Tại Tokyo, giá đất ở đã tăng mạnh và thị trường nhà ở vẫn duy trì sức nóng. Kể từ đầu thập niên 2020, khoảng cách về giá nhà giữa các khu vực đô thị lớn như Tokyo, Osaka và các địa phương đã nới rộng đáng kể.
Tuy nhiên Nhật Bản hiện nay không lặp lại tình trạng bong bóng tài sản hồi cuối thập niên 1980. Vấn đề đặt ra đối với các nhà hoạch định chính sách vì thế phức tạp hơn: Làm thế nào để ngăn một đợt tăng nóng bất động sản mang tính cục bộ tại các đô thị lớn phát triển thành rủi ro tài chính vĩ mô trên diện rộng, trong khi vẫn bảo đảm khả năng chi trả nhà ở?
Sự gia tăng giá đất và giá nhà ở phản ánh sự kết hợp giữa những lực đẩy mạnh mẽ từ cả phía cung lẫn phía cầu. Nhu cầu vẫn ở mức cao do dòng người tiếp tục đổ về các đô thị lớn, sự quan tâm của nhà đầu tư nước ngoài hỗ trợ hoạt động thị trường, trong khi tiền lương tăng giúp cải thiện sức mua của các hộ gia đình.
Cùng lúc đó nguồn cung nhà ở không theo kịp nhu cầu do ngành xây dựng thiếu lao động. Áp lực giá từ chi phí vật liệu gia tăng có thể trở nên rõ nét hơn khi giá năng lượng và các yếu tố đầu vào tăng sau khi căng thẳng tại Trung Đông leo thang.
Điều đáng chú ý là trên phạm vi cả nước, hiện có rất ít dấu hiệu cho thấy tình trạng căng thẳng tài chính đang diễn ra trên diện rộng.
Chất lượng tín dụng vẫn lành mạnh, rủi ro trả nợ của các hộ gia đình nhìn chung trong tầm kiểm soát, còn tỷ lệ giá nhà trên thu nhập của cả nước nhìn chung tương đương mức trung bình của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD).
Trong khi đó tình trạng suy giảm dân số ngoài các đô thị lớn có thể tiếp tục kìm hãm nhu cầu chung về nhà ở trên toàn quốc.
Việc không tồn tại bong bóng trên phạm vi toàn quốc không có nghĩa là không tồn tại rủi ro chính sách. Giá nhà tăng mạnh tại các đô thị lớn vẫn có thể dần tạo ra những điểm dễ tổn thương đối với hệ thống tài chính vĩ mô.
Nếu giá nhà tăng không dựa trên các nền tảng kinh tế cơ bản, điều này có thể dẫn tới tình trạng các hộ gia đình vay nợ quá mức và tín dụng tăng trưởng quá nóng. Xu hướng này cũng có thể làm gia tăng tình trạng rủi ro bất động sản tập trung theo địa lý tại các tổ chức tài chính.
Giá nhà tăng nhanh hơn thu nhập tại các đô thị lớn còn có thể làm trầm trọng thêm vấn đề khả năng chi trả. Tại những thành phố như Tokyo, các hộ gia đình có mức thu nhập trung bình ngày càng gặp nhiều rào cản hơn trong việc sở hữu nhà.
Một số nền kinh tế phát triển đã áp dụng các biện pháp có mục tiêu và phân hóa để kiểm soát rủi ro trên thị trường nhà ở.
Singapore, Hàn Quốc và Canada đã kết hợp các công cụ an toàn vĩ mô, chính sách tài khóa và biện pháp tăng nguồn cung nhà ở nhằm hạn chế đầu cơ quá mức, đồng thời duy trì sự ổn định và khả năng chi trả của toàn thị trường, qua đó cho thấy hiệu quả của việc phối hợp nhiều công cụ chính sách cùng lúc, không chỉ nhằm hạn chế rủi ro tài chính vĩ mô mà còn bảo vệ khả năng chi trả nhà ở.
Singapore đã nhiều lần triển khai các biện pháp hạ nhiệt thị trường bất động sản theo hướng tuần tự và từng bước trong nhiều năm. Các biện pháp này bao gồm siết chặt tỷ lệ cho vay trên giá trị tài sản, quy định về khả năng trả nợ và áp dụng thuế trước bạ bổ sung nhắm vào giao dịch đầu cơ và người mua nước ngoài.
Hàn Quốc cũng áp dụng các biện pháp khác nhau tùy theo mức độ tăng nóng tại từng khu vực, đặc biệt là ở Seoul, đồng thời thiết lập các nhóm công tác liên ngành có cơ cấu rõ ràng để phối hợp chính sách và chia sẻ thông tin.
Trong khi đó Canada áp thuế cao hơn đối với người mua nước ngoài tại những tỉnh chịu áp lực nhà ở lớn hơn, với cơ chế phối hợp liên ngành tương đối linh hoạt thông qua các cuộc họp định kỳ.
Nhật Bản không nhất thiết phải sao chép toàn bộ các chính sách này. Đặc điểm dân số và cấu trúc thị trường nhà ở của nước này có những nét riêng. Tình trạng suy giảm dân số tại các địa phương diễn ra song song với dòng người tiếp tục đổ về các đô thị lớn, tạo ra sự phân hóa rất mạnh giữa các thị trường nhà ở trên toàn quốc.
Dù vậy kinh nghiệm quốc tế vẫn đem lại những bài học hữu ích cho Nhật Bản. Trước hết, chính phủ có thể thiết lập một khuôn khổ phối hợp liên ngành phù hợp giữa các cơ quan liên quan, bao gồm chính quyền trung ương và địa phương.
Cơ chế này có thể giúp nâng cao hiệu quả phối hợp, giám sát các rủi ro liên quan đến thị trường nhà ở, đánh giá khả năng chi trả và tăng cường chia sẻ thông tin giữa các cơ quan chức năng.
Việc thiết lập cơ chế thể chế như vậy cũng có thể hỗ trợ quá trình chuẩn bị các biện pháp chính sách nhất quán khi cần thiết.
Những nỗ lực gần đây của Bộ Đất đai, Hạ tầng, Giao thông và Du lịch Nhật Bản trong việc công bố kết quả khảo sát về hoạt động bán lại căn hộ chung cư trong thời gian ngắn tại các đô thị là bước đi quan trọng theo hướng này.
Tiếp đó, các nhà hoạch định chính sách nên áp dụng cách tiếp cận có mục tiêu và phân hóa rõ hơn, phản ánh đúng sự khác biệt về xu hướng dân số và thị trường nhà ở trên toàn quốc.
Dân số tăng tại các đô thị lớn trong khi suy giảm ở các địa phương đòi hỏi những giải pháp chính sách khác nhau; nếu cần can thiệp, cách tiếp cận từng bước và được điều chỉnh thận trọng sẽ giúp giảm thiểu nguy cơ gây bất ổn ngoài dự kiến cho thị trường.
Vấn đề khả năng chi trả nhà ở cũng cần được chú trọng hơn trong các chính sách. Quận Chiyoda, một trong 23 quận của Tokyo, đã đề xuất các biện pháp như hạn chế bán lại và giới hạn mua nhiều căn hộ nhằm ngăn chặn các giao dịch đầu cơ.
Chính quyền đô thị Tokyo cũng đã triển khai các sáng kiến mở rộng nguồn cung nhà ở giá phù hợp thông qua hợp tác công tư. Đây là những tín hiệu đáng khích lệ.
Cuối cùng, những thách thức về nhà ở của Nhật Bản ngày càng phản ánh rõ các hạn chế mang tính cơ cấu từ phía cung. Tình trạng thiếu lao động trong ngành xây dựng, cộng với quá trình già hóa dân số, cho thấy việc nâng cao tính linh hoạt của nguồn cung nhà ở có thể trở nên quan trọng không kém các chính sách kiểm soát cầu trong việc duy trì một thị trường bất động sản bền vững.
Trong bối cảnh những thay đổi về nhân khẩu học đang định hình lại thị trường nhà ở, mục tiêu không nên là kìm hãm sự phát triển của thị trường bất động sản tại các đô thị lớn, mà là duy trì sự ổn định và khả năng chi trả – vừa góp phần bảo đảm ổn định tài chính vĩ mô, vừa đáp ứng nhu cầu và nguyện vọng nhà ở đa dạng của người dân.
Thông tin trên được ông Lê Khắc Hiệp, Phó chủ tịch HĐQT Vingroup, nêu tại Hội nghị xúc tiến đầu tư tỉnh Lai Châu sáng 30/6. Ông nhìn nhận việc phát triển năng lượng mặt trời tại tỉnh này có nhiều dư địa, với việc tận dụng mặt nước, hồ chứa thủy điện, hạn chế áp lực sử dụng đất.
Theo ông Hiệp, Công ty cổ phần Năng lượng VinEnergo - công ty con của Vingroup - sẽ nghiên cứu tính khả thi, đề xuất các dự án điện tái tạo tại Lai Châu với tổng công suất dự kiến khoảng 1.000 MW. Các dự án gồm điện mặt trời nổi tại khu vực hồ thủy điện Sơn La, Sìn Hồ, Nậm Cuổi, với tổng vốn đầu tư khoảng 20.000 tỷ đồng.
Ngoài dự án trên, họ cũng được trao quyết định chấp thuận chủ trương đầu tư cho hai dự án điện mặt trời Bản Chát 1 và 2, cùng hệ thống pin lưu trữ (BESS), vốn đầu tư 13.000 tỷ đồng.
Theo cập nhật từ Lai Châu, tỉnh này có 16.000 ha mặt nước lòng hồ thủy điện. Mô hình điện mặt trời nổi sẽ bổ trợ cho hệ thống thủy điện hiện hữu, đồng thời mở thêm nguồn năng lượng sạch, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội.
Ngoài Vingroup, 18 doanh nghiệp khác cũng cam kết đầu tư vào Lai Châu, với số vốn 150.000 tỷ đồng. Trong đó, năng lượng là một trong những lĩnh vực thu hút đầu tư trọng điểm, với hệ thống điện mặt trời, thủy điện tích năng... Tại sự kiện, tỉnh cũng trao chứng nhận đầu tư dự án cho 18 doanh nghiệp, với tổng vốn đầu tư 27.700 tỷ đồng.
Theo TS Đậu Anh Tuấn, Phó tổng thư ký Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), điện sạch là một trong những lợi thế của tỉnh Lai Châu, trong bối cảnh nhiều địa phương còn chật vật chuyển đổi khỏi năng lượng hóa thạch. Họ là một trong 3 trung tâm thủy điện lớn nhất cả nước, với dư địa năng lượng tái tạo lên tới 16.000 MW từ điện gió, thủy điện tích năng cho đến điện mặt trời nổi trên các lòng hồ.
Phó tổng thư ký VCCI nhận định tỉnh này không còn là một điểm cuối xa xôi trên bản đồ địa lý. Họ đã chuyển mình từ thế "phên giậu" sang thế "cửa ngõ", với 265 km đường biên giới giáp Vân Nam (Trung Quốc), với cửa khẩu Ma Lù Thàng. Trong đó, cao tốc Bảo Hà - Lai Châu là tuyến huyết mạch vùng Tây Bắc, kết nối từ cao tốc Nội Bài - Lào Cai đến cửa khẩu quốc tế trên, giúp thời gian đi từ Thủ đô lên tỉnh này chỉ còn 4-5h. "Trong tư duy đầu tư, vị thế của một địa phương không nằm ở tọa độ địa lý, mà ở vai trò trong chuỗi kết nối", ông Tuấn nói.
Phó thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà nhấn mạnh Lai Châu có nhiều dư địa phát triển trong lĩnh vực như năng lượng tái tạo, du lịch, công nghiệp dược, đặc biệt là phát triển dược liệu và sâm Lai Châu. Tuy nhiên, Phó thủ tướng lưu ý tỉnh phát triển phải đi đôi với bền vững, không thu hút đầu tư bằng mọi giá, bảo đảm hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, bảo vệ môi trường và nâng cao chất lượng cuộc sống người dân.
Sáng 3/7, Cục Thống kê họp báo về tình hình kinh tế nửa đầu năm. Theo đó, GDP quý II ước tăng 8,39% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 6 tháng đầu năm, GDP tăng 8,18%, cao hơn mức tăng cùng kỳ năm ngoái (7,63%).
Khu vực công nghiệp, xây dựng và dịch vụ vẫn chiếm tỷ trọng cao nhất, là lực đỡ cho nền kinh tế.
Trong khu vực công nghiệp và xây dựng, ngành công nghiệp duy trì mức tăng trưởng tích cực nhờ các động lực tăng trưởng được củng cố, sự phục hồi đơn hàng xuất khẩu và hiệu ứng lan tỏa tích cực của đầu tư công. Giá trị tăng thêm toàn ngành 6 tháng tăng 9,86% so với cùng kỳ năm trước, đóng góp 40,35% vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm toàn nền kinh tế.
Khu vực dịch vụ, thương mại, vận tải... đạt mức tăng trưởng khá nhờ nhu cầu tiêu dùng tăng cao, lưu thông hàng hóa và đi lại của người dân sôi động, đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế. Giá trị tăng thêm khu vực này là 8,09% so với cùng kỳ năm ngoái.
Còn lại, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, ngành nông nghiệp duy trì tăng trưởng ổn định, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước, đồng thời thị trường xuất khẩu nông sản tiếp tục được mở rộng. Giá trị tăng thêm của khu vực này là 3,57% so với cùng kỳ năm trước.
Nửa đầu năm, Việt Nam ước tính nhập siêu 16,65 tỷ USD, đảo chiều so với cùng kỳ năm ngoái (xuất siêu 7,95 tỷ USD). Tổng kim ngạch thương mại đạt 549,7 tỷ USD, trong đó xuất khẩu và nhập khẩu đều tăng 21-37,3% so với cùng kỳ năm trước.
Mỹ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch đạt 86,5 tỷ USD. Còn Trung Quốc là quốc gia mua hàng Việt nhiều nhất, đạt 115,2 tỷ USD trong 6 tháng.
Có khoảng 169.800 doanh nghiệp thành lập mới, quay lại thị trường trong 6 tháng đầu năm, trung bình 28.300 đơn vị mỗi tháng. Bên cạnh đó, khoảng 151.100 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh và rút lui khỏi thị trường, tức bình quân 25.200 đơn vị.
Kết quả điều tra xu hướng kinh doanh của nhóm ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong quý II cũng cho thấy số doanh nghiệp lạc quan chiếm 36,3%. Số doanh nghiệp đánh giá xu hướng kinh doanh tốt hơn trong quý III dự kiến tăng lên 39,4%.
Cũng theo Cục Thống kê, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân quý II tăng 5,25% so với cùng kỳ năm ngoái. Bình quân 6 tháng đầu năm 2025, CPI tăng 4,38% so với cùng kỳ năm trước, lạm phát cơ bản tăng 4,12%.
Tuyên bố này được đưa ra trong bối cảnh Washington tranh cãi gay gắt với Madrid về chi tiêu quốc phòng và Tây Ban Nha không hỗ trợ Mỹ trong cuộc chiến với Iran, AFP cho biết
"Chúng tôi không còn muốn giao dịch thương mại với Tây Ban Nha nữa", ông Trump nói khi tới dự hội nghị thượng đỉnh NATO tại Ankara (Thổ Nhĩ Kỳ). Ông cũng gọi Madrid là "đối tác tồi tệ" trong NATO.
Hồi tháng 3, Tổng thống Mỹ cũng dọa cấm vận thương mại Tây Ban Nha, khi nước này từ chối cho quân đội Mỹ sử dụng căn cứ để tấn công Iran. "Chúng tôi sẽ cắt đứt quan hệ thương mại với Tây Ban Nha. Chúng tôi không muốn liên quan gì đến họ nữa", ông Trump cho biết khi đó.
Ông Trump nhiều lần bày tỏ sự không hài lòng với Tây Ban Nha, khi nước này vẫn chưa đồng ý với mục tiêu mới của NATO, là chi tiêu quốc phòng tương đương 5% GDP. Các lãnh đạo Tây Ban Nha cũng từ chối cho Mỹ sử dụng không phận hoặc các căn cứ trên lãnh thổ nước này trong cuộc xung đột với Iran.
Sau tuyên bố của ông Trump, Văn phòng Thủ tướng Tây Ban Nha cho biết quan hệ song phương đang mang lại lợi ích cho hai nước, cả thương mại lẫn quốc phòng. Họ nói rằng Tây Ban Nha "có mối quan hệ về xã hội, văn hóa và kinh tế tuyệt vời với Mỹ" và "không có ý định thay đổi điều đó".
Tây Ban Nha là nước xuất khẩu dầu olive lớn nhất thế giới. Họ cũng bán phụ tùng ôtô, thép và hóa chất sang Mỹ. So với nhiều quốc gia châu Âu khác, Tây Ban Nha ít tổn thương hơn trước các đe dọa trừng phạt kinh tế của ông Trump.
Năm ngoái, Mỹ ghi nhận năm thứ 4 liên tiếp có thặng dư thương mại với Tây Ban Nha, ở mức 4,8 tỷ USD. Theo dữ liệu của Cục Điều tra Dân số Mỹ, kim ngạch xuất khẩu của nước này sang quốc gia châu Âu đạt 26,1 tỷ USD và nhập khẩu là 21,3 tỷ USD. Xuất khẩu dầu thô và khí tự nhiên hóa lỏng sang Tây Ban Nha cũng tăng tốc vài năm qua.