Công việc gần như không thay đổi với bà Lê Thị Minh Thái – người từng có 23 năm làm việc chính thức tại Xí nghiệp sơmi Tổng công ty May 10 Hà Nội. Từ chiếc máy may đến đồng nghiệp trong nhà xưởng đều quen thuộc, chỉ khác là người phụ nữ 55 tuổi có thêm một cuốn sổ lương hưu hơn 4,3 triệu đồng và không cần đóng BHXH bắt buộc theo quy định với người hết tuổi lao động.
Trước ngày về hưu tháng 4/2024, bà Thái nêu nguyện vọng trở lại làm việc sau hưu trí với cấp trên, lập tức được đáp ứng. Tháng 7, bà trở lại dây chuyền với vị trí công nhân may như trước, sau khi đã chốt sổ BHXH và chấm dứt hợp đồng lao động cũ theo quy định.
“Mắt còn tinh, tay còn khỏe, ở nhà buồn không chịu nổi, lấy đâu người nói chuyện. Mình đi làm, có hai khoản lương lại không phụ thuộc kinh tế”, người phụ nữ mái tóc nhuộm nâu đồng, cắt tỉa gọn ngang vai, cười cho biết.
Bước vào nhà máy từ những năm 2000, bà Minh Thái chỉ nhớ lương công nhân may thời đó đôi ba triệu nhưng trả đúng ngày, phúc lợi không chậm không thiếu – những chế độ ổn định mà công nhân cần. Các khoản tăng dần, duy trì đều cho đến ngày nay, kể cả lúc biến cố như đại dịch Covid là lý do khiến bà ở lại đến ngày về hưu. Đồng nghiệp phân xưởng sơmi phần lớn trung tuổi, thâm niên gắn bó 20-25 năm.
Đôi tay quen làm, bà Thái trước mắt chưa muốn thay đổi nhịp sống đã vận hành suốt ba thập niên qua. Xa hơn là không chịu áp lực tài chính khi trên không phải chăm sóc bố mẹ già, dưới không cần lo con nhỏ. Con gái lớn đã lấy chồng xa, thi thoảng mới đưa cháu về thăm. Con trai học ngành kinh tế, tự túc chi tiêu mỗi tháng bằng công việc làm thêm. Bà Thái sức khỏe vẫn tốt, dự định làm đến khi nào “chán hoặc vướng bận việc nhà” mới nghỉ.
Cuối chuyền, bà Nguyễn Thị Kim Vân thoăn thoắt giở từng góc áo, lần từng hàng khuy kiểm tra xem có chỗ nào bị lỗi, thừa chỉ hoặc thiếu đường may. Phụ trách kiểm định chất lượng, mỗi ngày bà cùng một nữ đồng nghiệp kiểm tra không dưới 1.000 sản phẩm, có lúc lên đến 1.600.
Công việc chỉ dành cho người chỉn chu, kỹ lưỡng để không sểnh sót bất cứ đường kim mũi chỉ nào. Bởi chiếc áo sơmi xuất khẩu có thể nằm trên kệ hàng một trung tâm thương mại nào đó ở châu Âu. Họ còn phải khéo léo giao tiếp với công nhân, bởi không phải ai cũng thoải mái khi sản phẩm bị trả về yêu cầu làm lại.
Những thao tác ấy bà Kim Vân đã lặp lại mỗi ngày suốt 29 năm từ khi vào phân xưởng ở tuổi đôi mươi, tiếp tục duy trì sau tuổi nghỉ hưu hồi tháng 6. Đầu tháng 7, bà Vân trở lại nhà máy sau khi đã chốt sổ và các thủ tục liên quan với mức lương hưu gần 6 triệu đồng.
Người phụ nữ 53 tuổi, tóc còn xanh, chọn tiếp tục đi làm vì thấy “sức khỏe còn ổn nhưng lương hưu chưa được ổn lắm”. Bà Vân tính toán tuổi này nếu rời nhà máy vẫn có thể đi làm, nhưng phần lớn là dọn dẹp hoặc trông trẻ.
“Ra ngoài chưa chắc điều kiện đã tốt hơn. Với tay nghề và công việc đã quen, tốt nhất cứ chọn nơi mà mình đã quen thuộc”, bà giải thích, thêm rằng đi làm có chị có em, nếu không sẽ rất buồn chán.
Bà Thái, bà Vân là hai trong số hơn 30 người đã nghỉ hưu vẫn tiếp tục đi làm, trong tổng số 500 lao động thuộc Xí nghiệp sơmi Tổng công ty May 10. Bà Chu Thị Hồng Hà, Phó giám đốc Xí nghiệp sơmi, cho biết chính sách thực hiện theo quy định được pháp luật cho phép. Thực tế nhiều người đến tuổi về hưu, sức khỏe còn tốt vẫn muốn đi làm, nhà máy vẫn tuyển dụng bởi có nhu cầu. Quyền lợi của họ được đảm bảo đầy đủ theo pháp luật hiện hành.
Theo bà Hà, tuyển dụng lao động ngành may không dễ khi người trẻ có nhiều lựa chọn, nhất là chuyển dịch dần về khu vực dịch vụ. Trong khi đặc thù may mặc đòi hỏi tỉ mỉ với từng đường kim mũi chỉ, đức tính mà người có thâm niên, kinh nghiệm hoàn toàn đáp ứng. Nghề may dù được máy móc hỗ trợ nhưng không thể loại bỏ con người, nhất là những thợ lâu năm, có tay nghề.
Bà nhận định đi làm sau tuổi nghỉ hưu có người vì lý do kinh tế, nhưng cũng có người không hẳn mà đã quen với công việc nhiều năm, muốn giữ môi trường và có giao tiếp. “Đội ngũ này trên thực tế vẫn là nguồn lực quý vì lành nghề và có sự ổn định”, bà nói, thêm rằng tất nhiên yếu tố năng suất phần nào ảnh hưởng song bù lại yên tâm về chất lượng sản phẩm, không phải đào tạo lại.
Ông Vũ Quang Thành, Phó giám đốc Trung tâm Dịch vụ việc làm Hà Nội, nhận định bước vào giai đoạn già hóa dân số, cơ cấu lao động thay đổi mạnh trong khi nhiều doanh nghiệp lại thiếu nhân sự có kinh nghiệm, giữ vai trò cố vấn, truyền nghề, kiểm soát chất lượng, giữ gìn văn hóa. Người cao tuổi trong nhiều trường hợp là chủ thể nắm giữ uy tín xã hội, tri thức nghề truyền thống, quan hệ cộng đồng và khả năng dẫn dắt thế hệ trẻ – những giá trị mà người trẻ cần nhiều năm mới tích lũy được.
Ông dẫn thực tế nhu cầu làm việc của người cao tuổi hiện khá lớn, vì tránh cảm giác bị tụt hậu hoặc không muốn phụ giúp gia đình. Song tỷ lệ nhóm này tìm được việc làm phù hợp thấp vì nhiều rào cản như lệch pha cung cầu khi một phần doanh nghiệp chủ động tuyển dụng còn chủ yếu cần lao động tốc độ, linh hoạt và kỹ năng công nghệ mới. Người hết tuổi lao động chủ yếu tìm hiểu qua người quen mà thiếu kênh kết nối việc làm riêng biệt hoặc công việc không phù hợp thể trạng.
“Việc làm cho người cao tuổi trong bối cảnh mới không chỉ nên dựa vào nỗ lực đơn lẻ của doanh nghiệp mà cần có bệ đỡ chính sách rõ ràng”, ông Thành nói, dựa trên ba nguyên tắc cụ thể là sinh kế tạo thu nhập phù hợp với nhu cầu; công việc tương thích thể trạng và không coi người cao tuổi là lao động giá rẻ.
Bệ đỡ đầu tiên, theo ông Thành là tạo cơ chế luật pháp và việc làm linh hoạt, cho phép người cao tuổi thỏa thuận với doanh nghiệp để tiếp tục làm việc hoặc làm bán thời gian sau tuổi nghỉ hưu. Nhà nước có những ưu đãi về thuế, tài chính cho doanh nghiệp chủ động tuyển dụng và đào tạo việc làm chuyên biệt cho người cao tuổi. Đồng thời, cần thúc đẩy các mô hình việc làm linh hoạt như từ xa, bán thời gian hoặc tư vấn chuyên môn theo dự án phù hợp với sức khỏe. Cuối cùng, cần khuyến khích doanh nghiệp ký hợp đồng với người cao tuổi ở các vị trí cố vấn, đào tạo nhân sự trẻ, tận dụng kinh nghiệm và kỹ năng mềm của họ.
“Cộng đồng dần thay đổi định kiến, coi người cao tuổi là nguồn lực quý giá về mọi mặt thay vì gánh nặng, để trực tiếp tạo ra môi trường giúp họ giữ vững sự tự lập, sức khỏe tinh thần và tiếp tục cống hiến kinh nghiệm”, ông nói, thêm rằng về lâu dài cần nâng cao mặt bằng an sinh để người cao tuổi đi làm vì yêu thích thay vì áp lực mưu sinh
Luật hiện hành quy định người về hưu đang hưởng chế độ hàng tháng mà ký kết hợp đồng lao động mới, người đó và chủ sử dụng lao động đều không phải đóng các khoản BHXH bắt buộc, bao gồm hưu trí, tử tuất, ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp cho quãng thời gian làm việc thêm.
Chủ doanh nghiệp có trách nhiệm chi trả thêm cùng lúc với kỳ trả lương một khoản tương đương mức đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp theo quy định. Đồng nghĩa với việc thay vì phải trích đóng vào các quỹ, người lao động được nhận trực tiếp tiền tương ứng vào thu nhập hàng tháng. Lao động có thể thỏa thuận với người sử dụng về rút ngắn thời giờ làm việc hoặc làm việc không trọn thời gian phù hợp với sức khỏe.
Phát biểu kết luận buổi làm việc, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đánh giá, nhận thức về vai trò của nghiên cứu khoa học cơ bản (NCKHCB) đã có bước chuyển rất quan trọng; tuy nhiên thực trạng về công tác NCKHCB hiện nay vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập và chưa tương xứng với yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới.
Đối với khoa học xã hội và nhân văn (KHXH-NV), Tổng Bí thư, Chủ tịch nước chỉ rõ, nếu khoa học tự nhiên và công nghệ tạo nền tảng cho năng lực sản xuất và công nghệ quốc gia, KHXH-NV tạo nền tảng cho năng lực lãnh đạo, quản trị, xây dựng thể chế, phát triển văn hóa, con người và giữ vững ổn định xã hội. KHXH-NV có vai trò đặc biệt quan trọng trong nghiên cứu lý luận, xây dựng đường lối, hoàn thiện pháp luật, dự báo chiến lược, xây dựng hệ giá trị quốc gia, phát triển văn hóa và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nêu rõ, yêu cầu cấp thiết hiện nay là phải xác định rõ mục tiêu phát triển NCKHCB trong giai đoạn mới, bảo đảm vừa xử lý các điểm nghẽn trước mắt, vừa kiến tạo nền tảng tri thức lâu dài cho phát triển nhanh, bền vững đất nước. Từ nay đến năm 2030, phải tháo gỡ được các điểm nghẽn cản trở, các khó khăn, vướng mắc; cần hình thành tương đối đồng bộ hệ sinh thái nghiên cứu cơ bản quốc gia; từng bước xây dựng một số trung tâm nghiên cứu xuất sắc, nhóm nghiên cứu mạnh, cơ sở dữ liệu khoa học lớn và hạ tầng nghiên cứu dùng chung có năng lực cạnh tranh trong khu vực. Đến năm 2045, hình thành một số lĩnh vực KHCB có năng lực cạnh tranh quốc tế.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đề nghị, phải xác định rõ NCKHCB là nền tảng chiến lược của phát triển quốc gia trong thế kỷ XXI. Phát triển KHCB phải phục vụ trực tiếp yêu cầu phát triển nhanh, bền vững đất nước; nâng cao năng lực tự chủ chiến lược; bảo đảm quốc phòng, an ninh; nâng cao năng lực dự báo, quản trị quốc gia và khả năng thích ứng với những biến động lớn của thế giới.
Cạnh đó, cần phát triển đồng bộ khoa học tự nhiên, công nghệ nền tảng với KHXH-NV. Cần đổi mới mạnh mẽ cơ chế quản lý khoa học theo hướng chuyển từ quản lý hành chính sang quản trị sáng tạo; từ tiền kiểm sang hậu kiểm; từ quản lý theo hồ sơ sang đánh giá theo chất lượng, tác động và đóng góp dài hạn; phải xây dựng môi trường học thuật trung thực, tự do sáng tạo gắn với trách nhiệm khoa học và trách nhiệm quốc gia.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhấn mạnh, phải coi con người là trung tâm của phát triển KHCB. Cơ chế quản lý phải chấp nhận rủi ro khoa học, giảm hành chính hóa, bảo vệ tự do học thuật, đề cao trách nhiệm giải trình và liêm chính khoa học.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đề nghị thiết kế cơ chế tài chính phù hợp với từng loại hình nghiên cứu. Đối với nghiên cứu cơ bản định hướng tri thức nền, cần có ngân sách nền ổn định và cơ chế tài trợ dài hạn. Đối với nghiên cứu cơ bản định hướng công nghệ chiến lược, cần kết hợp ngân sách nhà nước, quỹ cạnh tranh, đặt hàng quốc gia và hợp tác doanh nghiệp để hình thành chuỗi tiếp nối từ nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng, phát triển thực nghiệm, sở hữu trí tuệ, tiêu chuẩn hóa đến chuyển giao và thương mại hóa. Đối với KHXH-NV, Nhà nước phải giữ vai trò chủ đạo vì sản phẩm chủ yếu là tri thức nền, luận cứ chính sách, dữ liệu xã hội, mô hình quản trị, giá trị văn hóa và phát triển con người, không phải hàng hóa thương mại thông thường.
Cùng đó, cần phát triển hệ sinh thái nhân tài khoa học; tổ chức đồng bộ từ phát hiện sớm, đào tạo tinh hoa, nghiên cứu sinh, sau tiến sĩ, trưởng nhóm trẻ, chuyên gia đầu ngành đến trí thức VN toàn cầu; trọng tâm là tạo môi trường học thuật tự do, trung thực, sáng tạo, có đãi ngộ xứng đáng và có cơ hội giao nhiệm vụ lớn cho người tài. Xây dựng hạ tầng dữ liệu và hạ tầng tri thức quốc gia; đầu tư phòng thí nghiệm trọng điểm, thiết bị dùng chung, hạ tầng tính toán hiệu năng cao, dữ liệu khoa học, dữ liệu xã hội, thư viện số, kho dữ liệu văn hóa - ngôn ngữ - di sản số. Dữ liệu phải được coi là hạ tầng chiến lược của nghiên cứu cơ bản trong thời đại AI.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nêu rõ, tái định vị Viện Hàn lâm KHXH VN, Viện Hàn lâm KH-CN VN và tăng cường liên kết hệ sinh thái khoa học. Hai viện hàn lâm cần trở thành các thiết chế tri thức chiến lược của T.Ư, của quốc gia; đồng thời phải kết nối chặt chẽ với đại học nghiên cứu, doanh nghiệp, bộ, ngành, địa phương và cơ quan hoạch định chính sách để hình thành hệ sinh thái nghiên cứu cơ bản có chiều sâu, có tích lũy và có khả năng phục vụ quyết sách lớn của đất nước. Đẩy mạnh hợp tác quốc tế có chọn lọc; thu hút chuyên gia, nhà khoa học nước ngoài, trí thức VN ở nước ngoài, hợp tác với các trung tâm khoa học hàng đầu để nâng chuẩn nghiên cứu, đào tạo đội ngũ kế cận và rút ngắn khoảng cách tri thức; đồng thời bảo vệ dữ liệu, tài sản trí tuệ, an ninh tri thức và lợi ích quốc gia.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước giao Ban Chỉ đạo về phát triển KH-CN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số hoàn thiện báo cáo, trình Bộ Chính trị xem xét, kết luận theo hướng giao Đảng ủy Chính phủ chủ trì, lãnh đạo, chỉ đạo tập trung thực hiện các nhiệm vụ: tháo gỡ, giải quyết các điểm nghẽn, nút thắt; khẩn trương xây dựng chiến lược quốc gia về phát triển NCKHCB đến năm 2045; xây dựng quỹ nghiên cứu cơ bản quốc gia đa niên; xây dựng cơ chế tài chính đặc thù cho KHXH-NV; xây dựng chương trình quốc gia về nhân tài KHCB, xây dựng hệ thống dữ liệu khoa học và dữ liệu xã hội quốc gia; hoàn thiện đề án tái cấu trúc và cơ chế hoạt động của hai viện hàn lâm; ban hành chuẩn liêm chính khoa học quốc gia; thiết lập cơ chế đặt hàng nghiên cứu phục vụ trực tiếp xây dựng nghị quyết, luật, chiến lược, quy hoạch và chính sách quốc gia.
Phía sau tỷ lệ duy trì sĩ số hơn 98% là hành trình lặng lẽ của thầy cô, bộ đội biên phòng và già làng nơi vùng đất đỏ bazan.
Chưa đến 4 giờ sáng, khi phố thị còn chìm trong giấc ngủ, thầy Lê Văn Triều, giáo viên âm nhạc kiêm Tổng phụ trách Đội Trường Tiểu học Kpă Klơng (xã Ia Nan, tỉnh Gia Lai), đã rời nhà ở phường Pleiku để vượt gần 80 km lên trường. Hơn 20 năm gắn bó với vùng biên Ia Nan, thầy Triều đã quá quen với những con đường đỏ bụi mùa khô, lầy lội mùa mưa dẫn vào các thôn làng xa xôi.
Trên con đường đất đỏ dẫn vào làng Sơn, thầy Triều thi thoảng dừng xe, xem lại danh sách học sinh nghỉ học hôm trước. Với các giáo viên ở Ia Nan, việc đến tận nhà vận động học sinh ra lớp đã trở thành công việc thường ngày.
Thầy Triều kể hơn 20 năm trước, nhiều đoạn đường vào xã chỉ là đường đất đỏ, mùa khô bụi mù còn mùa mưa lầy lội. Đường sá nay đã thuận lợi hơn, nhưng việc giữ học sinh đến lớp vẫn còn nhiều gian nan. "Có em không muốn đi học, thấy thầy cô đến vận động thì trốn. Nhưng tụi mình không thể bỏ cuộc. Ai cũng cố gắng để học sinh hiểu rằng học tập sẽ giúp thay đổi tương lai của chính mình, của gia đình và cả thôn làng", thầy Triều chia sẻ.
Đó không phải câu chuyện riêng của thầy Triều. Ở Trường tiểu học Kpă Klơng, việc giáo viên đến tận nhà vận động học sinh đã trở thành một "luật bất thành văn". Giáo viên chủ nhiệm và giáo viên bộ môn đều phải nắm chắc hoàn cảnh từng em, theo dõi sĩ số hằng ngày để kịp thời tìm đến những em nghỉ học.
Cô Trần Thị Nhung, Hiệu trưởng nhà trường, cho biết trách nhiệm ấy được mỗi giáo viên thấm nhuần ngay từ ngày đầu nhận lớp. "Học sinh nghỉ không lý do thì hôm sau giáo viên phải xuống tận nhà tìm hiểu. Không chỉ gọi điện hay nhắn tin, thầy cô phải trực tiếp gặp gỡ để hiểu hoàn cảnh từng gia đình, từ đó mới có cách hỗ trợ phù hợp", cô Nhung nói.
Bếp ăn bán trú ý nghĩa Ia Nan là xã có đường biên giới giáp Campuchia với 9 thôn làng, bao gồm 3 làng chủ yếu là đồng bào thiểu số gồm: làng Tung, làng Nú và làng Sơn. Trong đó, làng Sơn nằm cách xa trường học nhất, với khoảng cách từ 4 - 6 km. Phần lớn học sinh đi bộ đến trường mỗi ngày, chỉ một số ít được bố mẹ chở đến.
Nhiều gia đình chưa coi trọng việc học, thường đưa con lên rẫy thay vì đến lớp. Có em nhỏ dù tuổi còn thơ đã phải phụ giúp cha mẹ nương rẫy. Theo lời các thầy cô, có trường hợp bố mẹ quen cho tiền mỗi buổi đến lớp, đến khi không cho nữa, các em bỏ học luôn.
Gắn bó với Trường tiểu học Kpă Klơng hơn 7 năm, cô Trần Thị Nhung hiểu rất rõ bài toán giữ học sinh ở lại với con chữ. Nhiều em học xong buổi sáng rồi về nhà và không quay lại trường vào buổi chiều. Khoảng cách xa xôi, sự thiếu quan tâm của phụ huynh cùng bữa trưa thiếu thốn khiến việc duy trì sĩ số luôn là nỗi trăn trở của nhà trường.
Năm 2021, nhà trường quyết định mở bếp ăn bán trú miễn phí để giữ học sinh ở lại trường cả ngày. Mỗi buổi trưa, khoảng 100 học sinh được ăn cơm ngay tại trường. "Chúng tôi muốn các em có một bữa ăn đủ đầy để yên tâm học tập. Có bữa trưa ở trường, các em sẽ không phải đi bộ về nhà rồi nghỉ luôn buổi chiều", cô Nhung chia sẻ.
Người đứng bếp chính là chú bảo vệ của trường. Gạo và thực phẩm được các nhà hảo tâm đóng góp, còn rau xanh nhiều năm nay do Đồn Biên phòng Ia Nan hỗ trợ. Những suất cơm giản dị ấy đã góp phần giữ nhiều học sinh ở lại lớp học.
Ở Ia Nan, việc giữ trẻ đến trường không chỉ là trách nhiệm của riêng thầy cô mà là sự chung tay của cả cộng đồng. Các cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng Ia Nan thường xuyên phối hợp cùng nhà trường đến từng thôn làng tuyên truyền, vận động phụ huynh cho con em đi học. Những buổi tối xuống từng nhà trò chuyện, thuyết phục bà con đã trở thành công việc quen thuộc của các đội công tác địa bàn nơi vùng biên giới.
Già làng và người có uy tín cũng được nhà trường nhờ vả. Mỗi buổi sinh hoạt cộng đồng, mỗi cuộc họp làng trở thành dịp để nhắc nhở phụ huynh, học sinh về tầm quan trọng của việc học. Ở những nơi mà lời nói của thầy cô có khi chưa đủ sức nặng thì lời của già làng lại dễ thấm vào lòng người.
Già Ralan Jok, già làng làng Sơn nói: "Các thầy cô ở đây quý lắm, đến từng nhà động viên học sinh đến lớp. Mình cũng cố gắng góp chút công sức nói với mọi người trong làng cố gắng cho con đi học kiếm cái chữ để sau này có tương lai tốt hơn".
Những nỗ lực nói trên đã mang lại kết quả. Tỷ lệ học sinh đến lớp tại Trường tiểu học Kpă Klơng thường xuyên đạt trên 98%. Đây là con số đáng ngạc nhiên đối với một trường vùng sâu vùng xa, nơi trước kia từng được xem là một trong những "vùng trũng" của giáo dục tỉnh Gia Lai. Năm học 2025 - 2026, tỷ lệ học sinh lên lớp đạt 99,1%, với 30% học sinh được khen thưởng. Ngôi trường với 25 giáo viên, dạy gần 450 học sinh, bao gồm nhiều em đến từ 3 làng chủ yếu là đồng bào thiểu số Jrai, đang viết nên câu chuyện giáo dục đầy ý nghĩa của chính mình.
Điều khiến các thầy cô hạnh phúc hơn cả là nhiều học sinh từng đi bộ đến trường trên những con đường đất đỏ nay đã học lên THPT, đại học rồi quay trở về công tác tại quê hương. Những hạt giống của tương lai đang dần nảy mầm từ sự kiên trì của "những người đưa đò" vùng biên.
Ông Ngô Hữu Phước, Bí thư Đảng ủy xã Ia Nan, đánh giá Trường Tiểu học Kpă Klơng là điểm sáng giáo dục của địa phương nhờ duy trì tốt sĩ số học sinh, xây dựng bếp ăn bán trú miễn phí và sự phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường với các lực lượng tại địa phương.
Hiện một ngôi trường liên cấp mới đang được xây dựng, dự kiến đưa vào sử dụng trong năm học 2026 - 2027 với kỳ vọng sẽ tiếp tục cùng những giáo viên nhiều năm gõ cửa từng ngôi nhà từ lúc trời chưa sáng để vận động học sinh đến lớp viết nên câu chuyện đẹp ở vùng biên.
Ngày 2.7, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an TP.HCM đang điều tra vụ phát hiện thi thể nữ giới tại bờ sông Rạch Dơi, ấp Nhơn Hòa, xã Hiệp Phước.
Trước đó, khoảng 9 giờ cùng ngày, trong lúc đi câu cá ở sông Rạch Dơi, người đàn ông 39 tuổi tá hỏa khi phát hiện thi thể người lẫn trong đám lục bình, mắc lại quanh bụi cây dừa nước ven bờ.
Nhận tin báo, Công an xã Hiệp Phước phối hợp Cơ quan Cảnh sát điều tra, Đội kỹ thuật hình sự (Công an TP.HCM) và Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 nhanh chóng khám nghiệm hiện trường, đưa tử thi vào bờ để kiểm tra và tiến hành giải phẫu tử thi, xác định nguyên nhân tử vong.
Theo cơ quan chức năng, thời điểm trục vớt, thi thể đang trong giai đoạn phân hủy nặng. Qua khám nghiệm ban đầu xác định tử thi là nữ giới, khoảng 60 tuổi, cao 1,5 mét, dáng gầy. Trên người mặc đồ bộ (áo và quần thun ngắn) màu đỏ chấm bi trắng.
Để có cơ sở giải quyết, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an TP.HCM đề nghị ai là thân nhân hoặc biết thông tin về nạn nhân thì liên hệ cơ quan này để phối hợp xử lý vụ việc.