Theo đó, nhu cầu vốn giai đoạn 2026-2035 sẽ rất lớn do phải triển khai hàng loạt dự án hạ tầng chiến lược, trong khi nguồn vốn đầu tư công khó đáp ứng đầy đủ yêu cầu về tiến độ và quy mô.
Việc phát hành các loại trái phiếu dự án, công trình và đô thị được kỳ vọng giúp Hà Nội huy động vốn cho các dự án cụ thể, tăng tính minh bạch và mở rộng nguồn vốn trung, dài hạn.
Đồng thời, cơ chế vay từ các tổ chức tín dụng và ngân quỹ Nhà nước sẽ hỗ trợ thành phố chủ động cân đối nguồn lực cho các dự án cấp bách.
Dự thảo quy định việc vay từ các tổ chức tín dụng được thực hiện trên cơ sở tổng mức vay hàng năm do HĐND thành phố quyết định. Các khoản vay phải bằng đồng Việt Nam, có thời hạn từ 3 năm trở lên và lãi suất theo mặt bằng thị trường.
Đối với vay từ ngân quỹ Nhà nước, tổng mức vay phải được Quốc hội và HĐND thành phố phê duyệt. Các khoản vay được áp dụng lãi suất 0%/năm, phải hoàn trả đúng hạn và không được gia hạn.
Sở Tài chính Hà Nội cho biết giai đoạn 2013-2015, UBND thành phố đã thực hiện phát hành 11.400 tỷ đồng trái phiếu xây dựng thủ đô, trong đó năm 2013 là 4.400 tỷ đồng, năm 2014 là 3.000 tỷ đồng, năm 2015 là 4.000 tỷ đồng.
Cơ quan này đánh giá việc phát hành trái phiếu trong giai đoạn này đã góp phần quan trọng trong việc bổ sung nguồn vốn trung và dài hạn cho ngân sách thành phố, tạo điều kiện đẩy nhanh tiến độ triển khai các công trình giao thông, giáo dục, y tế, cấp thoát nước và các dự án hạ tầng kỹ thuật trọng điểm.
Đây là một trong những giải pháp tài chính hiệu quả, giúp thành phố chủ động hơn trong cân đối nguồn lực đầu tư, giảm áp lực bố trí vốn ngân sách trong từng năm và tận dụng được nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế, theo Sở Tài chính.
Tin Gốc: Người Đưa Tin

Hiệp hội Kinh doanh vàng Việt Nam vừa có công văn gửi Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng kiến nghị nhiều nội dung liên quan tới nguồn vàng nguyên liệu.
Một trong số đó là kiến nghị ban hành quy định, hướng dẫn cụ thể về cơ chế, cách thức huy động, thu mua nguồn vàng trong dân làm nguyên liệu đầu vào cho sản xuất, chế tác vàng trang sức, mỹ nghệ.
Trong đó, cho phép các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh vàng trang sức được vay vàng trong dân với lãi suất thỏa thuận phù hợp với pháp luật dân sự để sản xuất vàng trang sức mỹ nghệ.
Không đồng tình với đề xuất trên, TS kinh tế Lê Bá Chí Nhân phân tích, về bản chất, cho phép doanh nghiệp vay vàng trực tiếp từ người dân với lãi suất thỏa thuận chính là mở lại kênh tín dụng bằng vàng dưới một hình thức khác, lợi bất cập hại.
Điều này tiềm ẩn nhiều rủi ro vĩ mô như: rủi ro hệ thống, làm suy yếu vai trò của tiền đồng; hình thành một thị trường tín dụng ngầm bằng vàng rất khó kiểm soát. Nhà nước không thể giám sát quy mô, dòng tiền, mức độ rủi ro.
"Doanh nghiệp vay vàng nhưng doanh thu lại bằng tiền đồng. Khi giá vàng biến động mạnh, doanh nghiệp không chỉ chịu rủi ro kinh doanh mà còn gánh thêm rủi ro tài chính. Nếu mất khả năng trả nợ, thiệt hại sẽ chuyển sang phía người dân.
Đáng chú ý, khi vàng trở thành công cụ sinh lãi, người dân có xu hướng nắm giữ vàng thay vì gửi tiết kiệm bằng tiền. Điều này đi ngược nỗ lực củng cố niềm tin vào tiền đồng của Ngân hàng Nhà nước", ông Nhân lý giải.
Vị chuyên gia nhấn mạnh, trước kia, Việt Nam từng trải qua giai đoạn "vàng hóa" nền kinh tế rất nặng nề. Khi đó, hệ thống ngân hàng huy động vàng, cho vay vàng. Doanh nghiệp vay vàng để kinh doanh, trong khi người dân coi vàng như phương tiện thanh toán song song với tiền.
Điều này gây nhiều hệ quả như: chính sách tiền tệ bị suy yếu, tỷ giá chịu áp lực lớn... Năm 2012, Nghị định 24 về quản lý hoạt động kinh doanh vàng ra đời với mục tiêu chính là chấm dứt tình trạng "vàng hóa" nền kinh tế, đưa vàng ra khỏi lưu thông tín dụng. Không có lý gì hiện tại lại cho phép tái diễn.
"Vấn đề cốt lõi hiện nay không phải là tạo điều kiện để doanh nghiệp vay vàng trong dân mà là tìm cách chuyển hóa nguồn vàng trong dân thành nguồn lực cho nền kinh tế một cách an toàn, thông qua hệ thống tài chính chính thức, dưới sự điều tiết của Ngân hàng Nhà nước", ông Nhân nói.
Ông Nguyễn Quang Huy, Giám đốc điều hành Khoa Tài chính - Ngân hàng (Trường ĐH Nguyễn Trãi), nhìn nhận, đề xuất cho phép doanh nghiệp vay vàng từ người dân để phục vụ sản xuất vàng trang sức nếu hiện thực hóa sẽ giúp giảm sự phụ thuộc vào nhập khẩu và cung cấp nguyên liệu ổn định cho ngành chế tác.
Tuy nhiên, vấn đề lãi suất vay thỏa thuận có thể dẫn đến các rủi ro về pháp lý, tài chính nếu không được giám sát chặt chẽ.
"Khi doanh nghiệp gặp phải vấn đề tài chính hoặc rủi ro kinh doanh, việc không thể hoàn trả vàng vay có thể dẫn đến người dân không thu hồi được tài sản.
Ngoài ra, khi doanh nghiệp gặp vấn đề về nhân sự hoặc hoạt động kinh doanh không ổn định, thu hồi vàng vay từ doanh nghiệp cũng trở nên khó khăn, tạo ra sự mất cân bằng trong các giao dịch", ông Huy phân tích.
Đánh giá kiến nghị huy động vàng trong dân để làm nguyên liệu sản xuất trang sức hợp lý về mặt lý thuyết, song chuyên gia vàng Trần Duy Phương nhấn mạnh, điều này rất khó hiện thực hóa.
Vàng trong dân tồn tại dưới nhiều dạng như vàng miếng, vàng nhẫn, vàng trang sức. Việc kiểm định chất lượng vàng không hề đơn giản. Hiện nay, trừ vàng miếng có thương hiệu, phần lớn vàng nhẫn, vàng trang sức trên thị trường không đồng nhất về tiêu chuẩn.
"Doanh nghiệp sẽ huy động loại vàng nào, có chấp nhận tất cả. Người dân cho vay vàng miếng, vàng nhẫn... khi nhận lại sẽ nhận vàng dưới hình thức ra sao... Tất cả đều không đơn giản", ông Phương nêu vấn đề.
Băn khoăn quan trọng khác được ông Phương đề cập là rủi ro lớn về cân đối trạng thái của doanh nghiệp kinh doanh vàng. Giả sử, doanh nghiệp huy động vàng ở vùng giá 170 - 175 triệu đồng/lượng, song đến khi đáo hạn, giá đã tăng lên 200 triệu đồng/lượng. Khi đó, việc cân đối nguồn để trả nợ trở nên rất khó khăn.
Tin Gốc: Thanh Niên

Theo đó, doanh nghiệp siêu nhỏ được bố trí người làm kế toán là cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, vợ, chồng, con đẻ, con nuôi, anh, chị, em ruột của người đại diện theo pháp luật, của người đứng đầu, của giám đốc hoặc tổng giám đốc và của cấp phó của người đứng đầu, phó giám đốc hoặc tổng giám đốc phụ trách công tác tài chính - kế toán; người đang làm quản lý, điều hành, thủ kho, thủ quỹ, người được giao nhiệm vụ thường xuyên mua - bán tài sản trong doanh nghiệp siêu nhỏ hoặc thuê dịch vụ làm kế toán cho doanh nghiệp siêu nhỏ theo quy định của pháp luật phù hợp với nhu cầu của doanh nghiệp.
Doanh nghiệp siêu nhỏ không bắt buộc phải bố trí kế toán trưởng. Trường hợp doanh nghiệp siêu nhỏ bố trí phụ trách kế toán thay cho kế toán trưởng thì phụ trách kế toán được ký thay kế toán trưởng tại các chứng từ kế toán, sổ kế toán, báo cáo tài chính của đơn vị.
Doanh nghiệp siêu nhỏ căn cứ vào phương pháp nộp thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp theo pháp luật về thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp để thực hiện ghi sổ kế toán, lập báo cáo tài chính.
Trường hợp doanh nghiệp siêu nhỏ chuyển đổi phương pháp nộp thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp theo quy định của pháp luật về thuế thì áp dụng danh mục sổ kế toán được hướng dẫn tại thông tư này phù hợp với phương pháp nộp thuế của doanh nghiệp.
Trường hợp trong năm tài chính, doanh nghiệp siêu nhỏ có những thay đổi các tiêu chí dẫn đến không còn thuộc đối tượng áp dụng thông tư này thì được áp dụng thông tư này cho đến hết năm tài chính hiện tại và phải áp dụng chế độ kế toán phù hợp với quy định của pháp luật kể từ năm tài chính kế tiếp.
Doanh nghiệp siêu nhỏ được lựa chọn áp dụng chế độ kế toán doanh nghiệp nhỏ và vừa cho phù hợp với đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh và yêu cầu quản lý của đơn vị nhưng phải áp dụng thống nhất trong một năm tài chính. Việc thay đổi chế độ kế toán áp dụng chỉ được thực hiện tại ngày bắt đầu kỳ kế toán năm tiếp theo.
Theo thông tư, ngoài doanh nghiệp siêu nhỏ, hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh (hộ kinh doanh) nếu có nhu cầu thì được lựa chọn áp dụng thông tư này để thực hiện công tác kế toán.
Trường hợp hộ kinh doanh lựa chọn áp dụng chế độ kế toán theo thông tư này thì phải áp dụng nhất quán trong một năm tài chính. Việc thay đổi chế độ kế toán áp dụng chỉ được thực hiện tại ngày bắt đầu kỳ kế toán năm tiếp theo.
Để phù hợp với đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh và yêu cầu quản lý, doanh nghiệp siêu nhỏ được thiết kế thêm hoặc sửa đổi, bổ sung biểu mẫu chứng từ kế toán, sổ kế toán so với các biểu mẫu chứng từ kế toán và sổ kế toán được hướng dẫn tại thông tư.
Biểu mẫu chứng từ kế toán và sổ kế toán của doanh nghiệp khi sửa đổi, bổ sung phải đảm bảo tuân thủ quy định tại điều 16, các khoản 1, 2, 3, 4 của điều 24 luật Kế toán; phản ánh đầy đủ, kịp thời, trung thực, minh bạch, dễ kiểm tra, kiểm soát và đối chiếu được tài sản, nguồn vốn của doanh nghiệp.
Doanh nghiệp có phát sinh các chứng từ kế toán thuộc đối tượng điều chỉnh của pháp luật khác thì phải thực hiện theo quy định của pháp luật đó.
Nếu doanh nghiệp siêu nhỏ sử dụng hóa đơn điện tử và được hệ thống thông tin quản lý thuế của cơ quan thuế hỗ trợ xác định, thông báo thông tin số thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp, các loại thuế khác phải nộp (nếu có) thì doanh nghiệp siêu nhỏ sử dụng các mẫu sổ kế toán hướng dẫn tại thông tư này để theo dõi, đối chiếu với số thuế phải nộp theo thông báo của cơ quan thuế.
Thông tư có hiệu lực thi hành từ ngày 1.7.2026 và áp dụng cho năm tài chính bắt đầu từ ngày hoặc sau ngày 1.7.2026.
Xem chi tiết việc thực hiện chứng từ kế toán, sổ kế toán
Tin Gốc: Thanh Niên

Theo báo cáo của Bộ Tài chính tại dự thảo Nghị định của Chính phủ thay thế Nghị định số 122/2017 một số nội dung đặc thù về cơ chế quản lý tài chính đối với doanh nghiệp kinh doanh xổ số, trong giai đoạn 2017 - 2025, thị trường xổ số tăng trưởng cao cả về doanh thu lẫn số nộp ngân sách nhà nước.
Cụ thể, doanh thu toàn thị trường xổ số tăng trưởng bình quân 10,2%/năm, trong đó tập trung chủ yếu vào xổ số truyền thống. Năm 2025, doanh thu của 63 công ty xổ số kiến thiết và công ty xổ số điện toán đạt 177.196 tỉ đồng. Trong đó, khu vực miền Nam chiếm 87,78%, miền Trung chiếm 4,59%, miền Bắc chiếm 2,16% và xổ số điện toán chiếm 5,47%. Chi phí trả thưởng chiếm từ 50 - 60% doanh thu tiêu thụ vé xổ số.
Số nộp ngân sách nhà nước toàn thị trường tăng trưởng bình quân trong giai đoạn vừa qua là 8,88%/năm. Cụ thể, số nộp ngân sách nhà nước của các doanh nghiệp năm 2025 là 57.167 tỉ đồng. Trong đó khu vực miền Nam đóng góp 51.985 tỉ đồng, tương ứng chiếm 90,9%; khu vực miền Trung nộp 2.061 tỉ đồng, chiếm 3,6%; khu vực miền Bắc nộp 838 tỉ đồng, chiếm 1,5% và xổ số điện toán nộp 2.290 tỉ đồng, chiếm 4%.
Hoạt động kinh doanh xổ số đã góp phần tạo việc làm cho khoảng gần 500.000 người thuộc các đối tượng chính sách, người nghèo thông qua việc làm đại lý bán vé xổ số, với mức thu nhập bình quân gần 4 triệu đồng/người/tháng. Đồng thời đáp ứng được nhu cầu vui chơi giải trí chính đáng, lành mạnh của người dân. Thị trường xổ số đã từng bước hiện đại hóa thông qua việc đưa sản phẩm xổ số điện toán vào thị trường, góp phần đa dạng hóa các sản phẩm xổ số, từng bước định hướng thị trường xổ số theo hướng minh bạch, hiệu quả, hạn chế tình trạng lô đề, cờ bạc bất hợp pháp.
Theo quy định tại luật Ngân sách nhà nước, toàn bộ số thu từ hoạt động kinh doanh xổ số là nguồn thu cho ngân sách địa phương phục vụ cho các mục tiêu nâng cao phát triển y tế, giáo dục, an sinh và phúc lợi xã hội. Phần còn lại được bổ sung nguồn vốn đầu tư cho ngân sách địa phương theo quy định của pháp luật và phê duyệt của Quốc hội trong kế hoạch ngân sách hằng năm.
Trước đó, Đề án sắp xếp doanh nghiệp kinh doanh xổ số đã được Bộ Tài chính báo cáo Thủ tướng Chính phủ theo hướng: sắp xếp các doanh nghiệp xổ số khu vực miền Trung và miền Nam phù hợp với tổ chức đơn vị hành chính cấp tỉnh mới sau sáp nhập, sau sắp xếp mỗi tỉnh chỉ có 1 công ty xổ số kiến thiết; sắp xếp lại các công ty xổ số kiến thiết miền Bắc theo mô hình nhóm công ty mẹ - công ty con, Công ty TNHH một thành viên Xổ số điện toán Việt Nam (Vietlott) là doanh nghiệp do nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ và các công ty xổ số kiến thiết miền Bắc là công ty con do Vietlott sở hữu 100% vốn điều lệ.

