Tại nhịp giảm gần nhất lúc 10 giờ 50 hôm nay 5.6, Công ty Vàng bạc đá quý Sài Gòn (SJC) mua vào và bán ra mỗi lượng vàng miếng SJC ở mức 150,8 – 153,8 triệu đồng, giảm 2,2 triệu đồng/lượng so chốt ngày 4.6.
Tính từ 1 – 5.6, giá vàng miếng SJC đã giảm 5,1 triệu đồng/lượng. So với mức giá bán ra cao nhất từ đầu năm tới nay ghi nhận ngày 29.1 (191,3 triệu đồng/lượng), người mua vàng miếng SJC đã lỗ 40,5 triệu đồng/lượng.
Hôm nay, giá bạc cũng tiếp tục giảm. Từ khi mở cửa giao dịch tới hơn 11 giờ, bạc 1 kg được bán ra quanh mức 75 – 76 triệu đồng/kg.
Lúc 10 giờ 32, Công ty cổ phần kim loại quý Ancarat Việt Nam niêm yết giá mua vào và bán ra mỗi kg bạc là 73,333 – 75,6 triệu đồng, giảm 1,73 – 1,78 triệu đồng/kg.
Công ty Vàng bạc đá quý Phú Quý giao dịch giá mỗi kg bạc vào lúc 10 giờ 29 ở mức 73,199 – 75,466 triệu đồng (mua – bán), giảm 907.000 – 933.000 đồng…
So với mức bán ra cao nhất từ đầu năm tới nay ghi nhận ngày 29.1 (121,9 triệu đồng/kg), người “đu đỉnh” lỗ hơn 48 triệu đồng/kg.
Giá vàng thế giới giao ngay lúc 10 giờ 37 (giờ Việt Nam) hôm nay là 4.438,9 USD/ounce, giảm 35,5 USD/ounce (tương đương 0,7%); giá bạc giao ngay là 72,51 USD/ounce, giảm 1,25 USD/ounce (tương đương 1,7%) so với chốt phiên trước đó.
Tin Gốc: Thanh Niên

Khó khăn giảm phát thải với ngành xi măng là chia sẻ được ông Lương Đức Long, Phó chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Xi măng Việt Nam, nêu tại hội thảo "Vật liệu xây dựng xanh - xu thế phát triển bền vững", do Báo Xây dựng tổ chức chiều 5.5.
Theo ông Long, đầu năm 2026, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 263/QĐ-TTg phê duyệt tổng hạn ngạch phát thải khí nhà kính thí điểm cho năm 2025 - 2026. Riêng ngành xi măng, có 51 doanh nghiệp sản xuất được giao hạn mức phát thải, dự kiến đến năm 2026 sẽ mở rộng lên hơn 60 doanh nghiệp.
Theo kế hoạch, đến năm 2027, toàn ngành xi măng được phân bổ tổng lượng phát thải khoảng 2,6 triệu tấn CO₂. Căn cứ theo Nghị định 06/2022/NĐ-CP quy định giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và bảo vệ tầng Ozone, giai đoạn thí điểm sẽ kéo dài đến hết năm 2028, sau đó hình thành thị trường carbon trong nước và bắt đầu phân bổ, giao dịch tín chỉ carbon từ năm 2029.
Tuy nhiên, theo ông Long, việc thực hiện các mục tiêu giảm phát thải còn gặp nhiều thách thức. Mặc dù đã phân bổ chỉ tiêu phát thải cho từng doanh nghiệp, nhưng khả năng cắt giảm trong thực tế còn hạn chế do ràng buộc về công nghệ.
Ví dụ, trong sản xuất clinker, công đoạn phát thải lớn nhất của ngành xi măng, hiện nay công nghệ trên thế giới cũng đã gần đạt giới hạn tối ưu, rất khó giảm sâu hơn. Một hướng đi là giảm tỷ lệ clinker trong xi măng, tuy nhiên, các nghiên cứu (như của AFC năm 2025 tại Việt Nam) cho thấy dù khả thi nhưng vẫn chịu áp lực về giá thành và thị trường.
Do đó, Tổng thư ký Hiệp hội Xi măng kiến nghị Bộ Xây dựng giao Viện Vật liệu xây dựng tiếp tục nghiên cứu, đề xuất các giải pháp công nghệ phù hợp với điều kiện Việt Nam.
Còn theo Thứ trưởng Bộ Xây dựng Nguyễn Văn Sinh, xanh hóa ngành vật liệu xây dựng không chỉ là một xu hướng, mà trở thành yêu cầu cấp thiết của phát triển. Các sản phẩm vật liệu xây không nung được hình thành và phát triển với nhiều chủng loại như gạch xi măng cốt liệu, bê tông khí chưng áp, bê tông bọt, tấm tường rỗng đùn ép, tấm tường bê tông khí chưng áp.
Hiện, cả nước đã có khoảng 2.900 cơ sở sản xuất vật liệu xây không nung hoạt động với tổng công suất thiết kế khoảng 12,4 tỉ viên quy tiêu chuẩn/năm, chiếm khoảng 40% tổng công suất thiết kế vật liệu xây. Năm 2025, sản lượng sản xuất đạt trên 7,2 tỉ viên quy tiêu chuẩn, tiêu thụ khoảng 6,7 tỉ viên.
Nhiều sản phẩm vật liệu xây dựng trong nước đã từng bước tiếp cận các hệ thống chứng nhận xanh, chứng nhận môi trường và các yêu cầu kỹ thuật cao của thị trường trong nước, khu vực và quốc tế...
Tuy nhiên, lãnh đạo Bộ Xây dựng thừa nhận, quá trình chuyển đổi xanh của ngành vật liệu xây dựng vẫn đang đối mặt với không ít khó khăn, vướng mắc. Theo đó, áp lực về chi phí đầu tư ban đầu cho đổi mới công nghệ còn ở mức cao.
Sức ép cạnh tranh ngày càng lớn; người tiêu dùng vẫn quen sử dụng vật liệu truyền thống nên khả năng hấp thụ thị trường đối với vật liệu xanh còn chưa mạnh. Cạnh đó, hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật đối với một số loại vật liệu mới cần tiếp tục hoàn thiện.
Cơ chế khuyến khích thúc đẩy phát triển vật liệu xanh chưa thật sự đủ mạnh. Việc tiếp cận tín dụng xanh, ưu đãi đầu tư, ưu đãi thuế và các công cụ tài chính hỗ trợ chuyển đổi xanh vẫn còn là vấn đề mà nhiều doanh nghiệp quan tâm.
"Điều thị trường cần lúc này không chỉ là những nỗ lực đơn lẻ của từng doanh nghiệp, mà là một khung thể chế mới đủ sức dẫn dắt đầu tư, định hướng tiêu dùng và sàng lọc công nghệ mới, sản phẩm mới để nâng cao năng lực cạnh tranh, mang lại lợi ích cho Nhà nước, doanh nghiệp, người dân", ông Sinh chia sẻ.
Với Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị, lãnh đạo Bộ Xây dựng cho biết, yêu cầu đặt ra không chỉ đổi mới thiết bị, công nghệ sản xuất, mà còn phải đổi mới tư duy quản lý, đổi mới mô hình tăng trưởng, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số, nâng cao năng lực nghiên cứu, thiết kế sản phẩm và quản trị chuỗi cung ứng trong toàn ngành.
Tin Gốc: Thanh Niên

Tại họp báo thường kỳ quý II/2026 của Bộ Tài chính sáng nay (17/6), ông Trương Bá Tuấn - Phó Cục trưởng Cục Chính sách thuế, phí và lệ (Bộ Tài chính) cho biết, mục tiêu thúc đẩy tăng trưởng xanh là chủ trương xuyên suốt của Việt Nam.
Thời gian vừa qua, Bộ Tài chính đã tham mưu Chính phủ nhiều giải pháp về thuế để thúc đẩy việc sử dụng nhiên liệu sạch như xăng E5, E10.
Trong đó, các giải pháp về thuế chủ yếu tập trung vào việc giảm chi phí sử dụng xăng E5, E10 cho người tiêu dùng thông qua việc giảm chi phí sản xuất của nhà sản xuất và giảm chi phí thuế trực tiếp cho người sử dụng.
Đối với việc giảm chi phí thuế cho các nhà sản xuất xăng E5, E10, pháp luật về thuế đã quy định các chính sách ưu đãi đối với thuế nhập khẩu, thuế sử dụng đất phi nông nghiệp, thuế thu nhập doanh nghiệp cho các dự án sản xuất xăng sinh học, năng lượng sạch. Đây là các dự án thuộc nhóm đối tượng được hưởng ưu đãi đầu tư.
Cùng với đó, để thúc đẩy việc giảm giá phí sản xuất xăng E10, gần đây Bộ Tài chính đã tham mưu Chính phủ điều chỉnh giảm các mức thuế nhập khẩu của mặt hàng ethanol, là nguyên liệu phối trộn xăng E10, từ 10% xuống 5%.
Theo ông Tuấn, Việt Nam là nước có sản xuất ethanol nhưng hiện không đáp ứng đủ nhu cầu sử dụng nên vẫn phải nhập khẩu, do đó cần chính sách hỗ trợ để giảm chi phí nhập khẩu mặt hàng này.
Để giảm chi phí thuế cho người tiêu dùng xăng E5, E10, lãnh đạo Cục Chính sách thuế, phí và lệ cho biết hiện tại, Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt có quy định xăng khoáng chịu thuế suất 10%, nhưng xăng E10 chỉ chịu thuế 7%.
Tại quy định pháp luật về thuế bảo vệ môi trường cũng chỉ quy định thu thuế bảo vệ môi trường đối với phần nhiên liệu hóa thạch cấu thành trong sản phẩm.
Như vậy, xăng E10 chỉ bị tính thuế bảo vệ môi trường với phần xăng khoáng dùng để phối trộn, trong khi phần ethanol sẽ được loại trừ.
Ông Tuấn cho biết thêm ngày 16/6, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 29/2026 về việc thí điểm một số chính sách trong triển khai lộ trình sử dụng xăng E10.
Tại khoản 3, Điều 5 của nghị quyết có giao trách nhiệm cho Bộ Tài chính tiếp tục nghiên cứu, rà soát các quy định liên quan đến chính sách Thuế Tiêu thụ đặc biệt, Thuế Bảo vệ môi trường đối với xăng E10 nếu cần thiết.
"Thực hiện nhiệm vụ được giao, Bộ Tài chính sẽ nghiên cứu, đánh giá lại toàn bộ chính sách thuế liên quan xăng E10, trong đó có chính sách về Thuế Tiêu thụ đặc biệt, Thuế Bảo vệ môi trường, để báo cáo Chính phủ và các cấp có thẩm quyền xem xét điều chỉnh nếu cần thiết", ông Tuấn thông tin thêm.
Trước đó, Bộ Công Thương cho biết, sau 14 ngày triển khai thực hiện lộ trình xăng sinh học E10 và E5 trên toàn quốc (từ ngày 1/6-15/6), mức độ tiêu thụ xăng dầu tăng hơn trước khi chuyển đổi, nguồn cung nhiên liệu phục vụ phối trộn, pha chế cũng như các mặt hàng xăng E5, E10 được đảm bảo theo nhu cầu tiêu thụ, không xảy ra hiện tượng thiếu xăng dầu cung ứng tới người tiêu dùng cho dù là cục bộ.
Tổng lượng xăng tiêu thụ đạt khoảng 520 triệu lít (khoảng 485 triệu lít E10 và 35 triệu lít E5).
Toàn bộ các hãng sản xuất, lắp ráp ô tô, xe máy đều khẳng định, các phương tiện ô tô, xe máy sản xuất, phân phối tại Việt Nam đều tương thích với xăng E10, trừ một số ít phương tiện quá cũ, đã phân phối, có thể không còn lưu hành... có thể không tương thích với xăng E10.
Hầu hết người tiêu dùng yên tâm về tính tương thích của xăng E10 đối với phương tiện, động cơ. Trên toàn quốc chưa xảy ra sự cố đáng tiếc nào liên quan đến việc sử dụng xăng E10, chưa có khiếu nại hay phản ánh chính thức nào tới các Thương nhân đầu mối hiện đang chi phối toàn bộ thị trường xăng E5, E10 về chất lượng xăng hay các hỏng hóc phương tiện do xăng E5, E10 gây ra.
Hệ thống phối trộn, pha chế đã được 13/26 thương nhân đầu mối đầu tư, trong đó 7 doanh nghiệp đã được cấp phép hoạt động, với tổng công suất khoảng 1,1 triệu m3/tháng, cùng với nhà máy lọc dầu Dung Quất thì năng lực phối trộn, pha chế E5, E10 cơ bản đáp ứng nhu cầu trên toàn quốc.
Tin Gốc: Người Đưa Tin

Công trình này có ý nghĩa quan trọng trong việc đáp ứng nhu cầu điện cho sản xuất, sinh hoạt, dịch vụ, du lịch trên đảo Lại Sơn và các đảo lân cận, góp phần đảm bảo an ninh quốc phòng, giữ vững chủ quyền biển đảo tổ quốc.
Thông tin từ EVNSPC, Trạm biến áp 110kV Lại Sơn được khởi công ngày 17.12.2025 để chào mừng Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 14 của Đảng. Công trình có tổng mức đầu tư hơn 101,4 tỉ đồng, quy mô công suất là 2x25MVA, đường dây 110kV đấu nối dài 0,03 km (02 mạch).
Trạm được trang bị hệ thống thông tin liên lạc SCADA, HMI và camera giám sát để hiện đại hóa công tác quản lý vận hành. Hệ thống này giúp thu thập dữ liệu, giám sát và điều khiển từ xa các thiết bị trạm, góp phần đáp ứng mục tiêu quản lý tập trung và tự động hóa trong ngành điện. Đặc biệt, công trình cũng lắp đặt hệ thống pin năng lượng mặt trời trên mái nhà điều hành, với công suất 23,1kWp, đấu nối với lưới điện tự dùng 0,4 kV của trạm biến áp 110kV đảm bảo các yêu cầu, quy định.
Khi đóng điện đưa vào vận hành, Trạm biến áp 110kV Lại Sơn sẽ khai thác hiệu quả đường dây 110kV An Biên - Lại Sơn (đang vận hành cấp điện áp 22kV). Trong tương lai sẽ cung cấp điện cho xã đảo An Sơn - Nam Du từ lưới điện quốc gia thông qua dự án cấp điện cho đảo An Sơn - Nam Du, thay cho các trạm phát điện diesel hiện hữu.
Dưới sự chỉ đạo của EVNSPC, công trình đóng điện vượt kế hoạch nhờ sự nỗ lực, quyết tâm của các đơn vị tham gia như: Ban Quản lý dự án Điện lực miền Nam, Công ty Điện lực An Giang, Trung tâm Điều hành SCADA, Công ty Thí nghiệm Điện miền Nam, Công ty tư vấn Điện miền Nam, các nhà thầu thi công và sự đồng hành, hỗ trợ của Trung tâm Điều độ hệ thống điện miền Nam (SSO). Đặc biệt là sự phối hợp tích cực của các cấp chính quyền, sở ban ngành địa phương và người dân trên địa bàn.
Trước đó, chiều 16.4, Chủ tịch HĐTV EVNSPC Lê Văn Trang cùng đoàn công tác đã đến kiểm tra thực tế tình hình cung cấp điện trên đảo An Sơn - Nam Du, rà soát hiện trạng vận hành nguồn điện diesel, hệ thống lưới điện hiện hữu nhằm chuẩn bị để sớm triển khai dự án cấp điện cho đảo An Sơn - Nam Du từ lưới điện quốc gia. "Chúng tôi xác định đây là nhiệm vụ trọng tâm, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc nâng cao chất lượng đời sống người dân, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an ninh quốc phòng khu vực biển đảo trong thời gian tới", đại diện EVNSPC nhấn mạnh.
Tin Gốc: Thanh Niên

