Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) cho biết, bắt đầu từ hôm nay 15.6, tập đoàn này và các tổng công ty điện lực đưa vào thử nghiệm ứng dụng “EVN CSKH” sử dụng trên điện thoại thông minh (trên các nền tảng các hệ điều hành IOS và Android) dành cho tất cả các khách hàng dùng điện của EVN.
Ứng dụng EVN CSKH được đưa vào vận hành với tinh thần “đơn giản hơn, thuận tiện hơn, lấy sự hài lòng của khách hàng làm trọng tâm”. Để không làm gián đoạn trải nghiệm của người dân, trong giai đoạn thử nghiệm này, khách hàng vẫn có thể sử dụng song song ứng dụng chăm sóc khách hàng cũ của các tổng công ty điện lực khu vực cùng với ứng dụng “EVN CSKH” mới.
Ứng dụng “EVN CSKH” có nhiều tính năng mang lại một trải nghiệm hoàn toàn khác biệt cho người dùng nhờ tích hợp hàng loạt tính năng thông minh, giải quyết trực tiếp những “nỗi đau” của khách hàng bấy lâu nay.
Người dùng có thể liên kết và quản lý đồng thời nhiều hợp đồng điện với tất cả các công ty điện lực thuộc EVN trên khắp cả nước; tính năng này đặc biệt hữu ích cho những người sở hữu nhiều bất động sản hoặc quản lý hộ tiền điện cho người thân ở các tỉnh thành khác nhau.
Ứng dụng này có chức năng giúp khách hàng kiểm soát điện năng tiêu thụ hàng ngày. Khách hàng có thể tra cứu điện năng tiêu thụ theo ngày, tuần, tháng để theo dõi, giám sát mức sử dụng,tiêu thụ điện cũng như lịch sử tiêu thụ điện.
Khách hàng có thể tự đặt ngưỡng cảnh báo sản lượng tiêu thụ theo số kWh hoặc theo tỷ lệ tăng trưởng (%). Khi lượng điện tiêu thụ vượt ngưỡng, hệ thống sẽ cảnh báo, giúp khách hàng chủ động điều chỉnh thiết bị, tránh tình trạng hóa đơn tiền điện tăng vọt.
Ứng dụng “EVN CSKH” có chức năng giúp khách hàng dễ dàng thanh toán hóa đơn liên kết hoặc thanh toán hộ; tra cứu lịch sử đóng tiền; báo cáo sự cố mất điện hoặc gửi phản hồi trực tiếp đến ngành điện.
Ngoài ra, khi sử dụng ứng dụng “EVN CSKH”, khách hàng dễ dàng tra cứu giá bán điện, lịch ngừng giảm cung cấp điện, hướng dẫn tiết kiệm điện. Đặc biệt, ứng dụng cũng tích hợp tính năng cảnh báo lừa đảo trực tuyến và khuyến cáo thông tin giả mạo nhằm bảo vệ người tiêu dùng trước các chiêu trò gian lận công nghệ cao hiện nay.
Trong giai đoạn tiếp theo, ứng dụng “EVN CSKH” sẽ liên tục được EVN nâng cấp, hoàn thiện kỹ thuật; sẽ cho phép người dân đăng nhập đồng bộ thông qua tài khoản định danh điện tử VNeID, đồng thời bổ sung thêm các tính năng, dịch vụ mở rộng để tối ưu hóa sự tiện lợi.
Người dân, khách hàng sử dụng điện có thể đăng nhập sử dụng ứng dụng dễ dàng bằng số điện thoại di động cá nhân (được xác thực bằng mật khẩu dùng một lần (One-Time Password – OTP). Sau khi đăng nhập lần đầu, khách hàng có thể cài đặt tùy biến, dùng nhận diện khuôn mặt (face ID) hoặc vân tay để đăng nhập tự động lần tiếp theo.
Từ hôm nay 15.6, người dân, khách hàng có thể lên kho ứng dụng App Store (iOS) hoặc CH Play (Android) để tải, cài đặt ứng dụng để trải nghiệm các dịch vụ nói trên; tham khảo hướng dẫn sử dụng ứng dụng “EVN CSKH” tại đây: https://help.evn.com.vn/appcskh/
Đó là chỉ đạo nóng trong văn bản được Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Lê Công Thành ký ngày 28.4, gửi các tập đoàn: Điện lực Việt Nam (EVN); Công nghiệp năng lượng quốc gia Việt Nam (Petrovietnam) và Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) và 32 nhà máy nhiệt điện.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường đề nghị các chủ đầu tư, đơn vị vận hành nhà máy nhiệt điện rà soát toàn diện hiện trạng thiết bị, hiệu quả vận hành của các công trình xử lý chất thải; chủ động rà soát hệ thống xử lý khí thải nhằm phòng ngừa, giảm thiểu sự cố môi trường có thể dẫn tới nguy cơ xả khí thải vượt quy chuẩn kỹ thuật.
Các nhà máy nhiệt điện bảo đảm vận hành ổn định, hiệu quả hệ thống thu gom, xử lý khí thải và hệ thống quan trắc khí thải tự động, liên tục; ưu tiên rà soát, sửa chữa, thay thế, bổ sung vật tư tiêu hao, định kỳ bảo trì, bảo dưỡng thiết bị để bảo đảm điều kiện vận hành ổn định, đặc biệt là trong các tháng cao điểm mùa khô.
Khi phát hiện hệ thống xử lý khí thải xuống cấp, hư hỏng, các nhà máy phải kịp thời khắc phục, sửa chữa và có kế hoạch định kỳ bảo dưỡng, sửa chữa, thay thế vật tư, hóa chất, thiết bị theo hướng chủ động, ưu tiên thực hiện trước mùa khô hoặc bố trí trong các thời điểm phụ tải thấp; không làm gián đoạn vận hành các tổ máy phát điện.
Trường hợp bảo dưỡng, sửa chữa, cải tạo thiết bị có khả năng ảnh hưởng đến công tác huy động công suất phát điện, các nhà máy cần lập kế hoạch cụ thể, phối hợp với đơn vị điều độ hệ thống điện để bố trí thời gian thực hiện phù hợp với kế hoạch huy động điện trong mùa khô theo chỉ đạo, hướng dẫn của cơ quan có thẩm quyền.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường cũng đề nghị chủ đầu tư, đơn vị vận hành nhà máy nhiệt điện xem xét, lựa chọn, kết hợp thực hiện một số biện pháp cụ thể đối với công tác vận hành tổ máy phát điện và hệ thống xử lý bụi, khí thải.
Các nhà máy nhiệt điện tăng cường kiểm soát chặt chẽ chất lượng nhiên liệu đầu vào, đặc biệt là các chỉ tiêu kỹ thuật về hàm lượng lưu huỳnh, tro, độ ẩm trong than. Trên cơ sở đó, các nhà máy dự báo nồng độ phát thải đối với các thông số ô nhiễm cơ bản trong khí thải (SO2, NOx và bụi tổng) để điều chỉnh tỷ lệ phối trộn nhiên liệu phù hợp; không tiếp nhận than không bảo đảm chất lượng theo thiết kế công nghệ của tổ máy.
Các nhà máy nhiệt điện duy trì và tăng cường bề mặt trao đổi nhiệt (thông qua cơ chế nghiền than, chế độ cấp gió, xử lý xỉ lò), bảo đảm hiệu suất cháy ổn định, hạn chế dao động tải nhằm vận hành tổ máy ở chế độ tối ưu đồng thời hạn chế tối đa việc thay đổi đột biến về nồng độ của các thông số ô nhiễm trong khí thải.
Để tăng cường khả năng vận hành hiệu quả hệ thống xử lý khí thải, giảm thiểu nguy cơ xả khí thải vượt quy chuẩn kỹ thuật môi trường, Bộ Nông nghiệp và Môi trường khuyến nghị thiết lập ngưỡng cảnh báo nội bộ về các thông số ô nhiễm trong khí thải (như CO, NOx, SO2, bụi tổng) phù hợp để chủ động điều chỉnh tỷ lệ thành phần nhiên liệu, chế độ vận hành của tổ máy.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường cũng lưu ý các đơn vị về lộ trình áp dụng Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia mới về khí thải công nghiệp (QCVN 19:2024/BTNMT) có hiệu lực từ ngày 1.7.2025. Các nhà máy vận hành trước ngày 1.7.2025 tiếp tục áp dụng quy chuẩn cũ (QCVN 22:2009/BTNMT) đến hết ngày 31.12.2031.
Ngay từ bây giờ, các chủ đầu tư nhà máy nhiệt điện khẩn trương nghiên cứu chuyển đổi công nghệ sản xuất và xử lý chất thải ngay để đáp ứng các quy định nghiêm ngặt tại quy chuẩn QCVN 19:2024/BTNMT từ ngày 1.1.2032.
Ông Đỗ Thiên Anh Tuấn - giảng viên Trường Chính sách công và Quản lý Fulbright cho rằng, bước sang năm 2026, bài toán vốn đầu tư trở nên khó khăn hơn nhiều. Mục tiêu tăng trưởng cho 5 năm tới đã được đẩy lên mức 10%/năm, lạm phát dự kiến 4,5% mỗi năm. Để đạt mục tiêu tăng trưởng GDP 40% và kiểm soát lạm phát đề ra thì tổng vốn đầu tư 5 năm có thể lên tới gần 40 triệu tỉ đồng. Trong đó, mục tiêu đầu tư công chiếm 20 - 22%, tương ứng khoảng 8 - 9 triệu tỉ đồng hay 8 - 9% GDP.
Để huy động được số vốn đầu tư lên đến gần 40 triệu tỉ đồng trong 5 năm tới, ông Đỗ Thiên Anh Tuấn đề xuất: Đầu tư công có thể nâng lên khoảng 10% GDP, nhưng phải tập trung vào hạ tầng chiến lược, có sức lan tỏa cao, tránh dàn trải và mở rộng thiếu kiểm soát. Thứ hai, tín dụng ngân hàng duy trì ở mức hợp lý, đáp ứng khoảng 12% GDP cho đầu tư xã hội, ưu tiên sản xuất, hạn chế đầu cơ. Thứ ba, cải cách mạnh mẽ thị trường vốn, nâng quy mô huy động qua cổ phiếu và trái phiếu lên ít nhất 4% GDP. Thứ tư, thúc đẩy kinh tế tư nhân, cải thiện môi trường kinh doanh, hỗ trợ khởi nghiệp và nâng tỷ phần vốn tự có cho đầu tư lên khoảng 6% GDP. Thứ năm, tăng cường thu hút FDI có chất lượng, phấn đấu đóng góp ít nhất 6% GDP vào tổng vốn đầu tư nền kinh tế. Cuối cùng, phát triển các kênh tài chính mới thông qua Trung tâm tài chính quốc tế, fintech và các mô hình huy động vốn hiện đại, mục tiêu là bổ sung khoảng 0,5-1,0% GDP cho đầu tư phát triển trong 5 năm tới.
Phát biểu tại diễn đàn, ông Nguyễn Phi Lân - Vụ trưởng Vụ Dự báo thống kê, ổn định tiền tệ tài chính (Ngân hàng Nhà nước) cho hay, áp lực đối với hệ thống tài chính - ngân hàng đang gia tăng khi chênh lệch giữa tăng trưởng tín dụng và huy động vốn có xu hướng mở rộng, trong khi tỷ lệ tín dụng/GDP của Việt Nam hiện ở mức rất cao so với nhiều quốc gia trong khu vực. Điều này phản ánh mức độ phụ thuộc lớn của nền kinh tế vào vốn tín dụng ngân hàng, đồng thời tiềm ẩn rủi ro đối với thanh khoản và an toàn hệ thống các tổ chức tín dụng nếu xuất hiện các cú sốc từ bên ngoài hoặc chất lượng tài sản suy giảm. Trong bối cảnh dư địa điều hành chính sách tiền tệ không còn nhiều như các giai đoạn trước, yêu cầu cần phát triển cân bằng hơn giữa thị trường tiền tệ và thị trường vốn, đa dạng hóa các kênh dẫn vốn cho nền kinh tế, giảm dần sự phụ thuộc quá lớn vào tín dụng ngân hàng.
"Doanh nghiệp cần thay đổi tư duy phụ thuộc quá lớn vào vốn vay ngân hàng, chủ động đa dạng hóa nguồn vốn thông qua thị trường chứng khoán, thị trường trái phiếu doanh nghiệp, quỹ đầu tư, hợp tác công - tư và các hình thức huy động vốn trung dài hạn khác. Việc phát triển cân bằng giữa tín dụng ngân hàng và các kênh dẫn vốn khác không chỉ giúp doanh nghiệp nâng cao khả năng chống chịu tài chính mà còn góp phần giảm áp lực lên hệ thống ngân hàng và tăng tính bền vững của nền kinh tế", ông Nguyễn Phi Lân cho hay.
Đây không chỉ là một tuyến tàu chạy trên cao hay dưới lòng đất thông thường, mà là mạch máu kết nối hai trung tâm quan trọng nhất của TP.HCM: khu vực lõi lịch sử (Bến Thành) và trung tâm tài chính tương lai (Thủ Thiêm).
Dự án bắt đầu từ ga Bến Thành và kết thúc tại ga Thủ Thiêm, với tổng chiều dài khoảng 6 km, toàn bộ đi ngầm với 6 ga gồm: Ga Hàm Nghi, Tố Hữu, Cung Thiếu Nhi, Bệnh viện Quốc tế, Bình Khánh, Thủ Thiêm.
Xuất phát từ ga Bến Thành, tuyến metro Bến Thành - Thủ Thiêm đi dọc đường Hàm Nghi, sau đó vượt sông Sài Gòn ở độ sâu khoảng 41m. Để đáp ứng yêu cầu kỹ thuật, ga Hàm Nghi được xây dựng sâu tới 33m, trở thành nhà ga ngầm sâu nhất TP.HCM.
Ông Trần Bá Dương - Chủ tịch HĐQT THACO - cho biết: Dự án đi qua khu vực Thủ Thiêm - nơi có nền đất yếu, điều kiện địa chất và thủy văn phức tạp do ảnh hưởng của hệ thống sông Sài Gòn. Điều này đặt ra yêu cầu rất cao về kiểm soát biến dạng công trình trong suốt quá trình thi công và vận hành.
Theo thiết kế, độ chuyển vị của đường hầm phải được kiểm soát không vượt quá 15 mm (tương đương 1/1.000), nhằm đảm bảo an toàn tuyệt đối cho công trình và các khu vực lân cận.
Để đáp ứng yêu cầu này, các giải pháp kỹ thuật tiên tiến đã được nghiên cứu và áp dụng đồng bộ. Trong đó, gia cố nền đất yếu được xác định là yếu tố then chốt. Tại khu vực Thủ Thiêm, công nghệ cọc đất - xi măng (CDM) theo phương pháp trộn sâu được sử dụng.
Công nghệ này phá vỡ cấu trúc đất tại chỗ, đồng thời trộn với vữa xi măng để tạo thành các trụ đất gia cố có cường độ cao, hình thành hệ kết cấu ổn định bao quanh và dưới đáy hầm cũng như các nhà ga.
THACO đảm nhiệm vận hành máy khoan TBM và lắp đặt vỏ hầm. Đáng chú ý, đây cũng là lần đầu tiên tại Việt Nam, công nghệ khoan hầm cân bằng áp lực dung dịch (SPB-TBM) với hệ thống bùn tuần hoàn khép kín được sử dụng để thi công đoạn vượt sông Sài Gòn và đoạn đi qua Tu viện Dòng Mến Thánh Giá Thủ Thiêm. Công nghệ này sử dụng hệ thống dung dịch bùn tuần hoàn khép kín để tạo áp lực cân bằng chính xác, hình thành lớp "màng lọc" ổn định, giúp kiểm soát nguy cơ sạt lở và xâm nhập nước.
Giải pháp này cũng được áp dụng cho các đoạn đi qua khu vực có công trình hiện hữu nhạy cảm, nhằm đảm bảo an toàn tuyệt đối.
Về công nghệ vận hành, tuyến metro áp dụng tiêu chuẩn tự động hóa hoàn toàn cao nhất thế giới (GoA4), tích hợp dữ liệu về Trung tâm điều hành tập trung (OCC).
Dự án cũng đánh dấu bước ngoặt của ngành công nghiệp đường sắt Việt Nam khi THACO đầu tư Tổ hợp Công nghiệp đường sắt quy mô 320 ha tại TP.HCM nhằm nội địa hóa thiết bị đầu máy, toa xe.
Thông qua hợp tác với Hyundai Rotem (Hàn Quốc), các bộ linh kiện CKD và khung vỏ hợp kim nhôm sẽ được lắp ráp, sản xuất ngay trong nước. "Với cam kết quản lý minh bạch, tối ưu chi phí và ứng dụng công nghệ tiên tiến, dự án không chỉ giải quyết bài toán giao thông mà còn đặt nền móng cho hệ sinh thái công nghiệp cơ khí chế tạo đạt tầm khu vực", Chủ tịch THACO Trần Bá Dương khẳng định.
Tuyến metro số 2 (đoạn Bến Thành - Thủ Thiêm) có tổng mức đầu tư hơn 36.700 tỉ đồng, dự kiến hoàn thành vào năm 2030.