Khoảng cách giữa chiến lược quốc gia và lựa chọn học đường đang đặt ra bài toán lớn về nguồn nhân lực trong tương lai.
Từ năm 2025, kỳ thi tốt nghiệp THPT được tổ chức với 4 môn thi, gồm 2 môn bắt buộc là toán và ngữ văn, cùng 2 môn tự chọn theo định hướng nghề nghiệp của học sinh (HS). Tuy nhiên, xu hướng lựa chọn môn thi giữa các địa phương có sự khác biệt đáng kể. Đáng chú ý, cơ cấu chọn môn của HS TP.HCM trong 2 năm qua cho thấy nhiều điểm ngược với xu hướng chung của cả nước.
Trên phạm vi toàn quốc, các môn khoa học xã hội (KHXH) vẫn chiếm ưu thế. Năm 2026, lịch sử đạt 46,64%, cao nhất trong các môn tự chọn, còn địa lý đạt 36,67%. Trong khi đó, các môn STEM (khoa học – công nghệ – kỹ thuật – toán học) như vật lý chỉ 31,84%, hóa học 20,75%, tin học 1,53%.
Ngược lại, TP.HCM có xu hướng nghiêng mạnh hơn về STEM và ngoại ngữ. Năm 2026, vật lý đạt 44,9% và ngoại ngữ đạt 45,82%, đều cao vượt trội so với mức trung bình cả nước. Hóa học tại TP.HCM cũng đạt 26,68%, cao hơn toàn quốc gần 6 điểm phần trăm.
Ngược lại, trong khi cả nước chọn lịch sử và địa lý rất cao thì TP.HCM thấp hơn đáng kể: lịch sử chỉ 28,77%, địa lý 24,9%. Điều này phản ánh đặc điểm của một đô thị lớn, nơi HS ưu tiên cho tuyển sinh đại học, tập trung cho các ngành nghề STEM, kinh tế và hội nhập.
Tuy nhiên, ngay cả ở TP.HCM, các môn gắn với công nghệ mới vẫn rất thấp. Tin học năm 2026 chỉ đạt 1,46%, công nghệ công nghiệp 0,19%, công nghệ nông nghiệp chỉ có 0,61% cho thấy khoảng cách lớn giữa nhân lực công nghệ với lựa chọn thực tế của HS.
Trên phạm vi toàn quốc, nhóm KHXH (sử, địa, giáo dục kinh tế và pháp luật) chiếm ưu thế áp đảo với gần 54% tổng số bài tự chọn trong cả 2 năm 2025 – 2026. Trong khi đó, nhóm KHTN-CN (lý, hóa, sinh, tin học, công nghệ công nghiệp, công nghệ nông nghiệp) chỉ khoảng 31 – 32%, còn ngoại ngữ khoảng 14 – 16%. Cơ cấu này cho thấy HS cả nước vẫn nghiêng mạnh về các môn xã hội và chiến lược “an toàn điểm thi”, trong khi các lĩnh vực STEM và ngoại ngữ chưa thu hút tương xứng với nhu cầu phát triển nguồn nhân lực của đất nước.
Ngược lại, TP.HCM có cơ cấu cân bằng hơn giữa 3 nhóm môn. Nhóm KHTN-CN đạt trên 41%, cao hơn khoảng 10 điểm phần trăm so với toàn quốc; ngoại ngữ cũng đạt 23 – 25%, cao hơn trung bình cả nước gần 10%.
Đáng chú ý, dù KHTN-CN và ngoại ngữ phát triển mạnh, TP.HCM vẫn duy trì tỷ lệ nhóm KHXH ở mức 33 – 35%, tức vẫn có một bộ phận lớn HS chọn các môn xã hội – nhân văn. Điều đó cho thấy cơ cấu lựa chọn môn học của TP.HCM không quá lệch về STEM mà tương đối hài hòa giữa khoa học, công nghệ, ngoại ngữ và nền tảng KHXH.
Nhìn tổng thể, cơ cấu môn thi của cả nước phản ánh thế mạnh xã hội – nhân văn, trong khi TP.HCM gắn với nhu cầu nhân lực của một đô thị công nghệ và dịch vụ lớn. Kết quả này đến từ quá trình lâu dài đổi mới dạy học, nâng chất lượng các môn KHTN, công nghệ, ngoại ngữ và đẩy mạnh STEM, hướng nghiệp. Như ông Nguyễn Văn Hiếu, Giám đốc Sở GD-ĐT TP.HCM, từng khẳng định, giáo dục TP.HCM không chỉ hướng đến một kỳ thi mà hướng đến đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho sự phát triển của thành phố.
Điều đáng nói là trong khi xu hướng lựa chọn của HS đang dịch chuyển theo hướng KHXH, thì định hướng phát triển quốc gia lại đi theo chiều ngược lại: tăng tốc vào công nghệ cao, AI, dữ liệu lớn, bán dẫn, vật liệu mới, sinh học lượng tử và chuyển đổi số.
Hai dòng chảy này – một từ trên xuống và một từ dưới lên – đang chưa gặp nhau ở cùng một điểm.
Một quốc gia muốn phát triển công nghệ không thể chỉ dựa vào trung tâm nghiên cứu hay các trường đại học mạnh. Nền tảng thực sự phải được xây dựng từ giáo dục phổ phổ thông, nơi hình thành tư duy khoa học, khả năng ngoại ngữ và bản lĩnh nhân văn. Ngày 10.4 vừa qua, khi thảo luận ở Quốc hội, Bộ trưởng Bộ GD-ĐT Hoàng Minh Sơn nhấn mạnh: Muốn có nhân lực chất lượng cao ở đại học và nghề nghiệp, gốc vẫn là giáo dục phổ thông.
Nếu HS ngày càng tránh xa vật lý, hóa học, sinh học, công nghệ, tin học và tiếng Anh, thì khoảng cách giữa mục tiêu quốc gia và năng lực xã hội sẽ ngày càng lớn. Đây không chỉ là câu chuyện giáo dục, mà là của nguồn nhân lực tương lai.
Vấn đề hiện nay không phải HS chọn KHXH nhiều hơn STEM, mà là làm sao tạo được sự cân bằng hợp lý giữa các nhóm môn học để đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước.
Thứ nhất, Bộ GD-ĐT cần có chiến lược điều tiết cơ cấu môn học trong chương trình Giáo dục phổ thông 2018 theo hướng hài hòa hơn giữa KHXH và KHTN-CN. Ngoài 4 môn bắt buộc là toán, ngữ văn, ngoại ngữ và lịch sử, cơ cấu lựa chọn môn học nên hướng tới khoảng 40 – 50% KHXH và 50 – 60% KHTN-CN để phù hợp định hướng nguồn nhân lực quốc gia trong tương lai.
Thứ hai, cần tiếp tục đổi mới chương trình, thi cử và tuyển sinh lớp 10 theo hướng tăng giá trị thực tiễn của STEM và ngoại ngữ, đồng thời giữ vai trò nền tảng của KHXH trong hình thành tư duy, văn hóa và trách nhiệm công dân. Môn thi thứ ba vào lớp 10 có thể có bài thi tổ hợp giữa ngoại ngữ, KHTN và KHXH để thúc đẩy giáo dục toàn diện ở THCS.
Thứ ba, các sở GD-ĐT cần đầu tư đồng đều hơn về giáo viên, phòng thí nghiệm, thực hành, ngoại ngữ và chuyển đổi số, nhất là ở nông thôn, miền núi để HS có cơ hội tiếp cận STEM công bằng hơn.
Thứ tư, các trường THCS và THPT phải tăng cường hướng nghiệp sớm, tư vấn lựa chọn môn học dựa trên năng lực và nhu cầu phát triển đất nước thay vì tâm lý “dễ học, dễ thi”. Dạy học STEM cần gắn với trải nghiệm, nghiên cứu khoa học và đổi mới sáng tạo; còn KHXH phải hiện đại, giàu tính phản biện và nhân văn hơn.
Một quốc gia muốn trở thành cường quốc khoa học công nghệ không thể chỉ dựa vào một nhóm nhỏ nhân tài STEM, nhưng cũng không thể thiếu nền tảng nhân văn. Mục tiêu của giáo dục phổ thông vì vậy không phải chọn STEM hay KHXH, mà là đào tạo thế hệ công dân vừa có năng lực khoa học công nghệ, vừa có chiều sâu văn hóa và trách nhiệm xã hội.
Rời phòng thi ở trường Đại học Công nghệ Kỹ thuật TP HCM lúc hơn 11h, Thành Công, học sinh trường THPT Bình Chiểu, lập tức tìm nhóm bạn bàn về câu hỏi niêm luật (quy tắc về thanh điệu, gieo vần) trong khổ thơ Đường.
"Em chưa từng gặp câu hỏi này nên khoanh may rủi, xác định mất điểm", Thành Công nói.
Nam sinh nói đề dài 16 trang, cấu trúc tương tự đề minh họa. 30 câu hỏi Tiếng Việt trong phần Sử dụng ngôn ngữ khiến em bất ngờ vì độ khó cao hơn nhiều so các đề từng luyện. Câu hỏi dài với ngữ liệu chủ yếu là thơ văn trung đại khiến nam sinh mất thời gian đọc.
Ngoài ra, phần Toán học thách thức vì một số câu cho nhiều ẩn để "chống" bấm máy tính. Tổng quan, em đánh giá đề thi đánh giá năng lực khó gấp rưỡi so với đề minh họa của Đại học Quốc gia TP HCM. Nam sinh ước chừng đạt hơn 700/1200 điểm, chưa an toàn nên sẽ tiếp tục thi lần hai vào cuối tháng 5.
Đồng tình, Thùy Dương, THPT Nguyễn Hữu Huân, nói câu hỏi Tiếng Việt dài và đáp án gây nhiễu, "na ná nhau". Bù lại, Dương giải quyết tốt phần Tiếng Anh và Tư duy khoa học. Nữ sinh kỳ vọng đạt 900 điểm trở lên để đăng ký xét vào Đại học Kinh tế TP HCM và trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn.
"Đề khó gấp rưỡi, đặc biệt phần Tiếng Việt, nhiều câu em không hiểu đề", Dương nói.
Anh Thư, THPT Thủ Đức, rầu rĩ vì mất nhiều thời gian cho các câu hỏi Tiếng Việt. Nữ sinh dự định dành 30 phút nhưng cuối cùng mất 45 phút vẫn không chắc chắn toàn bộ đáp án cho phần này. Điều này cũng khiến em không kịp đọc kỹ những câu cuối, ước chừng 30 câu phải khoanh đáp án một cách may rủi.
"Lẽ ra em nên phân phối thời gian hợp lý hơn", Thư tiếc nuối và cho biết sẽ dự thi đợt sau để cải thiện kết quả.
Khảo sát 10 thí sinh tại điểm trường Đại học Công nghệ Kỹ thuật TP HCM, có 8 em nhận định phần Tiếng Việt dài và khó. Đặc biệt, câu hỏi niêm luật khiến nhiều em nhăn mặt vì ít phổ biến nên không để ý trong quá trình học.
Đề thi đánh giá năng lực của Đại học Quốc gia TP HCM gồm 120 câu, thời gian làm bài 150 phút. Phần Tư duy khoa học có 30 câu gồm Logic - Phân tích số liệu và Suy luận khoa học. Phần Sử dụng ngôn ngữ gồm Tiếng Việt và Tiếng Anh với 60 câu. Cuối cùng là Toán học với 30 câu.
Câu hỏi được xây dựng theo hướng cung cấp thông tin, số liệu, dữ kiện, từ đó yêu cầu thí sinh vận dụng, xác định kết quả thực nghiệm, dự đoán quy luật...
Theo thống kê của Đại học Quốc gia TP HCM, gần 133.500 thí sinh tham gia thi đánh giá năng lực sáng 5/4, tỷ lệ 98%. Công tác coi thi đúng quy chế, chưa ghi nhận trường hợp sai sót, sự cố. Kết quả sẽ được công bố vào ngày 17/4.
Đợt hai của kỳ thi sẽ diễn ra ngày 24/5. Kết quả kỳ thi được 118 trường đại học, cao đẳng dùng để xét đầu vào. Năm ngoái, em Mai Quang Minh Trí vượt qua 152.000 thí sinh giành vị trí thủ khoa với 1.122/1200 điểm.
Chiều 6.5, Học viện Ngoại giao đã công bố thông tin tuyển sinh đại học hệ chính quy năm 2026. Trong năm học 2026 - 2027, lần đầu tiên Học viện Ngoại giao đào tạo bằng tiếng Anh một số ngành học. Tuy nhiên, chỉ sau khi thí sinh trúng tuyển thì nhà trường mới tổ chức cho sinh viên đăng ký học các chương trình đào tạo này.
Cụ thể, ngoài hệ đại trà, Học viện Ngoại giao dành khoảng 30 - 50 chỉ tiêu mỗi ngành để đào tạo bằng tiếng Anh đối với 6 ngành: quan hệ quốc tế, kinh tế quốc tế, luật quốc tế, truyền thông quốc tế, kinh doanh quốc tế và luật thương mại quốc tế.
Khi tuyển sinh, nhà trường tuyển chung theo từng ngành. Sau khi trúng tuyển, sinh viên có nguyện vọng sẽ được đăng ký xét tuyển vào học các chương trình đào tạo giảng dạy bằng tiếng Anh (tương ứng với ngành đã trúng tuyển). Căn cứ để nhà trường lựa chọn là điểm chứng chỉ tiếng Anh quốc tế hoặc chứng chỉ đánh giá năng lực quốc tế và bài phỏng vấn đầu vào bằng tiếng Anh của thí sinh.
Trao đổi với Báo Thanh Niên, bà Hoàng Mai Hương, Trưởng phòng Đào tạo Học viện Ngoại giao cho biết, với các chương trình đào tạo giảng dạy bằng tiếng Anh, các học phần được giảng dạy hoàn toàn bằng tiếng Anh (trừ một số học phần thuộc khối kiến thức lý luận chính trị và pháp luật Việt Nam, học phần giáo dục thể chất, năng lực số và giáo dục quốc phòng - an ninh).
Đội ngũ giảng viên của chương trình là sự kết hợp giữa các giảng viên Việt Nam được đào tạo bài bản tại các quốc gia sử dụng tiếng Anh và các giảng viên quốc tế giàu kinh nghiệm, mang đến môi trường học tập chuẩn quốc tế, giúp sinh viên không chỉ thành thạo ngôn ngữ mà còn tự tin hội nhập và làm chủ tri thức toàn cầu. Lớp học quy mô nhỏ (30 - 50 sinh viên/lớp chuyên ngành, 25 sinh viên/lớp ngoại ngữ).
Năm nay, Học viện Ngoại giao tuyển sinh 2.200 chỉ tiêu cho hệ đại học chính quy cho 11 ngành đào tạo. Nhà trường sử dụng tới 13 tổ hợp tuyển sinh: A00, A01, C00, D01, D03, D04, DD2, D06, D07, D09, D10, D14, D15. "Sợi chỉ đỏ" xuyên suốt cả 13 tổ hợp này là môn toán hoặc văn.
Hầu hết tổ hợp có môn ngoại ngữ (với các thứ tiếng khác nhau), ngoại trừ 2 tổ hợp không có môn ngoại ngữ để tạo cơ hội cho những thí sinh có thế mạnh đặc thù ở các khối thi truyển thống là A00 và C00. Môn thứ 3 rất linh hoạt, giúp nhà trường có đa dạng nguồn tuyển.
Học viện Ngoại giao áp dụng 4 phương thức tuyển sinh: xét tuyển thẳng và ưu tiên xét tuyển theo quy định của Bộ GD-ĐT; xét tuyển kết hợp dựa trên kết quả học tập THPT (học bạ) và chứng chỉ ngoại ngữ quốc tế đối với các thí sinh học chương trình THPT của Việt Nam; xét tuyển kết hợp dựa trên chứng chỉ đánh giá năng lực quốc tế (SAT, ACT, A-level, IB Diploma, Baccalaureat) và chứng chỉ ngoại ngữ quốc tế; xét tuyển dựa trên kết quả kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2026 theo các tổ hợp môn.
Xem chi tiết thông tin của Học viện Ngoại giao ở đây.
Cô Hoàng Thị Chung, giáo viên (GV) Trường tiểu học Đền Lừ (P.Tương Mai, Hà Nội), cho biết cô có gần 30 năm trong nghề, đạt được rất nhiều thành tích như: GV giỏi cấp quận, chiến sĩ thi đua cấp cơ sở, sáng kiến kinh nghiệm được giải cấp TP, giải thưởng cuộc thi thiết kế bài giảng cấp quốc gia… nhưng vẫn chưa được xét thăng hạng vì năm 2023 Q.Hoàng Mai (cũ) yêu cầu chỉ GV giữ chức vụ mới được thăng hạng. Do vậy, cô Chung có mong muốn những GV đủ điều kiện như cô được xét thăng hạng mà không bị gạt khỏi danh sách bởi những quy định do cơ sở tự đặt ra, để đảm bảo quyền lợi chính đáng của GV.
Cô Vũ Thị Kim Tiến, GV Trường THPT Mê Linh (Hà Nội), chia sẻ năm 2017, cô tham gia kỳ thi thăng hạng do Sở Nội vụ Hà Nội tổ chức nhưng không đỗ. Đến năm 2023, cô nghe nói có đợt thi tuyển lần 2 và trường cô có 2 hồ sơ nộp để thi, còn lại chờ có đợt xét thì nộp. Tuy nhiên sau đó, Sở Nội vụ lại quyết định không thi mà chuyển sang xét tuyển.
Cũng theo cô Tiến, sau 1 đợt thi và 1 đợt xét, trường cô có 12 trường hợp được thăng hạng. Chủ yếu là những người chưa có nhiều kinh nghiệm, chưa có bề dày thành tích, trong khi 2 phó hiệu trưởng, 5 tổ trưởng chuyên môn và 5 tổ phó chuyên môn, hàng chục GV khác có bề dày thành tích và kinh nghiệm dạy học từ gần 30 năm lại không được xét thăng hạng. Đây là việc làm bất bình đẳng, thiệt thòi cho các GV có tuổi, có nhiều cống hiến lại chịu ấm ức và bất công.
Tương tự, cô Hồ Thị Xuân Thu, GV Trường phổ thông liên cấp Khương Hạ (Hà Nội), cho biết: "Năm 2023, tôi và 4 thầy cô trong trường thừa điều kiện thăng hạng, danh sách đã được gửi lên. Sau đó, 5 GV bị nhà trường gạt lại, trong khi đó thầy hiệu phó của trường bị thiếu điều kiện lại được gửi đi xét thăng hạng và bị đánh trượt. Trường đã làm mất cơ hội thăng hạng của GV. Hai năm vừa qua đều không có đợt thăng hạng nào. GV rất thiệt thòi, ảnh hưởng đến đời sống vật chất và tinh thần".
Thầy Nguyễn Văn Đường, GV Trường THPT Phú Xuyên A (Hà Nội), cho biết trong năm 2023, khi nhiều trường THPT tại Hà Nội tạo điều kiện tối đa cho GV đủ điều kiện được thăng hạng thì tại đơn vị của thầy chỉ tiêu lại bị "bóp lại". Sau khi được xét thì số lượng GV được thăng hạng trong cả hai đợt (năm 2020 và 2023) cũng chưa đủ 50%. Điều này tạo ra sự bất bình đẳng lớn ngay trong cùng một hệ thống giáo dục.
Nhiều ý kiến cho rằng với đồng lương GV eo hẹp, việc thăng hạng không chỉ là sự ghi nhận chuyên môn mà còn là nguồn động viên kinh tế thiết thực. Khi đã kịch trần lương hạng 3, thu nhập chững lại giữa bão giá, khiến những GV tâm huyết không khỏi chạnh lòng.
Thầy Nguyễn Văn Đường và nhiều GV Hà Nội cũng chỉ ra thực tế nhiều GV bị loại hồ sơ thăng hạng vì minh chứng "không thống nhất" và cho rằng đây là bất cập cần được làm rõ.
Theo quy định tại Thông tư 34/2021/TT-BGDĐT, hồ sơ xét thăng hạng GV phải đạt đủ 100 điểm. Việc đánh giá, chấm điểm, nhận xét và chịu trách nhiệm hồ sơ thuộc về hội đồng nhà trường, đứng đầu là hiệu trưởng, cùng với sự tham gia của các bộ phận chuyên môn và đoàn thể. Tuy nhiên, thực tế tại các trường THPT ở Hà Nội hiện nay cho thấy đang phát sinh nhiều bất cập.
Sở Nội vụ Hà Nội đã ban hành bảng tiêu chí chấm điểm hồ sơ với 3 nhóm tiêu chí chính, gồm: nhóm về đào tạo, bồi dưỡng; nhóm về năng lực chuyên môn, nghiệp vụ; nhóm về thực hiện nhiệm vụ. Đáng chú ý, ở nhóm năng lực chuyên môn, nghiệp vụ, gồm nhiều tiêu chí mang tính định tính lại chưa có hướng dẫn cụ thể, thống nhất về cách hiểu và cách minh chứng. Điều này dẫn đến tình trạng mỗi GV chuẩn bị minh chứng theo một cách khác nhau, thiếu sự đồng bộ. Hệ quả là không ít GV bị loại hồ sơ ngay từ cấp trường với lý do "minh chứng chưa đủ sức thuyết phục".
Tuy nhiên, khi GV đề nghị làm rõ thế nào là thuyết phục, thì chính người đánh giá cũng không đưa ra được tiêu chí cụ thể. Việc đánh giá mang tính cảm tính, thiếu chuẩn hóa đã trực tiếp làm mất đi cơ hội thăng hạng của nhiều GV, gây tâm lý bức xúc và hoài nghi về tính công bằng.
Nêu thực tế trên, thầy Đường cho rằng cần thiết phải quay lại đúng tinh thần Thông tư 34 của Bộ GD-ĐT khi xây dựng và áp dụng tiêu chí. Cụ thể, với các tiêu chí về trình độ đào tạo, văn bằng, chứng chỉ: minh chứng phải là các giấy tờ pháp lý rõ ràng. Với các tiêu chí về năng lực, mức độ đáp ứng yêu cầu và thực hiện nhiệm vụ: cần được hội đồng nhà trường xác nhận bằng biên bản đánh giá, nhận xét, thay vì yêu cầu GV cung cấp các minh chứng rời rạc, thiếu thống nhất. Một biên bản đánh giá có trách nhiệm của hội đồng sẽ đảm bảo tính chính xác, khách quan và thống nhất hơn nhiều so với việc mỗi GV tự chứng minh năng lực bằng các tài liệu khác nhau.
Cũng theo thầy Đường, trong trường hợp số lượng hồ sơ vượt quá chỉ tiêu, việc lựa chọn cần dựa trên nhóm tiêu chí về thực hiện nhiệm vụ, vốn đã được quy định rõ trong thông tư. Đây chính là căn cứ phản ánh thực chất năng lực và quá trình công tác của GV trong nhiều năm (ví dụ 6 năm gần nhất tại Hà Nội), từ đó giúp hội đồng có cơ sở khách quan để xét chọn, tránh cách hiểu tùy tiện dẫn đến việc loại bỏ những hồ sơ xứng đáng.
Thăng hạng không chỉ là vấn đề thủ tục, mà trực tiếp liên quan đến quyền lợi, động lực và sự công bằng trong đội ngũ nhà giáo. Vì vậy, việc hoàn thiện tiêu chí, cách thức đánh giá minh bạch, thống nhất là yêu cầu cấp thiết hiện nay. Nhiều GV ở Hà Nội mong cấp có thẩm quyền quy định tỷ lệ xét thăng hạng tại các trường phổ thông phù hợp hơn; có kế hoạch thăng hạng cho GV thường xuyên theo chu kỳ ít nhất 3 năm/lần để GV đủ điều kiện có cơ hội được xét thăng hạng kịp thời, không bị bỏ lỡ quá lâu, tránh thiệt thòi cho GV.
Cô Lê Thị Nguyệt Nga, GV Trường THPT Kỹ thuật Việt Trì (Phú Thọ), nêu quan điểm: "GV không ngại tiêu chí cao, cũng không cần tiêu chí thấp. Công bằng không nằm ở việc nới tiêu chí mà nằm ở chỗ người đạt tiêu chí có thực sự được hưởng quyền lợi tương xứng hay không. Nếu câu trả lời vẫn là chờ chỉ tiêu, áp tỷ lệ thì mọi sự "nới lỏng" cũng chỉ dừng lại trên giấy".