Khi nắng tắt trên bãi biển Mỹ Khê, nhiều du khách vẫn chưa vội trở về khách sạn. Dọc Công viên Biển Đông và tuyến đường Võ Nguyên Giáp, từng nhóm người thong thả đi bộ, tìm món ăn, nghe nhạc hoặc chọn một góc sát biển để tận hưởng gió đêm. Từ nhu cầu ấy, gợi mở bài toán làm sao biến Mỹ Khê thành không gian du lịch đêm đủ hấp dẫn để giữ chân du khách.
Gia đình chị Nguyễn Thị Thùy Dương, du khách từ Hà Nội, chọn khách sạn gần biển Mỹ Khê để tiện tắm biển và đi dạo. Buổi chiều ra biển, tối tìm quán ăn rồi đi bộ dọc bờ, đó là hành trình quen của nhiều gia đình đến Đà Nẵng. Nhưng theo chị, nếu có thêm khu ẩm thực sạch sẽ, âm nhạc nhẹ và chỗ cho trẻ em chơi, cả nhà sẽ ở lại lâu hơn thay vì về khách sạn sớm.
Nhu cầu này ngày càng rõ khi du khách không còn chỉ muốn “ăn tối rồi tự do”. Họ cần một điểm đến cụ thể sau hoàng hôn, nơi có thể thư giãn, chi tiêu và cảm nhận đời sống của thành phố biển.
Thời gian qua, mô hình Beach club tại Mỹ Khê đã bắt đầu thu hút du khách. Trong không gian mở sát biển, nhiều người chọn ngồi nghe nhạc, dùng đồ uống, trò chuyện cùng bạn bè và tận hưởng gió biển sau một ngày tham quan. Điểm hấp dẫn không nằm ở sự ồn ào mà ở cảm giác được “ở lại với biển” theo cách thư giãn hơn.
Hướng dẫn viên Trần Minh Dũng chia sẻ, đây là tín hiệu cho thấy khu vực Mỹ Khê có dư địa lớn để phát triển kinh tế đêm, nhưng sản phẩm cần thêm sự phong phú để giữ chân khách lưu trú lâu hơn.
“Nếu khu biển có nhiều hoạt động được tổ chức đều đặn, văn minh, các công ty lữ hành sẽ dễ thiết kế chương trình hơn. Khách không cần di chuyển xa, vẫn có thể ăn uống, nghe nhạc, xem biểu diễn, trải nghiệm văn hóa biển ngay gần nơi lưu trú”, anh Dũng nói.
Bên cạnh đó, ông Nguyễn Đức Vũ, Trưởng ban Quản lý bán đảo Sơn Trà và các bãi biển du lịch Đà Nẵng, cho rằng lợi thế lớn nhất của thành phố là dải biển đẹp nằm sát hệ thống lưu trú và các tuyến phố du lịch. Tổ chức thêm hoạt động về đêm ở Mỹ Khê không chỉ tạo không khí cho mùa hè, mà còn giúp phân bổ dòng khách, giảm áp lực cho các điểm vui chơi trung tâm.
“Biển là tài sản chung của thành phố. Mọi hoạt động khai thác về đêm phải làm cho du khách thấy Đà Nẵng đáng đến hơn, người dân có thêm sinh kế, nhưng bãi biển vẫn sạch, đẹp và an toàn vào sáng hôm sau”, ông Vũ nói.
Trong khi đó, bà Lê Thị Hồng, tiểu thương bán hải sản chế biến gần biển Mỹ Khê, cho rằng kinh tế đêm với người dân ven biển bắt đầu từ những việc rất cụ thể, thêm vài bàn khách sau giờ tắm biển, thêm đơn hàng hải sản, thêm chuyến xe chở khách.
Theo bà, để giữ chân du khách, dịch vụ phải chỉn chu, món ăn phải ngon, giá phải rõ, rác phải dọn sạch. Khách đến một lần thấy vui thì họ mới quay lại, mới giới thiệu cho người khác.
Bà Nguyễn Thị Hoài An, Phó Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Đà Nẵng, cho rằng kỳ vọng của du khách ngày càng cao và thay đổi nhanh. Khi mạng xã hội phát triển, chỉ một trải nghiệm chưa tốt cũng có thể lan truyền, ảnh hưởng đến uy tín điểm đến.
Vì vậy, theo bà An, phát triển kinh tế đêm không chỉ là mở thêm dịch vụ hay kéo dài thời gian vui chơi, mà phải đi cùng chất lượng phục vụ, vệ sinh môi trường, sự an toàn và tính chuyên nghiệp. “Du lịch là ngành của cảm xúc và trải nghiệm. Mỗi doanh nghiệp, mỗi người lao động trong ngành chính là một đại sứ thương hiệu của Đà Nẵng”, bà nói.
Bà cho biết thêm, trong 4 tháng đầu năm 2026, Đà Nẵng đón hơn 5,98 triệu lượt khách lưu trú, tăng gần 19% so với cùng kỳ; trong đó khách quốc tế đạt hơn 3,39 triệu lượt, tăng hơn 32%. Doanh thu lưu trú, ăn uống và lữ hành vượt 20.000 tỷ đồng.
Đây là nền tảng để thành phố tiếp tục làm mới sản phẩm du lịch qua Lễ hội pháo hoa quốc tế, Liên hoan phim châu Á, Lễ hội Tận hưởng Đà Nẵng cùng các sự kiện thể thao, văn hóa trong mùa hè.
Liên quan vấn đề này, ông Hoàng Công Thanh, Chủ tịch UBND phường An Hải, cho biết địa phương đang tìm cách làm dày thêm các sản phẩm du lịch về đêm bên biển Mỹ Khê. Trong đó, An Hải Festival 2026, dự kiến diễn ra từ ngày 6 đến 14/6 tại Công viên Biển Đông và bãi cát Mỹ Khê – An Hải, là một điểm nhấn.
Sự kiện tích hợp nhiều hoạt động như ẩm thực – OCOP, acoustic, DJ, điện ảnh bãi biển, thể thao và trình diễn nghệ thuật chèo thúng. Theo ông Thanh, lễ hội không chỉ là hoạt động riêng của địa phương, mà nằm trong xu hướng đưa trải nghiệm du lịch đến gần hơn với du khách lưu trú quanh Mỹ Khê.
Với thông điệp “Gom sóng nhỏ, thành đại dương”, lễ hội hướng đến huy động sự tham gia của người dân, doanh nghiệp và các hộ kinh doanh.
Mỗi gian hàng, hoạt động, người dân tham gia được xem như một “ngọn sóng nhỏ”, góp phần tạo nên không gian trải nghiệm chung cho khu vực biển.
Từ sông Hàn ra biển Mỹ Khê, Đà Nẵng đang từng bước nối dài không gian du lịch sau hoàng hôn. Ban ngày, Mỹ Khê đã giữ chân du khách bằng nắng, gió và sóng biển.
Những ngày này, trên các cánh đồng hành, tỏi ở đặc khu Lý Sơn, không khí sản xuất trở nên khẩn trương. Dưới nắng gắt, người dân tất bật kéo ống, vận hành máy bơm, tận dụng từng mạch nước ngầm để cứu cây trồng.
Gia đình ông Lê Thanh Tiễn (thôn Đông An Vĩnh) vừa xuống giống vụ hành mới trên hơn 5 sào sau khi thu hoạch tỏi cuối tháng 3. Tuy nhiên, nắng nóng kéo dài khiến nguồn nước tưới khan hiếm, ảnh hưởng trực tiếp đến sinh trưởng của cây.
Khu vực sản xuất của gia đình ông Tiễn nằm gần giếng Ông Lý - một trong những nguồn nước ngầm lớn trên đảo. Đây cũng là điểm nhiều hộ dân cùng khai thác.
"Dù giếng chưa cạn nhưng vào cao điểm, áp lực rất lớn. Có hộ phải kéo ống dài hàng trăm mét, thậm chí cả cây số để dẫn nước về ruộng, nên việc sử dụng phải tiết kiệm tối đa", ông Tiễn nói.
Không riêng gia đình ông Tiễn, nhiều nông dân trên đảo cũng phải "liệu cơm gắp mắm". Một số hộ chủ động giảm diện tích, chuyển sang cây trồng ít nước hơn để giảm áp lực lên nguồn nước ngầm.
Bên cạnh đó, người dân vẫn duy trì giải pháp phủ cát trắng trên ruộng – vừa giữ ẩm, giảm nhiệt cho đất, vừa giúp tiết kiệm nước tưới.
Ông Nguyễn Thành Dũng (thôn Đông An Vĩnh) cho biết, gia đình ông canh tác hơn 1 ha hành, tỏi nhưng phải chia nhỏ diện tích, ưu tiên vùng có điều kiện tưới tốt.
"Mỗi lần tưới chỉ khoảng 20 phút, luân phiên giữa các ruộng, chủ yếu vào sáng sớm hoặc buổi tối để hạn chế thất thoát nước", ông Dũng chia sẻ.
Theo thống kê, diện tích cây màu, rau, quả ở Lý Sơn khoảng hơn 300 ha. Toàn đảo hiện có hồ chứa nước Thới Lới, hai công trình cấp nước tập trung và hơn 2.000 giếng, trong đó gần một nửa là giếng đào.
Việc khai thác nước ngầm kéo dài khiến nhiều khu vực bị suy giảm trữ lượng, thậm chí xâm nhập mặn. Từ năm 2016, tỉnh Quảng Ngãi đã cấm đào, khoan giếng mới để bảo vệ nguồn nước.
Không chỉ thiếu nước tưới, người dân còn gặp khó về nước sinh hoạt. "Làm nông còn có thể xoay xở, nhưng nước sinh hoạt thì không thể thiếu. Hồ Thới Lới nên ưu tiên phục vụ dân sinh thay vì tưới tiêu", ông Dũng đề xuất.
Trước thực trạng này, người dân và chính quyền địa phương đã triển khai nhiều giải pháp. Tại đảo Bé, các hộ dân chủ động xây bể ngầm trữ nước mưa; đồng thời tăng cường sử dụng bể chứa tập trung để tích trữ nước từ sớm.
Ông Nguyễn Văn Huy, Chủ tịch UBND đặc khu Lý Sơn, cho biết, địa phương đang xây dựng thêm hai bể chứa nước mưa quy mô lớn, dự kiến hoàn thành trong năm 2026. Bên cạnh đó, dự án hệ thống bể chứa nước mưa với tổng vốn khoảng 75 tỷ đồng cũng đang được tái khởi động.
"Về lâu dài, Lý Sơn sẽ đầu tư nhà máy khử nước biển thành nước ngọt theo quy hoạch phát triển du lịch. Đây là giải pháp căn cơ để đáp ứng nhu cầu nước trong tương lai", ông Huy nói.
Theo Quyết định, học sinh THCS tại các trường chất lượng cao phải đạt tối thiểu trình độ ngoại ngữ bậc B1, còn học sinh THPT đạt tối thiểu bậc B2 theo Khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc Việt Nam hoặc tương đương.
Cũng trong nhóm tiêu chí về kết quả giáo dục và cam kết chất lượng ở bậc trung học, Hà Nội yêu cầu tối thiểu 90% học sinh đạt học lực khá, tốt và ít nhất 98% học sinh đạt kết quả rèn luyện khá, tốt.
Với các chương trình bổ sung, tối thiểu 90% học sinh phải hoàn thành, trong đó ít nhất 70% hoàn thành tốt. Ngoài ra, trường chất lượng cao còn phải đảm bảo có học sinh đạt thành tích trong các kỳ thi học sinh giỏi, nghiên cứu khoa học từ cấp thành phố trở lên.
So với dự thảo trước đó, Quyết định chính thức đã "nới rộng" nhiều tiêu chí. Đáng chú ý, thành phố chấp nhận một tỷ lệ nhất định học sinh bỏ học và lưu ban ở cấp THCS, THPT, với điều kiện thấp hơn mức trung bình toàn thành phố.
Trong khi đó, bản dự thảo từng đặt ra yêu cầu chặt hơn khi không chấp nhận học sinh lưu ban, thậm chí không có học sinh xếp loại yếu trong trường chất lượng cao.
Đối với trường tiểu học chất lượng cao, thành phố quy định phải bảo đảm tối thiểu 80% học sinh đạt kết quả học tập mức khá trở lên, trong đó ít nhất 30% đạt mức tốt; tối thiểu 70% học sinh đạt kết quả tốt ở các lĩnh vực tăng cường như ngoại ngữ, tin học, kỹ năng. 100% học sinh hoàn thành chương trình tiểu học.
Quyết định cũng đặt ra hàng loạt tiêu chí mới về đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý, đồng thời khuyến khích các trường có giáo viên dạy song ngữ một số môn khoa học cơ bản.
Một điểm đáng chú ý khác là các trường chất lượng cao được tự chủ xây dựng chương trình bổ sung ngoài chương trình giáo dục phổ thông của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Nội dung bổ sung tập trung vào ngoại ngữ, STEM/STEAM, AI, robotics, kỹ năng số, nghệ thuật, hoạt động trải nghiệm, nghiên cứu khoa học và hướng nghiệp.
Tuy nhiên, quyết định nhấn mạnh chương trình bổ sung không được gây quá tải cho học sinh và phải được Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội thẩm định, phê duyệt.
Từ năm 2026, các trường chất lượng cao tuyển sinh trên phạm vi toàn thành phố, không giới hạn theo địa bàn như trước đây. Đáng chú ý, quyết định yêu cầu các trường phải công khai đầy đủ phương án tuyển sinh, chỉ tiêu, tiêu chí tuyển sinh và phương thức đánh giá trước thời điểm tuyển sinh tối thiểu 5 tháng.
Quyết định có hiệu lực kể từ ngày 7/5 và được áp dụng để đánh giá, công nhận cơ sở giáo dục chất lượng cao trên địa bàn Hà Nội từ năm học 2026-2027. Đồng thời, quyết định này thay thế hai quyết định về trường chất lượng cao được thành phố ban hành từ năm 2013.
Các trường đã được công nhận là trường chất lượng cao hiện tại sẽ tiếp tục thực hiện theo đề án cũ và có 18 tháng để hoàn thiện các tiêu chí mới. Hết thời hạn 18 tháng, các trường này sẽ làm thủ tục công nhận lại.
Đối với học sinh học tập tại nhà trường trước thời điểm trường được công nhận chất lượng cao, học sinh được quyền lựa chọn tiếp tục học chương trình giáo dục hiện hành hoặc tham gia chương trình bổ sung của trường chất lượng cao trên cơ sở tự nguyện. Mức học phí của hai chương trình là khác nhau.
Trong tiến trình hiện thực hóa mục tiêu xây dựng Tp.Huế trở thành đô thị trực thuộc Trung ương trên nền tảng di sản, văn hóa, sinh thái và thông minh, việc Tp.Huế đề xuất Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch thực hiện Đề án phát triển kinh tế - xã hội vùng đầm phá Tam Giang – Cầu Hai đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 là một bước đi có ý nghĩa chiến lược đặc biệt. Đây không chỉ là một chương trình phát triển kinh tế - xã hội đơn thuần, mà còn là sự định vị lại vai trò của một không gian địa lý – sinh thái – văn hóa độc đáo bậc nhất Việt Nam trên bản đồ phát triển quốc gia và quốc tế.
Với diện tích mặt nước rộng hơn 22.000 héc ta, lớn nhất Đông Nam Á, hệ đầm phá Tam Giang – Cầu Hai từ lâu đã được nhìn nhận như một "kho báu sinh thái" của miền Trung. Nhưng hơn thế, đó còn là một không gian văn hóa – lịch sử dày đặc, nơi thiên nhiên và con người đã cùng nhau kiến tạo nên một hệ giá trị đặc sắc qua hàng trăm năm. Hiện khu vực này có diện tích khoảng hơn 1300km2 (27% diện tích Tp.Huế), dân số trên 452.000 người, thuộc địa bàn 16/20 phường xã của Tp.Huế.
Vùng đầm phá này hiện sở hữu một hệ thống di sản và cảnh quan hết sức phong phú với 151 di tích đã được xếp hạng và kiểm kê, trong đó có 2 di tích quốc gia đặc biệt là Trấn Hải thành và chùa Thánh Duyên; 18 di tích cấp quốc gia và 36 di tích cấp thành phố. Đặc biệt, trong "Thần Kinh nhị thập cảnh" do vua Thiệu Trị tuyển chọn, một bảng xếp hạng danh thắng tiêu biểu của kinh đô Huế thế kỷ XIX, khu vực đầm phá đã có tới 3 danh thắng được vinh danh, gồm cửa biển Thuận An, đầm Hà Trung và núi Thúy Vân – chùa Thánh Duyên. Điều đó cho thấy, từ rất sớm, không gian đầm phá đã được nhìn nhận như một phần không thể tách rời của cảnh quan văn hóa Huế.
Không chỉ dừng lại ở di sản vật thể, vùng Tam Giang – Cầu Hai còn là nơi lưu giữ một kho tàng di sản phi vật thể phong phú, tiêu biểu như lễ Cầu ngư làng Thai Dương với lịch sử hơn 500 năm, một nghi lễ gắn liền với tín ngưỡng biển, phản ánh mối quan hệ sâu sắc giữa con người và đại dương. Cùng với đó là hệ thống tri thức dân gian về con nước, mùa gió, nghề cá, ẩm thực và các hình thức sinh hoạt cộng đồng đặc sắc, tất cả tạo nên một "di sản sống" hiếm có.
Chính vì vậy, cách tiếp cận phát triển vùng đầm phá không thể chỉ dừng lại ở các yếu tố kinh tế hay môi trường, mà cần đặt văn hóa vào vị trí trung tâm, như một "hệ điều hành mềm" chi phối toàn bộ quá trình phát triển.
Nhìn tổng thể, kế hoạch đã thể hiện một tầm nhìn bao quát và phù hợp với các định hướng lớn của Trung ương. Việc xác định mục tiêu xây dựng đầm phá trở thành "Công viên đầm phá Quốc gia", tiến tới khu dự trữ sinh quyển có tầm quan trọng quốc tế là một định hướng đúng đắn, thể hiện tư duy phát triển bền vững, hài hòa giữa bảo tồn và khai thác. Đặc biệt, việc lựa chọn du lịch – dịch vụ – kinh tế biển làm động lực tăng trưởng cũng phù hợp với lợi thế so sánh của vùng.
Tuy nhiên, nếu nhìn từ góc độ ngành văn hóa – thể thao, có thể thấy một khoảng trống rất cần được bổ sung: Văn hóa tuy đã được đề cập, nhưng chưa thực sự được đặt vào đúng vai trò nền tảng và động lực phát triển. Các nội dung liên quan đến văn hóa hiện vẫn phân tán trong các nhóm giải pháp về xã hội, du lịch hay môi trường, thiếu một cấu trúc tổng thể mang tính hệ thống. Nói cách khác, văn hóa mới dừng lại ở mức "thành tố hỗ trợ", chứ chưa trở thành "trục xuyên suốt" của toàn bộ đề án.
Trao đổi với PV, ông Phan Thanh Hải, Giám đốc Sở Văn hoá và Thể thao Tp.Huế cho biết, một trong những nội dung quan trọng khác là cần có một chương trình tổng thể về bảo tồn và phát huy di sản văn hóa phi vật thể của vùng. Những giá trị như lễ hội cầu ngư, tín ngưỡng thờ cá Ông, văn hóa ẩm thực đầm phá hay các nghề truyền thống gắn với mặt nước cần được tích hợp thành các sản phẩm cụ thể. Điều này không chỉ làm tăng chiều sâu văn hóa của du lịch, mà còn khiến vùng đầm phá mới có thể trở thành một không gian "đẹp và có hồn".
Theo ông Hải, cùng với đó, việc phát triển các sản phẩm văn hóa – du lịch đặc thù cần phải được quan tâm nhấn mạnh, vì đây chính là lợi thế cạnh tranh lớn nhất của vùng. Một tour trải nghiệm đời sống ngư dân, một không gian ẩm thực đầm phá với những món ngon hiếm có được nâng tầm, hay một chương trình biểu diễn thực cảnh trên mặt nước, nếu được đầu tư bài bản, hoàn toàn có thể trở thành những sản phẩm mang tính biểu tượng, góp phần định vị thương hiệu Huế trên bản đồ du lịch quốc tế.
"Quan trọng hơn cả, cần khẳng định vai trò của người dân địa phương như là chủ thể của văn hóa. Mọi chiến lược phát triển, nếu không đặt cộng đồng vào trung tâm, sẽ khó có thể bền vững. Người dân đầm phá không chỉ là đối tượng thụ hưởng, mà phải là người tham gia, sáng tạo và hưởng lợi từ quá trình phát triển.
Từ những phân tích trên, có thể thấy rằng để kế hoạch thực sự phát huy hiệu quả, cần bổ sung một cách tiếp cận mang tính hệ thống hơn về văn hóa. Trước hết, cần xây dựng một "Đề án hệ sinh thái văn hóa đầm phá Tam Giang – Cầu Hai", trong đó tiến hành bản đồ hóa toàn bộ tài nguyên di sản, từ Trấn Hải thành, tháp Chăm Phú Diên, chùa Hà Trung, chùa Thánh Duyên… cho đến các không gian lễ hội và sinh kế cộng đồng, để tạo nền tảng cho phát triển", ông Hải nhấn mạnh.
Cũng theo ông Hải, song song với đó, việc gắn kết vùng đầm phá với các chương trình lớn của Huế như Festival bốn mùa, phát triển công nghiệp văn hóa hay kinh tế đêm sẽ mở ra những không gian sáng tạo mới. Khi đó, đầm phá không chỉ là nơi "đến để ngắm", mà còn là nơi "đến để sống, để trải nghiệm và để hiểu".