Chiều 15/7, tiếp tục chương trình phiên họp thứ 4, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan.
Trình bày tờ trình của Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn cho biết, Luật Hải quan hiện tại đã ban hành và thực hiện trong vòng 12 năm và đã 5 lần sửa đổi, đứng trước yêu cầu phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, nhất là thương mại điện tử cũng như yêu cầu cải cách mạnh thủ tục hành chính, sắp xếp chính quyền 2 cấp, cần thiết phải tiếp tục sửa đổi, bổ sung phù hợp với điều kiện thực tế, đặc biệt là đáp ứng chuyển đổi hải quan số, hải quan thông minh.
Nhằm cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, thực hiện hải quan số, dự thảo Luật sửa quy định chứng từ thuộc bộ hồ sơ hải quan từ dạng chứng từ điện tử sang dạng thông điệp dữ liệu điện tử để thực hiện hải quan số. Đồng thời, bỏ điều kiện đại lý làm thủ tục hải quan và nhân viên đại lý làm thủ tục hải quan.
Dự thảo cũng sửa đổi bổ sung theo hướng tăng thời hạn lưu giữ hàng hóa gửi kho ngoại quan, thời hạn lưu giữ hàng hóa đưa vào địa điểm thu gom hàng lẻ. Đồng thời, bỏ quy định thủ tục xin gia hạn để doanh nghiệp thuận lợi hơn, giảm việc báo cáo của doanh nghiệp, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong việc quản lý.
Liên quan đến phân cấp, phân quyền, dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung nội dung tăng phân cấp cho Chính phủ quy định nội dung tại 8 điều. Cùng với đó, sửa đổi, bổ sung nội dung giao thêm nhiệm vụ Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định chi tiết và hướng dẫn một số nội dung tại 7 điều.
Ngoài các nội dung sửa đổi, dự thảo Luật bổ sung nhiều quy định mới như: Bổ sung các khái niệm về kiểm định hải quan, khái niệm về quản lý tuân thủ trong quản lý hải quan, khái niệm địa điểm kinh doanh hàng miễn thuế.
Dự thảo cũng bổ sung quy định về kiểm tra, giám sát hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu qua nền tảng thương mại điện tử để phù hợp với Luật Thương mại điện tử.
Tại dự thảo Luật, Chính phủ đề xuất các nhóm nội dung sửa đổi, hoàn thiện để phù hợp với các quy định pháp luật khác và thực tiễn trong quản lý hải quan. Theo đó, sửa đổi, bổ sung 15 điều để phù hợp với chức danh, tên gọi, chức năng, nhiệm vụ theo mô hình tổ chức bộ máy mới sau khi sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước; sửa đổi, bổ sung khái niệm kho ngoại quan, người khai hải quan phù hợp với Luật Thương mại điện tử, Luật Quản lý thuế.
Dự thảo cũng bổ sung trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền khi quy hoạch, thiết kế, xây dựng liên quan đến khu thương mại tự do.
Bên cạnh đó, bổ sung thời điểm để xác định thời hạn khai bổ sung (trước thời điểm dừng đưa hàng qua khu vực giám sát); đối với trường hợp khai bổ sung quá thời hạn hoặc khai bổ sung theo yêu cầu của cơ quan hải quan thì bị xử phạt theo quy định của pháp luật. Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định chi tiết điều này để kịp thời điều chỉnh khi cần thiết.
Nội dung khác được sửa đổi, bổ sung tại dự thảo Luật là quy định doanh nghiệp kinh doanh kho, bãi, cảng chịu trách nhiệm thực hiện việc tiêu hủy đối với hàng hóa tồn đọng gây ô nhiễm môi trường.
Ngoài ra bổ sung quy định cơ quan hải quan có quyền chủ động tạm dừng hàng hóa quá cảnh nếu phát hiện có căn cứ rõ ràng nghi ngờ hàng hóa giả mạo về sở hữu trí tuệ; bổ sung nguyên tắc kiểm tra sau thông quan, hợp nhất thủ tục kiểm tra sau thông quan tại trụ sở người khai hải quan và doanh nghiệp; sửa đổi thời hạn kiểm tra sau thông quan và gia hạn từ 10 ngày làm việc thành tối đa là 20 ngày và giao Chính phủ quy định chi tiết nội dung này…
Thẩm tra, Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp Phan Chí Hiếu cho biết, Thường trực Ủy ban Pháp luật và Tư pháp và các cơ quan của Quốc hội tán thành sự cần thiết phải sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan.
Liên quan đến một số nội dung cụ thể của dự thảo Luật, Thường trực Ủy ban Pháp luật và Tư pháp tán thành việc bổ sung quy định về kiểm định hải quan.
Uỷ ban đề nghị tiếp tục hoàn thiện quy định theo hướng làm rõ phạm vi, căn cứ, phương pháp, trình tự kiểm định, phân định với các hoạt động đánh giá chuyên ngành, quy định đầy đủ quyền khiếu nại, giá trị pháp lý của kết quả kiểm định và cơ chế xử lý khi có kết quả đánh giá khác nhau để đảm bảo tính minh bạch, khả thi trong tổ chức thực hiện.
Đối với xử lý hàng hóa tồn đọng, Thường trực Ủy ban Pháp luật và Tư pháp cơ bản tán thành quy định về xử lý hàng hóa gây ô nhiễm môi trường nhằm kịp thời xử lý hàng tồn đọng, giảm chi phí và áp lực lưu giữ tại các cảng, kho, bãi.
Tại nhịp chỉnh giá gần nhất lúc 15 giờ 41, Công ty Vàng bạc đá quý Sài Gòn (SJC) mua vào và bán ra mỗi lượng vàng miếng SJC là 145,5 - 148,5 triệu đồng, giảm 1 triệu đồng so với đầu giờ sáng. So với chốt ngày hôm qua 7.7, giá mỗi lượng vàng miếng SJC đã giảm 1,5 triệu đồng.
3 ngày qua, giá vàng điều chỉnh giảm 5 nhịp liên tiếp. Trước đó, giá mua - bán miếng SJC đứng yên ở 148,4 - 151,4 triệu đồng/lượng từ ngày 3.7 đến hết sáng 6.7.
Các doanh nghiệp kinh doanh vàng, bạc khác như Phú Quý, Bảo Tín Minh Châu, Bảo Tín Mạnh Hải... lúc hơn 16 giờ hôm nay niêm yết giá mua - bán mỗi lượng vàng lần lượt như sau: 145 - 148 triệu đồng; 144,3 - 148,3 triệu đồng; 144,3 - 148,3 triệu đồng.
Giá vàng trong nước hiện cao hơn giá vàng thế giới trên 19 triệu đồng/lượng.
Giá bạc hôm nay ghi nhận giảm khá mạnh so với chốt ngày 7.7. Duy trì khoảng 62 - 63 triệu đồng/kg suốt buổi sáng tới đầu giờ chiều, cuối giờ chiều, giá bạc giảm về quanh mức trên 60 triệu đồng/kg.
Lúc hơn 16 giờ, các doanh nghiệp như Ancarat, Phú Quý, Bảo Tín Mạnh Hải... bán ra mỗi kg bạc dao động 60,56 - 60,61 triệu đồng, giảm khoảng 2,6 - 3,3 triệu đồng, tùy thương hiệu.
Giá vàng thế giới giao ngay lúc 16 giờ 21 (giờ Việt Nam) hôm nay là 4.056,7 USD/ounce, giảm 48,2 USD (tương đương 1,17%); giá bạc giao ngay là 58,4 USD/ounce, giảm 1,45 USD (tương đương 2,42%) so với giá đóng cửa phiên trước.
Thanh tra Chứng khoán Nhà nước vừa ban hành Quyết định số 321/QĐ-XPHC xử phạt vi phạm hành chính đối với Công ty CP Chứng khoán Dầu khí (HNX: PSI) với số tiền 125 triệu đồng do vi phạm quy định trong hoạt động giao dịch ký quỹ (margin).
Theo quyết định xử phạt, PSI đã cho khách hàng thực hiện giao dịch ký quỹ vượt quá sức mua hiện có trên tài khoản giao dịch ký quỹ. Hành vi vi phạm được cơ quan quản lý xác định phát sinh vào ngày 15/7/2024.
Đây là hành vi không tuân thủ quy định về quản lý giao dịch ký quỹ trên thị trường chứng khoán và bị xử phạt theo quy định tại Nghị định số 156/2020/NĐ-CP của Chính phủ.
Về cơ cấu cổ đông, tính đến ngày 31/3/2026, PSI chỉ có một cổ đông lớn là Ngân hàng TMCP Đại Chúng Việt Nam (PVcomBank), nắm giữ 51,17% vốn điều lệ. Phần vốn còn lại, tương đương 48,83%, thuộc sở hữu của các cổ đông nắm giữ dưới 5% vốn điều lệ.
Báo cáo tài chính cho thấy quy mô tài sản của PSI tiếp tục tăng trưởng trong quý I/2026. Tại ngày 31/3/2026, tổng tài sản của công ty đạt 4.123,85 tỷ đồng, tăng 31,2% so với đầu năm, tương ứng tăng thêm gần 981 tỷ đồng.
Trong cơ cấu tài sản, các khoản cho vay chiếm tỷ trọng lớn nhất với 1.626,9 tỷ đồng, tương đương 39,45% tổng tài sản.
Danh mục đầu tư nắm giữ đến ngày đáo hạn (HTM) đạt 1.553,1 tỷ đồng, chiếm 37,66%, trong khi tài sản tài chính ghi nhận thông qua lãi/lỗ (FVTPL) đạt 426,4 tỷ đồng, tương ứng 10,34% tổng tài sản. Phần còn lại là tiền, các khoản tương đương tiền và các tài sản khác.
Trong khuôn khổ workshop "Giảm phát thải – Cơ hội và thách thức cho doanh nghiệp" do VietinBank tổ chức tại TP.HCM, các chuyên gia cho rằng chìa khóa của chuyển đổi xanh không chỉ nằm ở công nghệ hay nguồn lực, mà bắt đầu từ dữ liệu minh bạch, quản trị bài bản và khả năng kết nối với các giải pháp tài chính bền vững.
Giảm phát thải - tiêu chuẩn mới của thị trường
ESG, kiểm kê khí nhà kính hay thị trường tín chỉ carbon ngày càng trở thành các khái niệm quen thuộc với cộng đồng doanh nghiệp. Tuy nhiên, điều khiến không ít doanh nghiệp băn khoăn hiện nay không còn là có nên thực hiện giảm phát thải hay không, mà là phải bắt đầu từ đâu để vừa đáp ứng yêu cầu của thị trường, vừa duy trì năng lực cạnh tranh. Theo ông Nguyễn Đình Thái, Tổng Giám đốc EGP Việt Nam, giảm phát thải đang dịch chuyển từ một hoạt động mang tính khuyến khích sang yêu cầu ngày càng phổ biến từ cơ quan quản lý, khách hàng quốc tế và các tổ chức tài chính. "Cam kết phát thải ròng bằng 0 của Việt Nam, cùng các quy định về kiểm kê khí nhà kính và lộ trình phát triển thị trường carbon đang tạo ra một khuôn khổ mới để doanh nghiệp chuẩn bị cho giai đoạn phát triển tiếp theo", ông Nguyễn Đình Thái nhấn mạnh. Minh chứng là, nhiều tập đoàn đa quốc gia đã yêu cầu nhà cung cấp công bố dữ liệu phát thải và các chỉ số ESG, khiến việc quản trị phát thải trở thành một phần của năng lực cạnh tranh.
Lộ trình "đo ni đóng giày" cho từng doanh nghiệp
Ông Trần Đăng Nhơn, chuyên gia Công ty TNHH An ninh Năng lượng cho rằng không tồn tại một "công thức chung" cho mọi doanh nghiệp trong quá trình giảm phát thải. "Mỗi doanh nghiệp có đặc thù riêng về ngành nghề, công nghệ, quy mô sản xuất và mục tiêu kinh doanh, do đó, lộ trình giảm phát thải của doanh nghiệp cũng cần được xây dựng trên cơ sở hiện trạng và dữ liệu của chính doanh nghiệp. Những nguồn phát thải trọng yếu là điểm đột phá đầu tiên và trước nhất mà doanh nghiệp có thể cân nhắc", ông Nhơn chia sẻ.
"Khai thông" dữ liệu giảm phát thải
Tại workshop, các chuyên gia thống nhất rằng khó khăn lớn nhất hiện nay không nằm ở việc thiếu công nghệ mà nằm ở dữ liệu. Nhiều doanh nghiệp chưa có bức tranh đầy đủ về lượng phát thải, chưa xác định được nguồn phát thải trọng yếu và chưa hình thành quy trình quản trị dữ liệu thống nhất. Theo ông Phạm Gia Huy, chuyên gia tới từ Zeroboard, việc tổng hợp dữ liệu bằng bảng tính thủ công phù hợp ở giai đoạn đầu nhưng sẽ bộc lộ nhiều hạn chế khi doanh nghiệp mở rộng quy mô. Sai sót trong nhập liệu, khó kiểm soát các thay đổi, phụ thuộc vào cá nhân và thiếu khả năng truy xuất là những rủi ro phổ biến. Vì vậy, chuyển đổi số trong hoạt động đo lường phát thải, trong đó áp dụng MRV (Measure – Report – Verify) được xem là xu hướng tất yếu. "Việc số hóa quy trình thu thập, tính toán và báo cáo không chỉ giúp tiết kiệm thời gian mà còn tạo ra hệ thống dữ liệu minh bạch, có thể kiểm chứng và sẵn sàng phục vụ khách hàng, nhà đầu tư cũng như cơ quan quản lý", ông Phạm Gia Huy nhấn mạnh trong phiên tọa đàm của workshop.
Cùng chung quan điểm, bà Đàm Thị Bích Ngọc, phó Trưởng Ban Quản lý dự án carbon, INTRACO cho rằng nhiều doanh nghiệp có xu hướng chờ đến khi quy định trở thành bắt buộc mới bắt đầu triển khai. Tuy nhiên, cách tiếp cận này sẽ khiến doanh nghiệp chịu áp lực lớn về thời gian và nguồn lực. Một lộ trình hiệu quả cần bắt đầu bằng kiểm kê khí nhà kính để xây dựng đường cơ sở phát thải. Khi hiểu rõ phát thải đến từ đâu, doanh nghiệp mới có thể xác định các giải pháp ưu tiên như tối ưu năng lượng, cải tiến quy trình sản xuất, chuyển đổi nhiên liệu hay tăng cường sử dụng năng lượng tái tạo. "Doanh nghiệp không nên đặt mục tiêu quá lớn ngay từ đầu mà cần triển khai theo từng giai đoạn, liên tục cập nhật dữ liệu và hoàn thiện hệ thống quản trị", bà Đàm Thị Bích Ngọc khuyến nghị.
Cơ hội mới từ thị trường tín chỉ carbon
Theo bà Trần Thị Thùy Dương, Trưởng phòng Phát triển tín chỉ carbon của Aquila, Việt Nam còn nhiều dư địa phát triển thị trường tín chỉ carbon. Khi cơ chế thị trường được hoàn thiện, các doanh nghiệp đã chuẩn bị tốt về dữ liệu và lộ trình giảm phát thải sẽ có nhiều lợi thế hơn trong việc tham gia các dự án tín chỉ carbon. Điều này cho thấy giảm phát thải không chỉ là chi phí tuân thủ mà còn có thể tạo ra giá trị kinh tế. "Tuy nhiên, điều kiện tiên quyết vẫn là hệ thống dữ liệu phát thải đáng tin cậy và được quản trị theo chuẩn mực", bà Trần Thị Thùy Dương chia sẻ.
Dữ liệu ESG - lợi thế tiếp cận vốn
Một nội dung nhận được nhiều sự quan tâm tại tọa đàm là mối liên hệ giữa dữ liệu ESG và nguồn vốn xanh. Theo các chuyên gia, ngày càng nhiều tổ chức tài chính xem xét các yếu tố môi trường, xã hội và quản trị trong quá trình đánh giá doanh nghiệp. Điều đó đồng nghĩa dữ liệu phát thải không chỉ phục vụ báo cáo mà còn trở thành cơ sở để doanh nghiệp tiếp cận các sản phẩm tài chính bền vững. Trong khuôn khổ workshop, VietinBank giới thiệu sản phẩm Cho vay liên kết bền vững (Sustainability-Linked Loan – SLL). Khác với khoản vay truyền thống, SLL gắn lãi suất ưu đãi với các chỉ tiêu phát triển bền vững mà doanh nghiệp cam kết thực hiện, như giảm phát thải khí nhà kính, nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng hoặc các mục tiêu ESG phù hợp với đặc thù hoạt động của doanh nghiệp. Cách tiếp cận này vừa tạo động lực để doanh nghiệp đầu tư cho chuyển đổi xanh, vừa góp phần mở rộng khả năng tiếp cận nguồn vốn phục vụ tăng trưởng bền vững.