Người tiêu dùng không hài lòng khi cho rằng người bán đã không sòng phẳng với khách hàng vì “lên giá dễ nhưng xuống rất khó”. Trong khi đó, không ít doanh nghiệp, hàng quán cho biết còn phụ thuộc nhiều yếu tố như mặt bằng, lao động, giá nguyên vật liệu… nên bài toán “tăng – giảm giá” không đơn thuần chỉ chạy theo xăng dầu.
Theo dõi kỹ diễn biến giá xăng dầu thời gian qua, ông Nguyễn Văn Nhất (phường Bình Thạnh, TP.HCM) cho biết giá mặt hàng này đã giảm mạnh. Tuy nhiên, điều lạ là nhiều nơi bán “đổ lỗi” cho giá xăng dầu tăng cao trước đó để tăng giá bán đồng loạt thì giờ lại không giảm giá bán, thậm chí có nơi lại tăng.
Cụ thể, trước đó, khi giá xăng dầu tăng mạnh, nhiều hàng quán điều chỉnh tăng 5.000-7.000 đồng/phần ăn. Giá bán các mặt hàng sau đó đã “đua nhau” tăng với cơm vỉa hè hầu hết 35.000 đồng/dĩa trở lên; hay hủ tíu, bún, phở sang hơn tí thì ít nhất cũng 45.000 – 55.000 đồng/tô. Nhưng giờ giá xăng dầu giảm mạnh thì không thấy mấy ai giảm giá bán cả.
“Hàng quán nói chúng tôi chia sẻ với họ lúc giá xăng dầu tăng Chúng tôi hiểu và thông cảm. Nhưng giờ chẳng có mấy người bán chia sẻ lại với khách hàng. Cái này không sòng phẳng với khách”, ông Nhất đặt vấn đề.
Thậm chí trực tiếp đặt vấn đề về việc nên giảm giá bán với chủ quán cơm nhưng bà Trần Thị Hậu (phường Gò Vấp) chỉ nhận được cái lắc đầu từ người bán.
Theo bà Hậu, cuối tháng 3, giá xăng dầu lập đỉnh với gần 40.000 đồng/lít dầu và 34.000 đồng/lít xăng, chủ quán này ngay lập tức để bảng tăng thêm 3.000 đồng/phần ăn, nếu tính thêm đợt tăng trước đó là tổng mức tăng đến 6.000 đồng chỉ trong một tháng.
“Cảm giác giá lên thì rất dễ nhưng xuống thì khó lắm. Lên giá, đổ lỗi cho xăng dầu Nhưng giá xăng dầu giảm mạnh, thậm chí giá dầu đã giảm gần phân nửa thì nay kiếm lý do khác. Chỉ cần thêm 7.000 đồng/dĩa, ngày bán 100 dĩa có thêm 700.000 đồng, có lẽ người bán sợ chịu thiệt”, bà Hậu nhận định.
Ghi nhận tại không ít quán nhậu, nhà hàng ở TP.HCM, trước đây lấy lý do giá xăng dầu tăng mạnh, nhiều nơi điều chỉnh “cộng thêm 20.000-30.000 đồng/món” nhưng nay không nói gì đến việc giảm giá.
Trong khi đó, theo ghi nhận ở nhiều siêu thị và cửa hàng tại TP.HCM, ngoài các nhóm hàng tươi như rau củ quả, trái cây, thịt cá hay áp dụng khuyến mãi, đặc biệt vào cuối ngày hoặc cận hạn sử dụng. Nhiều loại thực phẩm chế biến, đồ gia vị như dầu ăn, nước mắm, sữa tươi, bún, mì khô… trừ thỉnh thoảng có chính sách khuyến mãi, còn lại mức giá niêm yết gần như không giảm so với thời điểm giá xăng dầu tăng cao, thậm chí nhiều thương hiệu còn rục rịch tăng.
Vừa áp dụng giảm giá khoảng 7-8% vì giá xăng dầu giảm, ông Hưng, chủ một quán ăn tại phường Sài Gòn thừa nhận mức giảm trên còn thấp hơn so với mức tăng giá 15% lúc xăng dầu tăng cao trước đó. Tuy vậy, đơn vị cũng đã cố gắng vì khâu vận tải của bên thứ 3 đang neo giá cước ở mức cao.
“Chi phí xăng dầu thường chiếm 35-40% tổng cơ cấu chi phí trong vận tải đường bộ, nên khối vận tải là móc xích rất quan trọng, chi phối lớn đến giá cả. Các khâu phải sòng phẳng với nhau thì người bán sau cùng mới tự tin sòng phẳng với khách”, ông Hưng đánh giá.
Trong khi đó, chủ một quán ăn tại phường Bình Thạnh thừa nhận tình trạng người bán muốn ôm lời nhiều nên không chịu giảm giá đang còn phổ biến. Tuy vậy, theo vị này, khách quan mà nói, ngoài giá xăng dầu, người bán phụ thuộc nhiều vào mặt bằng, lao động, giá nguyên vật liệu… nên bài toán “tăng – giảm giá” không đơn thuần chỉ chạy theo xăng dầu.
Trong khi đó, trao đổi với Tuổi Trẻ ngày 5-7, ông Nguyễn Thanh Lâm, Quản lý ngành hàng của siêu thị thực phẩm sạch Farmers Market, xác nhận dù giá xăng dầu đã giảm mạnh và đơn vị đã đánh tiếng “xem xét lại giá bán”. Nhưng trừ nhóm hàng rau củ quả tươi giá theo mùa vụ, còn lại hầu hết nhà cung cấp chưa chịu giảm giá, trong đó có cả đơn vị đã được tăng giá 10-20% trước đó vì “giá xăng dầu tăng”.
Thậm chí không ít nhà cung cấp thực phẩm chế biến đã và đang đề xuất tăng giá với nhiều lý do.
“Nhà cung cấp lý giải giá xăng dầu hiện nay chỉ là một phần nhỏ, còn lại phải chịu áp lực lớn từ giá cước tàu biển quốc tế, từ tỉ giá, giá nguyên liệu nhập khẩu tăng… Tuy vậy, quan điểm của đơn vị sẽ làm việc lại với nhà cung cấp và ưu tiên nhập hàng của những ai có giá tốt, ổn định hơn, nhà cung cấp giảm giá chúng tôi sẽ điều chỉnh giảm ngay”, ông Lâm khẳng định.
Trao đổi với Tuổi Trẻ, ông Võ Trần Ngọc – Giám đốc kinh doanh Saigon Co.op – cho rằng thị trường đa dạng, có chỗ tranh thủ “tát nước theo mưa” khi giá xăng dầu tăng, nhưng riêng Saigon Co.op ngay từ đầu đã làm việc quyết liệt với nhà cung cấp nên đã cố gắng giữ giá bằng mọi cách, đặc biệt hàng thực phẩm thiết yếu. Do đó, giá bán thời điểm này vẫn giữ ổn định ở mức tốt như trước, thậm chí có áp dụng đa dạng khuyến mãi, hàng bình ổn dồi dào.
“Sức mua thời gian qua còn chậm, và khả năng trong quý 3 và 4 cũng sẽ chậm. Do đó, việc điều chỉnh tăng giá nhiều sẽ gây áp lực lớn cho nhà bán lẻ và cả người tiêu dùng, làm khó kích cầu được sức mua”, ông Ngọc nhận định.
Quyết định được Ngân hàng United Overseas Bank (UOB) công bố trong báo cáo vừa phát hành, nguyên nhân bởi "cú sốc năng lượng phát sinh từ Trung Đông đang tạo ra áp lực ngắn hạn đối với Việt Nam cũng như nhiều nền kinh tế châu Á khác".
Theo nhà băng Singapore, trong bối cảnh giá dầu Brent liên tục dao động trong khoảng 100-110 USD mỗi thùng, chi phí năng lượng gia tăng tác động trực tiếp đến các ngành vận tải và logistics.
Bên cạnh yếu tố giá, tắc nghẽn ở eo biển Hormuz còn ảnh hưởng đến nguồn cung nhiều đầu vào quan trọng cho các ngành từ nông nghiệp, xây dựng đến nhựa, bán dẫn và y tế. Do đó, nguy cơ gián đoạn chuỗi cung ứng trên diện rộng gia tăng.
Ngoài ra, chính sách thương mại của Mỹ cũng là yếu tố cần theo dõi, khi Việt Nam cùng nhiều nước khác, có thể phải đối diện với các cuộc điều tra thương mại, chẳng hạn theo Điều khoản 301 và các quy định liên quan.
Ông Suan Teck Kin, Giám đốc Khối Nghiên cứu thị trường và Kinh tế toàn cầu UOB, đánh giá xung đột Trung Đông đang ảnh hưởng đến giá năng lượng và khả năng bảo đảm nguồn cung. "Điều này khiến doanh nghiệp phải chịu chi phí năng lượng và đầu vào khác cao hơn, làm gia tăng chi phí vận hành và đặt hoạt động sản xuất - kinh doanh trước nhiều rủi ro", ông nói.
UOB đánh giá tăng trưởng GDP quý I của Việt Nam ở mức 7,83% là "vượt kỳ vọng", cao hơn dự báo của ngân hàng này (7%) và của Bloomberg (7,6%). Ba tháng đầu năm, hoạt động kinh tế tiếp tục được hỗ trợ từ các lĩnh vực sản xuất chế biến, xây dựng và dịch vụ. Nhưng do ảnh hưởng của chiến sự, ngân hàng quyết định giảm dự báo tăng trưởng quý II, III và IV lần lượt còn 6,5%, 6,8% và 7%.
Năm nay, Chính phủ đặt mục tiêu tăng trưởng 10%. Theo UOB, để đạt được, nền kinh tế sẽ phải tăng trưởng tối thiểu 10% trong từng quý còn lại. Ông Suan Teck Kin đánh giá mặt tích cực là Chính phủ đã xác định rõ một trong những "nút thắt" lớn nhất kìm hãm tăng trưởng là hạ tầng.
"Đây là yếu tố then chốt để nâng cao năng suất, hiệu quả và đồng thời thúc đẩy tổng cầu của nền kinh tế. Vì vậy, đầu tư công đang được đẩy mạnh trong nhiều lĩnh vực", ông nhận định. Hôm 10/4, Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) dự báo GDP Việt Nam 2026 tăng 7,2%.
Với chính sách tiền tệ, UOB kỳ vọng Ngân hàng Nhà nước giữ nguyên lãi suất tái cấp vốn duy trì ở mức 4,5%. Lạm phát được dự báo tiếp tục tăng các tháng tới, nhưng chủ yếu bắt nguồn từ các yếu tố phía cung, nên việc thắt chặt chính sách tiền tệ không được xem là phản ứng phù hợp.
Thay vào đó, các chuyên gia ngân hàng này cho rằng gánh nặng ứng phó sẽ chủ yếu đặt lên vai Chính phủ, thông qua việc triển khai các biện pháp giảm thiểu tác động khi áp lực giá và tình trạng thiếu hụt nguồn cung lan tỏa trong nền kinh tế.
Thông tin này được Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) nêu trong báo cáo về thực trạng quản trị và cơ cấu tổ chức của tập đoàn năm 2025 mới đây.
Năm ngoái, doanh thu hợp nhất của tập đoàn này đạt khoảng 645.195 tỷ đồng, tăng 10,3% so với 2024, trong đó doanh thu Công ty mẹ - EVN đạt 543.779 tỷ đồng, tăng 11,8%.
Hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty mẹ - EVN năm 2025 có lợi nhuận vượt chỉ tiêu được Bộ Tài chính giao, góp phần giảm lỗ sản xuất kinh doanh giai đoạn 2022-2023.
Kết quả kinh doanh trên giúp thu nhập của người lao động EVN tăng so với năm trước. Tại công ty mẹ, tổng số lao động bình quân là 3.593 người. Thu nhập bình quân của người lao động đạt khoảng 479,2 triệu đồng/người/năm, tương đương gần 40 triệu đồng/tháng. Tuy nhiên, thu nhập thực tế của từng nhân sự phụ thuộc vào vị trí, kinh nghiệm và hiệu quả công việc...
Về tiền lương và thu nhập, trong báo cáo gần đây gửi Bộ Tài chính, EVN cho biết đã ban hành Quy chế tiền lương, thù lao và tiền thưởng, theo hướng tiền lương được quản lý gắn với năng suất lao động và hiệu quả sản xuất, kinh doanh của từng đơn vị. Thu nhập của người lao động được chi trả theo vị trí việc làm, mức độ đóng góp và kết quả hoạt động của đơn vị.
Tập đoàn này cũng thực hiện phân cấp cho các đơn vị xây dựng và phân phối quỹ tiền lương chung, bảo đảm chi trả tiền lương gắn với hiệu quả sản xuất kinh doanh, không phân biệt nguồn hình thành quỹ lương.
Theo tập đoàn này, việc chi trả tiền lương, tiền làm thêm giờ, làm việc ban đêm và các chế độ liên quan được thực hiện đầy đủ, kịp thời theo quy định pháp luật. Đối với người lao động thôi việc, các đơn vị thực hiện đúng quy trình chấm dứt hợp đồng và giải quyết chế độ theo quy định.
Năm 2025, nhờ kết quả sản xuất kinh doanh có lãi, thu nhập bình quân của người lao động EVN được cải thiện và tăng so với năm 2024.
EVN được thành lập theo Quyết định 148/2006 của Thủ tướng và hiện là doanh nghiệp nòng cốt trong lĩnh vực sản xuất, truyền tải, phân phối và điều độ hệ thống điện quốc gia. Tập đoàn hiện sở hữu 17 công ty con và 29 công ty liên kết.
Theo báo cáo tài chính riêng năm 2025 đã được kiểm toán, Công ty mẹ - EVN ghi nhận lợi nhuận sau thuế đạt 39.762 tỷ đồng, qua đó giảm số lỗ lũy kế xuống còn 5.611 tỷ đồng tính đến cuối năm 2025. Trong khi đó, báo cáo tài chính hợp nhất của toàn Tập đoàn Điện lực Việt Nam ghi nhận lợi nhuận sau thuế đạt 51.881 tỷ đồng, trong đó phần lợi nhuận thuộc về công ty mẹ là 50.511 tỷ đồng.
Số liệu hợp nhất bao gồm kết quả kinh doanh của các công ty con và công ty liên kết theo tỷ lệ sở hữu, đồng thời chưa phản ánh việc trích lập các quỹ tại đơn vị thành viên hoặc phương án phân phối lợi nhuận, do đó có sự khác biệt so với báo cáo riêng của công ty mẹ.
Tập đoàn này đề nghị khi đánh giá kết quả hoạt động cần phân biệt rõ giữa báo cáo tài chính riêng và báo cáo tài chính hợp nhất, trong đó số liệu của công ty mẹ đã được kiểm toán được sử dụng để phản ánh chính xác hơn tình hình sản xuất kinh doanh điện.
Ẩn sâu dưới lòng New York là một trong những kho vàng lớn nhất thế giới - nơi cất giữ hàng nghìn tấn vàng của nhiều quốc gia, nhưng phần lớn lại không thuộc về Mỹ. Điều đáng chú ý là những “chủ nhân” chính lại là các nền kinh tế hàng đầu châu Âu.
Thực tế, kho vàng của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ tại New York (Fed) chỉ đóng vai trò lưu ký. Trong khoảng 6.300 tấn vàng đang được bảo quản, tới 98% thuộc về các ngân hàng trung ương và chính phủ nước ngoài - biến nơi đây thành “ngân khố chung” của thế giới.
Dù danh sách chi tiết không được công bố, nhiều dữ liệu cho thấy châu Âu chiếm phần lớn. Đức là cái tên nổi bật, với khoảng 1.200 tấn vàng từng được lưu trữ tại Mỹ. Dù đã triển khai chương trình hồi hương từ năm 2013, Berlin vẫn giữ khoảng 1/3 dự trữ tại đây.
Italy - một trong những quốc gia nắm giữ vàng lớn nhất thế giới - cũng duy trì lượng vàng đáng kể ở nước ngoài, bao gồm Mỹ, nhằm đảm bảo khả năng giao dịch nhanh trên thị trường quốc tế.
Trong khi đó, Hà Lan và Bỉ từng gửi tới một nửa dự trữ vàng tại New York, nhưng gần đây đã chuyển dần về nước. Thụy Sĩ lựa chọn cách phân bổ linh hoạt giữa trong nước, Mỹ và Anh. Ngược lại, Pháp từ lâu ưu tiên giữ vàng trong nước, hạn chế phụ thuộc vào các kho ngoại quốc.
Nguồn gốc của xu hướng này bắt đầu sau Thế chiến thứ hai. Khi đó, Mỹ nổi lên như nền kinh tế ổn định nhất. Việc chuyển vàng sang New York khi đó không chỉ để cất giữ, mà còn là cách “trú ẩn” trong một hệ thống tài chính được xem là an toàn nhất.
Nhưng yếu tố an toàn chỉ là một phần. Quan trọng không kém là tính tiện lợi. Kho vàng tại New York hoạt động như một trung tâm giao dịch khi các quốc gia có thể mua bán vàng chỉ bằng cách chuyển quyền sở hữu trong cùng hệ thống kho, không cần vận chuyển vật chất.
Vai trò trung tâm tài chính toàn cầu của New York càng củng cố xu hướng này khi đồng USD trở thành trụ cột của hệ thống tiền tệ và có thể quy đổi trực tiếp sang vàng.
Dù vậy, xu hướng đang dần đảo chiều. Trong hơn một thập kỷ qua, nhiều quốc gia đã âm thầm đưa vàng về nước. Đức chuyển hàng trăm tấn về Frankfurt, Hà Lan cũng có động thái tương tự, còn Pháp gần như không phụ thuộc vào kho vàng Mỹ.
Động lực không chỉ mang tính kỹ thuật mà còn đậm màu sắc địa chính trị. Khi thế giới chứng kiến các tài sản quốc gia có thể bị đóng băng trong xung đột, câu hỏi về “chủ quyền tài sản” trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Bên cạnh đó, áp lực trong nước gia tăng khi cử tri và giới chính trị yêu cầu chính phủ kiểm soát trực tiếp các tài sản chiến lược.