Khó khăn giảm phát thải với ngành xi măng là chia sẻ được ông Lương Đức Long, Phó chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Xi măng Việt Nam, nêu tại hội thảo “Vật liệu xây dựng xanh – xu thế phát triển bền vững”, do Báo Xây dựng tổ chức chiều 5.5.
Theo ông Long, đầu năm 2026, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 263/QĐ-TTg phê duyệt tổng hạn ngạch phát thải khí nhà kính thí điểm cho năm 2025 – 2026. Riêng ngành xi măng, có 51 doanh nghiệp sản xuất được giao hạn mức phát thải, dự kiến đến năm 2026 sẽ mở rộng lên hơn 60 doanh nghiệp.
Theo kế hoạch, đến năm 2027, toàn ngành xi măng được phân bổ tổng lượng phát thải khoảng 2,6 triệu tấn CO₂. Căn cứ theo Nghị định 06/2022/NĐ-CP quy định giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và bảo vệ tầng Ozone, giai đoạn thí điểm sẽ kéo dài đến hết năm 2028, sau đó hình thành thị trường carbon trong nước và bắt đầu phân bổ, giao dịch tín chỉ carbon từ năm 2029.
Tuy nhiên, theo ông Long, việc thực hiện các mục tiêu giảm phát thải còn gặp nhiều thách thức. Mặc dù đã phân bổ chỉ tiêu phát thải cho từng doanh nghiệp, nhưng khả năng cắt giảm trong thực tế còn hạn chế do ràng buộc về công nghệ.
Ví dụ, trong sản xuất clinker, công đoạn phát thải lớn nhất của ngành xi măng, hiện nay công nghệ trên thế giới cũng đã gần đạt giới hạn tối ưu, rất khó giảm sâu hơn. Một hướng đi là giảm tỷ lệ clinker trong xi măng, tuy nhiên, các nghiên cứu (như của AFC năm 2025 tại Việt Nam) cho thấy dù khả thi nhưng vẫn chịu áp lực về giá thành và thị trường.
Do đó, Tổng thư ký Hiệp hội Xi măng kiến nghị Bộ Xây dựng giao Viện Vật liệu xây dựng tiếp tục nghiên cứu, đề xuất các giải pháp công nghệ phù hợp với điều kiện Việt Nam.
Còn theo Thứ trưởng Bộ Xây dựng Nguyễn Văn Sinh, xanh hóa ngành vật liệu xây dựng không chỉ là một xu hướng, mà trở thành yêu cầu cấp thiết của phát triển. Các sản phẩm vật liệu xây không nung được hình thành và phát triển với nhiều chủng loại như gạch xi măng cốt liệu, bê tông khí chưng áp, bê tông bọt, tấm tường rỗng đùn ép, tấm tường bê tông khí chưng áp.
Hiện, cả nước đã có khoảng 2.900 cơ sở sản xuất vật liệu xây không nung hoạt động với tổng công suất thiết kế khoảng 12,4 tỉ viên quy tiêu chuẩn/năm, chiếm khoảng 40% tổng công suất thiết kế vật liệu xây. Năm 2025, sản lượng sản xuất đạt trên 7,2 tỉ viên quy tiêu chuẩn, tiêu thụ khoảng 6,7 tỉ viên.
Nhiều sản phẩm vật liệu xây dựng trong nước đã từng bước tiếp cận các hệ thống chứng nhận xanh, chứng nhận môi trường và các yêu cầu kỹ thuật cao của thị trường trong nước, khu vực và quốc tế…
Tuy nhiên, lãnh đạo Bộ Xây dựng thừa nhận, quá trình chuyển đổi xanh của ngành vật liệu xây dựng vẫn đang đối mặt với không ít khó khăn, vướng mắc. Theo đó, áp lực về chi phí đầu tư ban đầu cho đổi mới công nghệ còn ở mức cao.
Sức ép cạnh tranh ngày càng lớn; người tiêu dùng vẫn quen sử dụng vật liệu truyền thống nên khả năng hấp thụ thị trường đối với vật liệu xanh còn chưa mạnh. Cạnh đó, hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật đối với một số loại vật liệu mới cần tiếp tục hoàn thiện.
Cơ chế khuyến khích thúc đẩy phát triển vật liệu xanh chưa thật sự đủ mạnh. Việc tiếp cận tín dụng xanh, ưu đãi đầu tư, ưu đãi thuế và các công cụ tài chính hỗ trợ chuyển đổi xanh vẫn còn là vấn đề mà nhiều doanh nghiệp quan tâm.
“Điều thị trường cần lúc này không chỉ là những nỗ lực đơn lẻ của từng doanh nghiệp, mà là một khung thể chế mới đủ sức dẫn dắt đầu tư, định hướng tiêu dùng và sàng lọc công nghệ mới, sản phẩm mới để nâng cao năng lực cạnh tranh, mang lại lợi ích cho Nhà nước, doanh nghiệp, người dân”, ông Sinh chia sẻ.
Với Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị, lãnh đạo Bộ Xây dựng cho biết, yêu cầu đặt ra không chỉ đổi mới thiết bị, công nghệ sản xuất, mà còn phải đổi mới tư duy quản lý, đổi mới mô hình tăng trưởng, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số, nâng cao năng lực nghiên cứu, thiết kế sản phẩm và quản trị chuỗi cung ứng trong toàn ngành.
Tại xưởng đóng tàu Chantiers de l’Atlantique ở Saint-Nazaire, Pháp, tàu Orient Express Corinthian – du thuyền buồm lớn nhất thế giới – vừa chính thức được bàn giao và làm lễ đặt tên vào một ngày cuối tháng 4.
Với trọng lượng rẽ nước khoảng 15.000 tấn, dài 220 mét, con tàu không chỉ lập kỷ lục về quy mô mà còn chứng minh sức mạnh của công nghệ cánh buồm hiện đại trong kỷ nguyên giảm phát thải carbon.
Điểm nổi bật nhất của Corinthian chính là hệ thống SolidSail – công nghệ buồm cứng do Chantiers de l’Atlantique tự phát triển sau một thập kỷ nghiên cứu.
Tàu Corinthian sở hữu 3 cột buồm khổng lồ, mỗi cột cao hơn 100 mét, mang theo tổng diện tích buồm hơn 4.500 m2. Các cột buồm được tự động hóa hoàn toàn, có thể xoay 360 độ để tận dụng tối đa hướng gió và gập nghiêng tới 70 độ, giúp tàu dễ dàng đi qua cầu thấp hoặc những nơi hạn chế về chiều cao.
Trong các chuyến thử nghiệm trên biển vào tháng 2/2026, Corinthian đã đạt tốc độ 12 hải lý/giờ chỉ với sức gió 20 hải lý/giờ – một kỷ lục chưa từng có với tàu cỡ này khi di chuyển hoàn toàn bằng sức gió.
Nhờ đó, tàu có thể lướt đi êm ru và gần như không tiếng ồn, mang lại trải nghiệm sang trọng độc đáo cho hành khách.
Khi cần thêm công suất, hệ thống hybrid sử dụng khí hóa lỏng tự nhiên (LNG) sẽ hỗ trợ, kết hợp nhiều giải pháp tiết kiệm năng lượng khác.
Tàu còn trang bị hệ thống AI phát hiện động vật biển và công nghệ định vị động để không cần neo đậu, bảo vệ đáy biển.
Corinthian được thiết kế như một khách sạn nổi xa xỉ theo phong cách Orient Express huyền thoại. Tàu có 54 suite sang trọng trên 4 boong, diện tích từ 45 đến 230 m2, mỗi suite đều có ban công riêng hoặc cửa sổ panorama, nội thất da, gỗ và đá cẩm thạch tinh xảo.
Tàu phục vụ tối đa 110 hành khách với số lượng thủy thủ tương đương, đảm bảo dịch vụ cá nhân hóa cao cấp.
Hành khách có thể thưởng thức ẩm thực từ 5 nhà hàng do đầu bếp Michelin Yannick Alléno phụ trách, thưởng thức biểu diễn tại nhà hát 115 chỗ, thư giãn tại spa Guerlain, bể bơi hoặc marina riêng.
Ông Sébastien Bazin, Chủ tịch kiêm CEO Tập đoàn Accor, cho biết việc mở rộng Orient Express ra biển là bước đi tự nhiên, kết hợp di sản 160 năm của xưởng Chantiers de l’Atlantique với đẳng cấp xa xỉ đỉnh cao.
Con tàu bắt đầu hoạt động thương mại bằng chuyến khởi hành từ Saint-Nazaire ngày 2/5 hướng về Riviera Pháp, dành mùa đầu tiên khám phá Địa Trung Hải và Adriatic trước khi chuyển sang Caribbean vào mùa đông.
Tàu chị em của Corinthian, gọi là Orient Express Olympian, dự kiến sẽ được bàn giao năm 2027.
Với Corinthian, ngành hàng hải không chỉ chứng kiến một con tàu khổng lồ mà còn là minh chứng sống động cho tương lai xanh: Du lịch xa xỉ có thể hài hòa với môi trường.
Con tàu 15.000 tấn lướt êm trên sóng nhờ sức gió không chỉ mang lại hành trình sang trọng mà còn truyền cảm hứng về công nghệ bền vững cho ngành công nghiệp tàu biển toàn cầu.
Orient Express đã là một phần của Tập đoàn Accor từ năm 2022. Năm 2024, Accor và LVMH đã thành lập một quan hệ đối tác chiến lược nhằm thúc đẩy sự phát triển của thương hiệu xa xỉ.
Sáng 16/7, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc chủ trì cuộc làm việc với Bộ Tài chính cùng các bộ, ngành, doanh nghiệp liên quan về tình hình thực hiện hồ sơ, thủ tục điều chỉnh chủ trương đầu tư Dự án điện hạt nhân Ninh Thuận, đồng thời xem xét công tác chuẩn bị đầu tư Dự án điện hạt nhân Ninh Thuận 1.
Theo báo cáo của Bộ Tài chính, thực hiện Quyết định số 496 ngày 27/3/2026 của Thủ tướng Chính phủ, Hội đồng Thẩm định nhà nước đã hoàn thành thẩm định việc điều chỉnh chủ trương đầu tư Dự án điện hạt nhân Ninh Thuận.
Đồng thời kiến nghị Chính phủ báo cáo cấp có thẩm quyền cho phép tách Dự án điện hạt nhân Ninh Thuận thành 3 dự án độc lập gồm: Dự án điện hạt nhân Ninh Thuận 1, Dự án điện hạt nhân Ninh Thuận 2 và Dự án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.
Trên cơ sở chỉ đạo của Phó Thủ tướng Thường trực, Bộ Tài chính đã chủ trì, phối hợp với Bộ Tư pháp, Bộ Công Thương và các cơ quan liên quan hoàn thiện cơ sở pháp lý, tổ chức thẩm định việc điều chỉnh chủ trương đầu tư Dự án điện hạt nhân Ninh Thuận 1 để báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất.
Tại cuộc họp, lãnh đạo các bộ, ngành thống nhất đánh giá Dự án điện hạt nhân Ninh Thuận 1 và Ninh Thuận 2 có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong dài hạn, góp phần giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, đồng thời có ý nghĩa về quốc phòng, an ninh.
Các ý kiến cho rằng việc triển khai các dự án cần có cơ chế, chính sách đặc thù để tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình thẩm định, chuẩn bị đầu tư và tổ chức thực hiện.
Lãnh đạo Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), Tập đoàn Năng lượng - Công nghiệp quốc gia (PVN) đã báo cáo tiến độ triển khai các nhiệm vụ được giao; nêu những khó khăn, vướng mắc về cơ chế đầu tư, phương án tính toán hiệu quả đầu tư và đề xuất các giải pháp tháo gỡ.
Trên cơ sở đó, Bộ Tài chính kiến nghị Chính phủ báo cáo Quốc hội cho phép tách dự án tổng thể điện hạt nhân Ninh Thuận thành 3 dự án thành phần độc lập; giao EVN khẩn trương hoàn thiện hồ sơ Dự án điện hạt nhân Ninh Thuận 1, PVN hoàn thiện hồ sơ Dự án điện hạt nhân Ninh Thuận 2 và UBND tỉnh Khánh Hòa hoàn thiện hồ sơ hợp phần bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.
Các đại biểu cũng tập trung thảo luận các giải pháp hoàn thiện cơ chế, tháo gỡ vướng mắc về thủ tục và đẩy nhanh tiến độ chuẩn bị đầu tư các dự án.
Kết luận cuộc họp, Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc nhấn mạnh, việc triển khai Dự án điện hạt nhân Ninh Thuận 1 và Ninh Thuận 2 là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước, đã được Bộ Chính trị thống nhất và Quốc hội ban hành nghị quyết. Yêu cầu đặt ra hiện nay là phải khẩn trương hoàn thiện các cơ chế, chính sách, hồ sơ, thủ tục để sớm triển khai dự án theo chủ trương đã được cấp có thẩm quyền quyết định.
Nhấn mạnh đây là nhiệm vụ rất khó, chưa có tiền lệ và có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, Phó Thủ tướng Thường trực yêu cầu các bộ, ngành phát huy tinh thần chủ động, nghiên cứu, đề xuất các cơ chế, chính sách đột phá, nhất là trong việc lựa chọn phương thức đầu tư, tạo cơ sở pháp lý và điều kiện thuận lợi để đẩy nhanh tiến độ triển khai dự án.
Phó Thủ tướng Thường trực đề nghị các bộ, ngành, cơ quan, doanh nghiệp liên quan tiếp tục phối hợp chặt chẽ, chủ động tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, bảo đảm tiến độ và chất lượng các nhiệm vụ được giao.
Đồng thời, giao Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với Bộ Công Thương, EVN, PVN, các bộ, ngành, cơ quan liên quan và Văn phòng Chính phủ khẩn trương hoàn thiện hồ sơ, tài liệu theo chức năng, nhiệm vụ được giao, bảo đảm chất lượng và tiến độ báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định, trình Quốc hội theo quy định.
"Tôi thuộc hộ kinh doanh nhóm 3, theo quy định phải khấu trừ toàn bộ chi phí và đóng 17% thuế thu nhập trên doanh thu thực tế, cộng thêm 3% thuế giá trị gia tăng, tổng cộng là 20%. Đây là mức thuế quá cao", chị Hồng Thanh, chủ hộ sản xuất kinh doanh hàng may mặc tại khu vực chợ Tân Bình (TP.HCM), phản ánh. Theo chị Thanh, kể từ khi thực hiện kê khai thuế dựa trên doanh thu thực tế, nhiều bất cập bắt đầu phát sinh. Trong đó, khó khăn lớn nhất là nhiều khoản chi phí phục vụ hoạt động sản xuất, kinh doanh không thể lấy được hóa đơn, chứng từ hợp lệ để khấu trừ thuế. Chẳng hạn, tiền thuê xe ôm vận chuyển hàng từ xưởng ra cửa hàng và chiều ngược lại mỗi ngày không dưới 150.000 đồng, tương đương hơn 4 triệu đồng/tháng; tiền sửa chữa bàn ủi, máy may; tiền mua phụ liệu lắt nhắt khi cần kíp.... "Chiều nay tôi vừa chi 1,6 triệu đồng để sửa 8 chiếc bàn ủi trong xưởng, mua 20 chiếc móc áo và 3 cuộn băng keo ngay tiệm tạp hóa gần xưởng để kịp đóng hàng. Những khoản chi này có thực nhưng không có hóa đơn, tất nhiên không được khấu trừ", chi Thanh nói.
Theo chị Thanh, hiện cơ quan thuế đang hướng dẫn các hộ kinh doanh tạm nộp thuế khoán trong quý 1, tức là 4,5% trên toàn bộ doanh thu và sau đó sẽ quyết toán lại vào cuối năm. Tuy nhiên, chị lo ngại nguy cơ phát sinh nghĩa vụ thuế bổ sung. Chị Thanh cho biết các hộ kinh doanh trong chợ đang phải thuê kế toán làm báo cáo thuế với chi phí thuê dịch vụ khoảng 500.000 đồng/tháng, hóa đơn đầu vào thì không lấy đủ vì nhiều dịch vụ, hàng hóa mua từ hộ kinh doanh nhóm 1, không có hóa đơn. Nếu tính lại và áp phương pháp đóng 17% trên doanh thu thực tế sau khấu trừ chi phí hợp lý thì "chết". "Không có chứng từ hợp lệ để khấu trừ, nhưng đó đều là chi phí thực tế mà hộ kinh doanh như chúng tôi phải chi hằng ngày. Vậy chúng tôi phải làm sao?", chị Thanh đặt câu hỏi.
Tương tự, bà Trần Thị Khuyên, chủ một quán ăn trên đường Nguyễn Chí Thanh (TP.HCM), cho biết doanh thu của quán ước khoảng 3,5 tỉ đồng/năm. Trong quý 1, thuế cơ sở hướng dẫn hộ kinh doanh của bà tạm nộp thuế ở mức 4,5% trên tổng doanh thu, gồm 1,5% thuế thu nhập cá nhân và 3% thuế giá trị gia tăng. Theo cách tính này, số thuế quán ăn của bà Khuyên phải nộp trong năm nay khoảng 157,5 triệu đồng, tương đương hơn 13 triệu đồng/tháng. Ngoài tiền thuế thu nhập tăng mạnh, các chi phí liên quan đến lao động và kế toán cũng khiến hộ kinh doanh đang chịu nhiều áp lực. "Hiện nay thuê người làm là phải đóng bảo hiểm xã hội đầy đủ, không còn kiểu thuê thời vụ như trước vì sợ bị kiểm tra, xử phạt. Từ khi áp dụng kê khai thuế, quán còn phải thuê dịch vụ kế toán với chi phí từ 2 - 4 triệu đồng/tháng, tùy số lượng hóa đơn xuất mỗi ngày", bà nói và lo ngại, với mức tạm đóng hiện nay, tiền thuế đã cao khoảng 5 lần so với mức thuế khoán trước đây. Ngoài ra, hộ kinh doanh còn phải chi những khoản cố định hằng tháng cho dù lời hay lỗ như tiền thuê mặt bằng, bảo hiểm, điện, nước, tiền ăn của nhân viên, phụ cấp chuyên cần, lãi vay ngân hàng…
Tuy nhiên, điều khiến bà Khuyên cũng như nhiều hộ kinh doanh thuộc nhóm doanh thu trên 3 tỉ đồng lo lắng nhất là nguy cơ bị truy thu thuế vào cuối năm. "Mức 4,5% hiện tại được cán bộ thuế giải thích chỉ là tạm đóng. Nếu cuối năm áp dụng cách tính thuế 17% trên phần thu nhập thực tế thì số thuế phải nộp sẽ rất lớn", bà Khuyên băn khoăn và ước tính, với doanh thu 3,5 tỉ đồng/năm trong lĩnh vực ăn uống, quán chỉ có thể thu thập hóa đơn, chứng từ hợp lệ cho khoảng 2 tỉ đồng chi phí. Nếu đóng thuế 17% trên thu nhập chính thức, hộ của bà Khuyên phải đóng 360 triệu đồng/năm thay vì 157,5 triệu đồng như mức tạm tính hiện tại. "Doanh thu 3,5 tỉ đồng mà phải đóng tới 360 triệu đồng tiền thuế thì tương đương hơn 10% doanh thu. Trong khi thực tế ngành ăn uống chỉ lãi khoảng 8 - 12%. Đóng thuế như vậy thì không chỉ lấy công làm lời mà còn có nguy cơ ăn vào vốn", bà nói.
Từ thực tế trên, nhiều hộ kinh doanh kiến nghị hộ kinh doanh có doanh thu trên 3 tỉ đồng trong năm có thể đóng thuế theo tỷ lệ trên doanh thu thay vì trên lợi nhuận. Không truy thu hồi thuế sau giai đoạn tạm nộp, chấp nhận ghi chép giao dịch...
Trao đổi với Báo Thanh Niên, chuyên gia thuế Đinh Thị Huyền, Giám đốc Công ty CP tư vấn thuế Savitax, cho rằng thực tế cho thấy mỗi khi triển khai chính sách thuế mới, chi phí phát sinh trong giai đoạn đầu là điều khó tránh khỏi. Điều này đã được cảnh báo trước và nhiệm vụ cơ quan quản lý là làm thế nào để chi phí tuân thủ của hộ kinh doanh mức thấp nhất. Chẳng hạn, những điều chỉnh gần đây về ngưỡng doanh thu chịu thuế như nâng mức từ 500 triệu đồng/năm lên 1 tỉ đồng/năm, hay quy định nhóm 1 có thể xuất hóa đơn hoặc không cần khởi tạo hóa đơn nếu doanh thu dưới 1 tỉ đồng/năm, cho thấy chính sách thuế hoàn toàn có thể tiếp tục được điều chỉnh theo hướng phù hợp hơn với hộ kinh doanh.
"Theo tôi, năm 2026 nên được xem là giai đoạn thí điểm tính thuế theo doanh thu, làm cơ sở để áp dụng chuyên nghiệp, hợp lý hơn trong các năm tiếp theo. Qua quá trình tư vấn, tôi nhận thấy nhiều hộ kinh doanh vẫn còn lúng túng trong việc kê khai và tuân thủ, dù họ rất muốn thực hiện đúng quy định pháp luật và lo ngại nếu xảy ra sai sót. Vì vậy, các khoản thuế đang được kê khai và áp dụng trong giai đoạn này không nên bị truy thu khi cơ quan chức năng tính toán lại", bà Huyền nêu ý kiến.
PGS-TS Nguyễn Thường Lạng, Viện Thương mại và kinh tế quốc tế, ĐH Kinh tế quốc dân, nhận định ngành thuế đang từng bước hoàn thiện chính sách thuế đối với hộ kinh doanh theo hướng nhân văn và khuyến khích tuân thủ tốt hơn. Theo ông, mục tiêu không chỉ là tăng thu ngân sách mà còn phải tạo điều kiện để hộ kinh doanh phát triển bền vững. Vì thế, nếu không trừ hết được chi phí thực tế, mà đóng đến 17% thì khá cao và nặng. Nếu bắt buộc tính thuế theo khấu trừ chi phí, phải chấp nhận những chi phí hợp lý không có hóa đơn. "Về áp mức thuế thế nào, có thể sử dụng dữ liệu bình quân trong khoảng 3 năm về doanh thu, lợi nhuận và chi phí của hộ kinh doanh để tính toán nghĩa vụ thuế. Trong trường hợp phát hiện dấu hiệu kê khai không chính xác cơ quan thuế có thể áp dụng các biện pháp nhắc nhở, cảnh báo hoặc xử phạt", chuyên gia Nguyễn Thường Lạng nói.