siemens cung cấp được đưa sang Việt Nam. Đội ngũ kỹ sư được triệu tập trở về để bắt đầu lắp đặt mạng.
Hệ thống VinaPhone thời điểm đó gồm trung tâm chuyển mạch, trạm phát sóng và các hệ thống giám sát vận hành. Phần việc trực tiếp của kỹ sư Việt Nam là lắp đặt 13 trạm BTS đầu tiên tại Hà Nội trong giai đoạn 1 của dự án.
Phía Siemens có 3 chuyên gia, nhưng chỉ 2 người trực tiếp làm tại hiện trường. Phía Việt Nam cũng chỉ có ông Bổng và 2 cộng sự. 13 trạm BTS được triển khai tại nhiều khu vực như Đinh Tiên Hoàng, Giáp Bát, Sóc Sơn, Đông Anh (Hà Nội)… Hầu hết đều lắp đặt thủ công.
Không chỉ dùng sức người để khuân vác, vận chuyển, mà thậm chí khâu cài đặt cấu hình, kiểm tra… cũng làm thủ công, vì khi đó không có phần mềm làm việc này, ông Bổng cho biết.
Sau khi đi vào hoạt động, những khó khăn mới tiếp tục xuất hiện, từ nhân lực đến cơ chế vận hành. Nhưng mỗi vấn đề lại được giải quyết bằng cách tự tìm lời giải, dựa trên chính nền tảng "số 1" đầu tiên đã tạo dựng.
Cuộc gọi đầu tiên trên mạng VinaPhone, ông Bổng thực hiện gọi về gia đình. Âm thanh kết nối thành công là khoảnh khắc vỡ òa không chỉ của cá nhân ông mà của cả đội ngũ - khi một mạng di động do người Việt tự triển khai và vận hành đã "vượt khó" chào đời.
"Tiếp đó là những ngày "chân không chạm đất", bận bịu vô vàn. Cuối năm 1995, tôi mới ở Đức về để tiến hành lắp đặt, mà đến tháng 6.1996 đã khai trương và cung cấp dịch vụ cho khách hàng", ông Bổng nhớ lại.
Ba mươi năm đã trôi qua kể từ cuộc gọi đầu tiên ấy. Từ 13 trạm BTS dựng lên bằng sức người, VinaPhone hôm nay đã trở thành một trong những mạng di động lớn tại Việt Nam, với hạ tầng hiện đại, vùng phủ 4G toàn quốc, triển khai 5G tại nhiều địa phương và hệ sinh thái dịch vụ số phục vụ hàng chục triệu khách hàng.
Nhưng điều thay đổi quan trọng hơn cả không nằm ở quy mô mạng lưới, mà ở năng lực làm chủ công nghệ. Nếu thế hệ ông Hoàng Gia Bổng đặt những viên gạch đầu tiên cho một mạng di động do người Việt vận hành, thì các thế hệ kỹ sư hôm nay đang tiếp tục mở rộng nền tảng đó bằng hạ tầng số, công nghệ mới và các dịch vụ phục vụ chuyển đổi số quốc gia.
Theo SCB, việc mời thầu lần 2 này nằm trong lộ trình thực hiện xử lý các tài sản bảo đảm tại các bản án, nhằm tạo điều kiện tối đa để các đơn vị tư vấn có năng lực hoàn thiện phương án tối ưu, đảm bảo quyền lợi cao nhất cho SCB và các bên liên quan.
Với tính chất đặc thù và tầm quan trọng của việc thi hành các bản án, SCB đang đẩy mạnh tìm kiếm các đơn vị tư vấn chuyên nghiệp để xây dựng lộ trình xử lý tài sản bảo đảm một cách hiệu quả nhất. Việc lựa chọn nhà thầu đối tác tư vấn xây dựng hồ sơ mời thầu là bước đi cẩn trọng để bảo vệ tối đa quyền lợi của Ngân hàng và các bên liên quan.
Trong đợt xử lý đầu tiên này, SCB đã hoàn thiện đầy đủ cơ sở pháp lý cho 8 mã tài sản (tương ứng 12 tài sản bảo đảm) để sẵn sàng thực hiện các thủ tục định giá, đấu giá. Danh mục bao gồm bất động sản giá trị cao, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất; hệ thống động sản gồm phương tiện vận tải, máy móc, thiết bị phục vụ sản xuất kinh doanh; hàng hóa tiêu dùng và kho bãi với hơn 8.500 sản phẩm thời trang (quần áo, túi xách, phụ kiện... của Công Ty cổ phần Sài Gòn Galleria) và hơn 370.859 chi tiết hàng tồn kho khác thuộc sở hữu của Công ty cổ phần EURASIA CONCEPT...
Việc đồng bộ công nghệ nhằm bảo đảm khả năng kết nối, vận hành liên thông của toàn hành lang vận tải. Bộ Xây dựng thống nhất về nguyên tắc lựa chọn hệ thống quy chuẩn kỹ thuật và tiêu chuẩn chủ yếu áp dụng cho metro Thủ Thiêm - Long Thành theo hướng kế thừa danh mục quy chuẩn kỹ thuật và tiêu chuẩn đã áp dụng đối với các dự án trên tuyến đường sắt đô thị số 2.
Phương án này sẽ bảo đảm tính đồng bộ, khả năng kết nối, vận hành liên thông, thuận lợi trong khai thác, bảo trì, đào tạo nguồn nhân lực và từng bước phát triển công nghiệp đường sắt trong nước.
Như vậy, đoàn tàu metro có thể chạy liên thông khoảng 66 km từ Tham Lương tới sân bay Long Thành.
Cũng theo Bộ Xây dựng, trong thời gian qua, thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Xây dựng đã chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương nghiên cứu, xây dựng định hướng áp dụng hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật đường sắt đô thị trên phạm vi cả nước.
Đồng thời, báo cáo Thủ tướng Chính phủ về bộ thông số kỹ thuật cơ bản dùng chung, danh mục quy chuẩn kỹ thuật và danh mục tiêu chuẩn chủ yếu áp dụng cho đường sắt đô thị nhằm bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ, hiện đại, tạo điều kiện kết nối, phát triển công nghiệp đường sắt trong nước và từng bước nâng cao năng lực tự chủ công nghệ.
Trên cơ sở định hướng nêu trên, Bộ Xây dựng đề nghị UBND TP.HCM chỉ đạo chủ đầu tư, tư vấn nghiên cứu, tiếp thu đầy đủ ý kiến của các cơ quan, đơn vị; tiếp tục rà soát, hoàn thiện danh mục quy chuẩn kỹ thuật và tiêu chuẩn áp dụng cho dự án, trình UBND TP phê duyệt.
Quy chuẩn kỹ thuật và tiêp chuẩn cần đảm bảo tính tương thích, đồng bộ; ưu tiên áp dụng các tiêu chuẩn hiện đại, tiên tiến, phù hợp xu thế phát triển khoa học và công nghệ; bảo đảm khả năng phát triển, nâng cấp, kết nối và vận hành an toàn, ổn định.
Bộ lưu ý tránh sử dụng công nghệ, tiêu chuẩn lạc hậu, hạn chế sự tham gia của doanh nghiệp và không làm tăng mức độ phức tạp trong vận hành toàn mạng lưới.
Tuyến đường sắt đô thị Thủ Thiêm - Long Thành dài khoảng 47,7 km dự kiến sẽ khởi công vào dịp 2.9 tới.