Chiều 27.4, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cùng đoàn công tác T.Ư đến thăm và làm việc với Ban Thường vụ Thành ủy TP.HCM về chuẩn bị kỷ niệm 50 năm thành phố mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh; tình hình triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng; quy hoạch phát triển TP.HCM; tình hình phát triển KT-XH 4 tháng đầu năm 2026 và kế hoạch tăng trưởng kinh tế 2 con số, công tác bảo đảm an sinh xã hội; chuẩn bị sơ kết thực hiện chính quyền địa phương 2 cấp; những khó khăn, vướng mắc hiện nay của thành phố và kiến nghị, đề xuất.
Báo cáo tại buổi làm việc, Chủ tịch UBND TP.HCM Nguyễn Văn Được khẳng định tăng trưởng 2 con số là mục tiêu chiến lược của TP.HCM. Ngay từ đầu năm, Thành ủy TP.HCM đã ban hành chỉ thị về nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm giai đoạn 2026 – 2030, yêu cầu triển khai đồng bộ trong toàn hệ thống chính trị, gắn với trách nhiệm người đứng đầu và nguyên tắc “6 rõ”.
Song song đó, TP.HCM tập trung giải quyết 4 vấn đề tồn đọng mà Tổng Bí thư, Chủ tịch nước giao là xử lý kẹt xe, ngập nước, ô nhiễm môi trường và thành phố không ma túy. Hiện TP.HCM hoàn thiện quy hoạch tổng thể, định hình rõ không gian, kêu gọi đầu tư các dự án trọng điểm; tập trung tháo gỡ các dự án tồn đọng để giải quyết dứt điểm.
Về hoạt động của bộ máy chính quyền địa phương 2 cấp, Chủ tịch UBND TP.HCM đánh giá sau gần 1 năm vận hành, bộ máy hoạt động ổn định, bảo đảm thông suốt, phục vụ người dân, doanh nghiệp hiệu quả hơn. TP.HCM đã sắp xếp, điều chuyển nhân sự giữa các địa phương, tăng cường cán bộ về cơ sở để đào tạo, bồi dưỡng cán bộ then chốt về đô thị, tài chính, đất đai, y tế…
Lãnh đạo TP.HCM kiến nghị Bộ Chính trị, Quốc hội, Chính phủ quan tâm, sớm ban hành nghị quyết mới về phát triển TP.HCM trong kỷ nguyên mới, sớm ban hành luật Đô thị đặc biệt để tạo điều kiện giúp thành phố nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế, thử nghiệm các mô hình phát triển mới và đẩy mạnh phân cấp, phân quyền thực chất. “Hiện TP.HCM đã xây dựng dự thảo nghị quyết mới và đề cương luật Đô thị đặc biệt, sắp tới sẽ xin ý kiến các bộ, ngành, chuyên gia để hoàn thiện trình Bộ Chính trị xem xét”, ông Được nói thêm.
Trước đề xuất trên, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm bày tỏ đồng tình với việc sớm ban hành nghị quyết mới của Bộ Chính trị thay thế Nghị quyết 31/2022 về phương hướng, nhiệm vụ phát triển TP.HCM đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Hiện Văn phòng T.Ư Đảng đang lấy ý kiến các cơ quan về dự thảo nghị quyết mới, dự kiến sẽ ban hành trong tháng 5.2026, tạo cơ sở chính trị để tiến hành các công việc khác. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước lưu ý nghị quyết mới và luật Đô thị đặc biệt phải phản ánh đúng vị thế, tầm vóc, sứ mệnh của TP.HCM.
Luật cần tập trung tạo đột phá về thể chế và quản trị; nâng cao tự chủ về tài khóa, tài chính hiện đại và cho phép TP.HCM giữ lại nguồn lớn hơn, chủ động trong huy động vốn. Bên cạnh đó, TP.HCM cũng sẽ được phép thử nghiệm thể chế mới về tài chính, công nghệ, trí tuệ nhân tạo; phân cấp mạnh và thiết kế các chính sách với đặc thù là một siêu đô thị, cơ chế trọng dụng nhân tài vượt trội.
Dự kiến, luật Đô thị đặc biệt sẽ trình Quốc hội xem xét thông qua tại kỳ họp thứ 2. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước cũng gợi mở TP.HCM chủ động tham khảo các cơ chế trong luật Thủ đô vừa được Quốc hội thông qua để đưa vào luật Đô thị đặc biệt.
Cũng tại buổi làm việc, lãnh đạo các cơ quan T.Ư giải đáp, góp ý nhiều đề xuất của TP.HCM. Trưởng ban Tổ chức T.Ư Nguyễn Duy Ngọc nhấn mạnh việc phân cấp, phân quyền cho cấp sở và cấp xã phải đi liền với phân bổ nguồn nhân lực và ngân sách, bao gồm chi thường xuyên và chi đầu tư phát triển.
Về đầu tư, ông Ngọc khuyến nghị nên đẩy mạnh giao các dự án hạ tầng về cho cấp xã. Riêng nguồn nhân lực, hiện TP.HCM đã bố trí đủ nhân lực168 xã phường, nhưng khi phân thêm nhiệm vụ thì phải kiểm tra lại nguồn nhân lực về đầu tư, tài chính, đất đai. Ông Ngọc lưu ý phải bố trí nhân sự xuống cấp xã chứ không được biệt phái.
Trong khi đó, Trưởng ban Chính sách, chiến lược T.Ư Nguyễn Thanh Nghị nhấn mạnh TP.HCM cần khẩn trương hoàn thiện, phê duyệt quy hoạch tổng thể theo đúng tiến độ, đảm bảo chất lượng để làm cơ sở quản lý, kêu gọi đầu tư xây dựng các dự án trọng điểm. Đánh giá TP.HCM sau sáp nhập có nhiều lợi thế nhưng cũng nhiều thách thức, ông Nghị nhận định nếu không làm tốt quy hoạch thì các lợi thế sẽ trở thành vật cản trong quá trình phát triển thành phố.
“Trong không gian phát triển mới, TP.HCM cần cấu trúc lại từ đô thị lõi truyền thống sang siêu đô thị đa cực, đa trung tâm”, ông Nghị gợi ý; đồng thời lưu ý công tác quy hoạch cần định hình lại cấu trúc không gian phát triển, có mức độ ưu tiên khu vực chủ đạo, các trục phát triển, khung sinh thái, không gian tái thiết đô thị. TP.HCM cũng cần quan tâm nguồn lực cho các cực động lực để phát triển đột phá, chú trọng liên kết vùng trong quy hoạch để tránh tình trạng “đa cực trên hình thức nhưng đơn cực trong vận hành”.
Phát biểu kết luận buổi làm việc, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm biểu dương năng lực tổ chức thực thi và khả năng thích ứng nhanh của TP.HCM trong giai đoạn chuyển đổi sang mô hình chính quyền địa phương 2 cấp gần 1 năm qua. Bên cạnh kết quả tích cực, TP.HCM cũng cần đánh giá kỹ mức độ linh hoạt, hiệu quả, gần dân của chính quyền cơ sở và sự phù hợp với yêu cầu quản trị của một đô thị đặc biệt, đa trung tâm, quy mô lớn. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhấn mạnh cần sớm sơ kết mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, phát huy những mặt phù hợp, đồng thời mạnh dạn kiến nghị điều chỉnh những nội dung chưa đáp ứng yêu cầu, đặc biệt là việc thể chế hóa mô hình quản trị đô thị phù hợp trong luật Đô thị đặc biệt.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước lưu ý với quy mô lớn và độ mở kinh tế cao, TP.HCM cần chủ động hơn, bản lĩnh hơn, tầm nhìn phải xa hơn để xây dựng nền kinh tế tự lực, tự cường, thích ứng linh hoạt. Song song đó, TP.HCM phải nhận thức rõ mục tiêu tăng trưởng 2 con số không chỉ là đạt số tăng trưởng mà bỏ qua chất lượng, nền tảng tăng trưởng lâu dài. Địa phương cần chủ động, không để vốn, đất đai bị ách tắc, kể cả đầu tư công, đầu tư tư nhân và đầu tư nước ngoài. Các dự án được cấp phép đầu tư phải triển khai ngay, nếu không thì phải xử lý, không để nằm im lìm.
Đặc biệt, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước yêu cầu TP.HCM cụ thể hóa sâu hơn các nghị quyết chiến lược của T.Ư, phù hợp thực tiễn để kiến tạo mô hình phát triển và là địa phương tiên phong đi đầu, biến nghị quyết thành thực tiễn sống động.
Liên quan đến công tác quy hoạch, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhấn mạnh TP.HCM cần đẩy nhanh công tác quy hoạch với tư duy mới, tầm nhìn xa, tích hợp đồng bộ và kết nối, có dư địa không gian cho tương lai. “Phải tránh tình trạng quy hoạch vừa phê duyệt xong thì đã lạc hậu”, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước lưu ý, đồng thời yêu cầu quy hoạch là phải lấy con người làm trung tâm, hướng tới nâng cao chất lượng cuộc sống, xây dựng thành phố đáng sống, thông minh, sinh thái, giàu bản sắc.
Bên cạnh phát triển kinh tế – xã hội, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước yêu cầu TP.HCM cần xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có bản lĩnh, có trí tuệ, đạo đức, năng lực, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới vì lợi ích chung. Đồng thời, địa phương cũng phải sàng lọc, thay thế kịp thời những người trì trệ, né tránh, sợ trách nhiệm, làm chậm tiến độ công việc.
Tại cuộc tiếp xúc cử tri Hà Nội ngày 4/5/2026, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nêu khả năng đến năm 2045 Việt Nam có thể kết thúc thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Ông gợi ý Hà Nội thí điểm xây dựng mô hình "phường, xã xã hội chủ nghĩa" với quy mô dân số từ 500.000 đến một triệu, đầu tư đồng bộ hạ tầng, trường học, bệnh viện, không gian công cộng và đô thị thông minh.
Thời kỳ quá độ là một giai đoạn tất yếu trong tiến trình phát triển theo lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin. Đây là giai đoạn chuyển tiếp kéo dài, khi các yếu tố của xã hội cũ và xã hội mới đan xen, đòi hỏi những bước đi phù hợp với điều kiện cụ thể của từng quốc gia. Đối với Việt Nam, xuất phát điểm là một nước phong kiến lạc hậu, lại trải qua chiến tranh kéo dài, nên việc đi lên chủ nghĩa xã hội phải theo lộ trình từng bước, không thể nóng vội.
Chủ tịch Hồ Chí Minh từng diễn đạt giản dị rằng xã hội xã hội chủ nghĩa là xã hội mà đời sống vật chất ngày càng đầy đủ, đời sống tinh thần ngày càng nâng cao. Đồng thời, Người nhấn mạnh phải kiên trì, bền bỉ, xây dựng từng bước để đạt được mục tiêu lâu dài.
Từ những năm đầu đổi mới, Đảng xác định Việt Nam đang ở chặng đường đầu của thời kỳ quá độ. Sau gần 40 năm phát triển, các thành tựu kinh tế - xã hội trở thành nền tảng để đặt ra mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao. Đây cũng được xem là dấu mốc quan trọng gắn với khả năng hoàn thành thời kỳ quá độ và bước sang giai đoạn phát triển cao hơn.
Lần đầu xác lập hệ tiêu chí của xã hội xã hội chủ nghĩa
Mô hình xã hội xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam được định hình rõ ràng lần đầu trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991. Văn kiện này không chỉ nêu mục tiêu, mà xác lập một hệ tiêu chí cụ thể để nhận diện xã hội xã hội chủ nghĩa phù hợp với điều kiện Việt Nam.
Theo đó, xã hội được xác định do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và chế độ công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu; đời sống vật chất và tinh thần của người dân không ngừng được nâng cao; con người được giải phóng khỏi áp bức, bất công và có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc bình đẳng, đoàn kết; mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế.
Việc đưa ra các đặc trưng này đánh dấu bước chuyển từ nhận thức mang tính khái quát sang định hình một mô hình phát triển có thể định hướng chính sách và đo lường kết quả. Đây là nền tảng lý luận xuyên suốt cho các văn kiện sau này.
Qua các kỳ Đại hội, mô hình tiếp tục được bổ sung và hoàn thiện. Tại Đại hội IX năm 2001, Đảng xác định kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình kinh tế tổng quát trong thời kỳ quá độ, nhằm phát triển lực lượng sản xuất trong điều kiện mới.
Đến Cương lĩnh bổ sung, phát triển năm 2011, hệ đặc trưng được hoàn chỉnh thành 8 nội dung, làm rõ hơn mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; đồng thời khẳng định vai trò của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và vị trí trung tâm của con người.
Cụ thể, xã hội xã hội chủ nghĩa mà Việt Nam hướng tới được xác định là xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; và có quan hệ hữu nghị, hợp tác với các nước trên thế giới.
Việc xác lập đầy đủ 8 đặc trưng này không chỉ dừng ở việc mô tả mục tiêu, mà còn tạo thành một hệ tiêu chí để định hướng chính sách và đánh giá quá trình phát triển. Mỗi đặc trưng gắn với một trụ cột cụ thể: kinh tế phát triển đi đôi với công bằng xã hội, chính trị bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân, văn hóa giữ vai trò nền tảng tinh thần, con người là trung tâm, còn Nhà nước giữ vai trò tổ chức và điều tiết toàn bộ quá trình phát triển.
Đại hội XIII xác định mốc phát triển đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao, đưa mô hình từ định hướng lý luận sang mục tiêu có thể đo đếm.
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Trong cấu trúc của mô hình xã hội xã hội chủ nghĩa, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa giữ vai trò là phương thức tổ chức và vận hành nền kinh tế.
Việc xác định mô hình này tại Đại hội IX cho thấy sự thay đổi trong tư duy phát triển: Việt Nam sử dụng cơ chế thị trường để huy động và phân bổ nguồn lực, nhưng không để thị trường chi phối toàn bộ, mà đặt dưới sự quản lý của Nhà nước nhằm bảo đảm định hướng phát triển vì con người.
Điều này thể hiện ở việc tăng trưởng kinh tế phải đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội, thông qua các chính sách điều tiết, an sinh và phân phối lại. Thị trường được sử dụng như công cụ để thúc đẩy sản xuất, nâng cao năng suất và thu nhập, nhưng mục tiêu cuối cùng vẫn là nâng cao chất lượng sống của người dân.
Sự khác biệt với mô hình kinh tế tư bản nằm ở chỗ không lấy lợi nhuận làm trung tâm, mà hướng tới sự phát triển toàn diện. Nhà nước giữ vai trò định hướng và điều tiết để hạn chế các hệ quả tiêu cực như phân hóa giàu nghèo hay bất bình đẳng trong tiếp cận dịch vụ công.
Đưa mô hình xuống cấp cơ sở
Gợi ý xây dựng "phường, xã xã hội chủ nghĩa" cho thấy bước chuyển từ mô hình ở tầm quốc gia xuống cấp cơ sở, nơi các mục tiêu phát triển được cụ thể hóa thành điều kiện sống hàng ngày.
Theo định hướng được Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nêu, một đơn vị thí điểm phải bảo đảm hạ tầng đồng bộ, hệ thống giáo dục và y tế phát triển, môi trường sống an toàn, dịch vụ công thuận tiện và chính quyền vận hành hiệu quả. Những yếu tố này chính là cách chuyển các đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa thành tiêu chí cụ thể, có thể kiểm chứng.
Việc lựa chọn cấp phường, xã xuất phát từ vai trò đây là cấp gần dân nhất, nơi người dân trực tiếp tiếp xúc với bộ máy quản lý và thụ hưởng chính sách. Nếu mô hình thành công ở đây, sẽ trở thành hình mẫu để nhân rộng toàn quốc, đúng với triết lý "lấy dân làm gốc" mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt ra từ những ngày đầu lập nước.
Tuy nhiên, đến nay "phường, xã xã hội chủ nghĩa" chưa phải là một khái niệm được luật hóa. Hệ thống pháp luật hiện hành chỉ quy định các đơn vị hành chính cơ sở là xã, phường và đặc khu. Vì vậy, mô hình này đang ở giai đoạn nghiên cứu, thí điểm, chưa phải một loại hình đơn vị hành chính chính thức.
Để triển khai, Hà Nội cần làm rõ các tiêu chí đánh giá, cơ chế vận hành, nguồn lực đầu tư và phương thức giám sát. Đây là những điều kiện cần thiết để mô hình có thể vận hành trong thực tế và được đánh giá bằng kết quả cụ thể.
Từ nền tảng lý luận được xây dựng qua các văn kiện, đến mục tiêu phát triển dài hạn và các đề xuất thí điểm hiện nay, mô hình xã hội xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam đang từng bước được cụ thể hóa. Trọng tâm của quá trình này là chuyển 8 đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa thành chất lượng sống cụ thể của người dân, thông qua hiệu quả quản trị và mức độ tiếp cận dịch vụ công ở cấp cơ sở.
Sáng 3.4, ông Bùi Hòa An, Phó giám đốc Sở Xây dựng TP.HCM trao đổi với phóng viên Báo Thanh Niên về các bước để triển khai chính sách miễn phí xe buýt cho người dân trên toàn thành phố.
Xin ông chia sẻ thêm về lộ trình miễn phí xe buýt sau khi Thường trực Thành ủy TP.HCM thống nhất chủ trương?
Theo yêu cầu, hạn chót là cuối tháng 4.2026 sẽ trình HĐND TP.HCM xem xét thông qua chính sách miễn phí xe buýt. Hiện Sở Xây dựng đã gửi văn bản lấy ý kiến các sở ngành. Tiếp đó, sẽ làm việc với Ban Kinh tế - Ngân sách HĐND TP.HCM là cơ quan thẩm tra để hoàn thiện tờ trình.
Tinh thần là làm việc không có cuối tuần, cố gắng hoàn thiện khung chính sách để trình HĐND TP.HCM trong tháng 4.2026.
Sở Xây dựng dự báo lượng khách sẽ tăng lên ra sao khi chính sách miễn phí xe buýt được ban hành?
Chúng tôi đang lấy con số 30% để tính toán. Mục tiêu tăng ít nhất 30%. Nếu lượng khách tăng hơn nữa thì với hạ tầng hiện hữu vẫn có thể đáp ứng được khách tăng 70%.
Hiện TP.HCM đã mở rộng địa giới hành chính, bài toán kết nối sẽ được tính toán như thế nào để người dân khu vực Bình Dương và Bà Rịa - Vũng Tàu cũ được thụ hưởng đầy đủ chính sách này?
Hiện khu vực Bà Rịa - Vũng Tàu chỉ có 4 tuyến, cùng 1 tuyến ở đặc khu Côn Đảo. Khu vực Bình Dương có 26 tuyến nội tỉnh. Trước mắt, việc miễn phí tập trung vào các tuyến hiện hữu đang khai thác.
Sau đó, Sở Xây dựng sẽ tái cơ cấu lại mạng lưới. Việc này đòi hỏi cần có thời gian, chứ không thể hoàn thành trong nửa tháng hay 1 tháng.
Trong quy định về tổ chức tuyến xe buýt, trên đường dân sinh hiện hữu cứ 300 - 500 m phải có 1 trạm dừng, nhà chờ. Việc tái cơ cấu lại mạng lưới xe buýt sẽ đi theo hướng đó.
Việc tổ chức luồng tuyến theo hiện trạng cũ, còn tái cơ cấu mạng lưới sẽ triển khai sau khi quy hoạch được phê duyệt.
Còn về đầu tư trạm dừng, nhà chờ sẽ được thực hiện ra sao?
Việc này sẽ được Sở Xây dựng tiếp tục triển khai trong thời gian tới. Việc ưu tiên trước mắt là hoàn thiện thủ tục để miễn phí vé.
Hiện nay bà con phải đi bộ từ nhà ra trạm xe buýt. Như vậy, lề đường, vỉa hè phải thông thoáng. Đây là trách nhiệm của địa phương. Để chính sách phát huy, chính quyền địa phương phải hỗ trợ, người dân cũng cần thông cảm, sẻ chia thì mới hiệu quả.
Chiều 20.5, tại Hà Nội, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chủ trì buổi làm việc với Đảng ủy Bộ Y tế về công tác y học cổ truyền Việt Nam.
Phát biểu kết luận buổi làm việc, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đề nghị cần phải có tư duy mới, tầm nhìn mới và cách tiếp cận mới, kế thừa, phát triển tinh hoa của cha ông, trên nền tảng khoa học công nghệ hiện đại phải trở thành một bộ phận hữu cơ của y học quốc gia, một nguồn lực để phát triển đất nước trong giai đoạn mới.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước chỉ rõ, tiếp tục chuyển mạnh từ tư duy chữa bệnh sang tư duy chăm sóc sức khỏe toàn diện. Đưa y học cổ truyền thực sự về với cộng đồng; chuẩn hóa các mô hình chăm sóc sức khỏe không dùng thuốc như châm cứu, xoa bóp, bấm huyệt ngay tại xã, phường.
Chìa khóa để đưa y học cổ truyền về gần dân chính là việc tích hợp các dịch vụ kỹ thuật, bài thuốc cổ truyền chính thống vào các danh mục chi trả toàn diện cho bảo hiểm y tế quốc gia. Khi người dân được bảo hiểm chi trả một cách công bằng, họ sẽ chủ động lựa chọn y học cổ truyền ngay từ cơ sở.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước lưu ý, phải đặc biệt coi trọng đẩy mạnh khoa học, công nghệ và chuyển đổi số, bảo hộ sở hữu trí tuệ để chuẩn hóa và số hóa nền y học cổ truyền Việt Nam.
Xây dựng hoàn thiện cơ sở dữ liệu quốc gia về y học cổ truyền; xây dựng các chương trình nghiên cứu trọng điểm quốc gia về các lĩnh vực dược liệu, những bài thuốc có giá trị cao; phải gắn nghiên cứu với thương mại hóa và thị trường, có sự phối hợp chặt chẽ giữa các viện nghiên cứu, trường đại học với bệnh viện, doanh nghiệp địa phương.
Nghiên cứu xây dựng, củng cố một số trung tâm y học cổ truyền mạnh mang tầm quốc gia và khu vực, không chỉ để khám, chữa bệnh mà còn là trung tâm nghiên cứu, đào tạo, bảo tồn, chuyển giao công nghệ, phát triển sản phẩm và quảng bá văn hóa y học Việt Nam. Cạnh đó, phải phát triển ngành công nghiệp dược liệu là một ngành kinh tế, đồng bộ theo chuỗi.
Để phát triển đồng bộ hệ sinh thái y dược cổ truyền, nguồn nhân lực chất lượng cao và giữ gìn y đức, Nhà nước giữ vai trò định hướng kiến tạo thể chế và kiểm soát chất lượng; khuyến khích và tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất để các doanh nghiệp tư nhân, tập đoàn dược phẩm lớn tham gia vào đầu tư nghiên cứu, chế biến sâu và phát triển chuỗi nhà thuốc y học cổ truyền.
Phải biến các nhà thuốc đông y tư nhân, các phòng chẩn trị của các lương y thành những cánh tay nối dài hiệu quả của mạng lưới y tế công; phải có chính sách đặc thù để phát hiện, tôn vinh, bảo tồn, ứng dụng rộng rãi các bài thuốc gia truyền, các phương pháp điều trị độc đáo đang giữ trong nhân dân, không để những di sản quý báu này bị mai một, thất truyền.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước chỉ rõ, phải nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trên tinh thần vừa kiến tạo, vừa quản lý chặt chẽ, không thể buông lỏng quản lý; phải kiên quyết xử lý nghiêm, không dung thứ các hành vi sai phạm, trục lợi trên sức khỏe nhân dân.
Cạnh đó, phải nâng cao chất lượng tuyển sinh và cải cách chương trình đào tạo y bác sĩ y học cổ truyền tại các trường đại học y, dược lớn. Người thầy thuốc y học cổ truyền phải am tường cả về y lý đông y lẫn các thành tựu cận lâm sàng hiện đại của Tây y, luôn ghi nhớ lời Bác Hồ dạy: "Lương y như từ mẫu".
Đối với Đông y, trước hết là y đạo, không để các hành vi thương mại hóa cực đoan, quảng cáo sai sự thật, chữa bệnh phản khoa học ảnh hưởng đến niềm tin của nhân dân.
Việc xây dựng thương hiệu quốc gia về y học cổ truyền Việt Nam cần đẩy mạnh, gắn với kinh tế sức khỏe, du lịch chữa lành, xuất khẩu sản phẩm và sức mạnh mềm của văn hóa Việt Nam.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đề nghị, Đảng ủy Bộ Y tế tiếp thu các ý kiến đóng góp để phối hợp với các bộ, ngành liên quan, tham mưu hoàn thiện thể chế; sớm xây dựng và trình ban hành Chiến lược phát triển y học cổ truyền Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.