“Bản thân tôi là người theo học ngành kỹ thuật ở đại học Bách khoa Hà Nội. Sau đó, tôi ra nước ngoài du học Thạc sĩ và ở lại làm việc. Nhưng thú thực, tôi hoàn toàn không có đam mê gì với các ngành kỹ thuật, nên cuộc sống của tôi cứ tàng tàng vậy thôi chứ không có gì gọi là bứt phá.
Từ hồi năm hai đại học, tôi đã biết mình không muốn làm kỹ thuật và nói với một giảng viên tôi tin tưởng về ý định muốn bỏ ngang. Khi ấy, cô chỉ nói với tôi một câu: ‘Nếu bỏ học, em định làm gì?’. Tôi không trả lời được câu hỏi đó, vì trước giờ cũng chỉ nghe bố mẹ định hướng học ngành này cho dễ xin việc, dễ kiếm tiền, chứ bản thân đã thử cái gì đâu mà biết mình thích làm cái này hay cái kia? Thế nên, cuối cùng tôi lại tiếp tục đi học.
Đến tận bây giờ, tôi vẫn chưa trả lời được câu hỏi đó nên vẫn chấp nhận làm một ông kỹ sư sáng cắp cặp đi, tối cắp cặp về. Đúng là tôi xin việc rất dễ, thu nhập cũng khá, lại an toàn, nhưng chắc chắn tôi không thể bằng được những người có đam mê, sẵn sàng mày mò nghiên cứu trong thời gian rảnh của họ dù không được trả tiền công. Vì xét cho cùng, đây không phải đam mê của tôi.
>> Tôi đầu tư 600 triệu cho con học đại học đáng giá từng đồng
Tôi luôn cảm thấy bản thân mệt mỏi vì phải gồng tám tiếng một ngày để làm công việc mà mình không thích. Nhưng tôi cũng không có can đảm bỏ hết lại những phúc lợi và sự an toàn hiện tại để bước chân vào khoảng không vô định. Vậy nên tôi vẫn không biết mình thích hay giỏi cái gì, chẳng khác nào một vòng tròn luẩn quẩn”.
Đó là chia sẻ của độc giả Tentruycap xung quanh câu hỏi “chọn trường đại học theo đam mê hay ưu tiên ngành dễ xin việc, thu nhập cao?”. Mỗi mùa tuyển sinh, hàng trăm nghìn học sinh lại đứng trước một lựa chọn khó giữa một bên là đam mê và cảm giác được sống với điều mình thích, còn bên kia là áp lực cơm áo, kỳ vọng gia đình và nỗi lo thất nghiệp sau tốt nghiệp. Trong bối cảnh thị trường lao động biến động nhanh, nhiều ngành “hot” hôm nay có thể bão hòa chỉ sau vài năm, còn những ngành từng bị xem là ít triển vọng lại bất ngờ khát nhân lực. Vì thế, câu chuyện chọn trường, chọn ngành vẫn là cuộc tranh luận chưa có lời giải chung cho tất cả.
Cũng chọn đại học theo định hướng của cha mẹ, bạn đọc Hố Đen lại có cách tìm ra điểm cân bằng với đam mê của bản thân: Bố mẹ tôi là giáo viên nên khi thi đại học, tôi cũng chọn trường Sư phạm dù bản thân không có ưu thế gì về ngành này. Tôi nói chuyện rất kém trước đám đông, thích ngồi chế tạo hơn là giao tiếp với nhiều người, cũng không phải người thích làm việc theo khuôn mẫu.
Khi ra trường, bố mẹ xin cho tôi vào dạy tại một ngôi trường ở quê. Tuy nhiên, sau một thời gian tôi quyết định nhảy ra ngoài, xin sang làm thử các ngành khác với tâm lý là chấp nhận rủi ro. Và rồi tôi nhận ra mình có thể tìm ra được một mảng công việc yêu thích ngay trong nghề dạy học, nên tôi quay lại.
Tôi thấy không ai thích hẳn một nghề nào đó mà thường chỉ yêu thích một mảng việc trong một nghề mà thôi. Tôi thích việc phân tích, tự thiết kế đồ dùng, sử dụng tin học, nên chọn mảng xây dựng hệ thống tin học, hỗ trợ các giáo viên khác và trung tâm dạy học của bản thân. Tôi tự thiết kế các đồ dùng, thiết bị hỗ trợ học sinh và giáo viên…
Vậy là tôi vẫn làm tiếp nghề mà tôi bị ép vào, nhưng vẫn có thể làm công việc mà mình yêu thích. Giờ tôi trở thành phụ trách mảng kỹ thuật, đánh giá chất lượng dạy và học của công ty giáo dục do mình và vợ lập nên. Như vậy có gọi là thành công?”.
Gần đây, tôi thấy có nhiều ý kiến bức xúc vì tình trạng mức lương doanh nghiệp đóng BHXH thấp hơn mức lương thực nhận của người lao động tại doanh nghiệp đó.
Nhiều ý kiến cho rằng doanh nghiệp (DN) lách luật, thiệt hại cho người lao động (NLĐ) khi nhận lương hưu sẽ nhận được số tiền ít hơn rất nhiều so với khi còn làm việc, nên cần phải ra luật để siết bắt buộc đóng BHXH đúng với mức lương thực.
Tuy nhiên, bản chất của vấn đề không phải như vậy. Những người soạn luật và Cơ quan quản lý đều biết, nhưng không phải để lách luật, mà chính là để thêm lựa chọn cho doanh nghiệp và người lao động.
Theo tôi, các bạn cần nắm rõ 02 nguyên tắc:
1. Với BHXH: Đóng cao thì hưởng cao.
2. Với NLĐ, thường dùng khái niệm "tiền lương", còn với DN thường dùng khái niệm "chi phí": Tổng chi phí của doanh nghiệp cho vị trí nhân sự đó là không đổi.
Xét ví dụ như sau:
Hai Doanh nghiệp A và B đều trả chi phí cho vị trí nhân sự cần tuyển là 20 triệu đồng một tháng.
- Doanh nghiệp A dùng chính sách đóng BHXH đúng bằng thu nhập.
- Doanh nghiệp B chỉ đóng BHXH mức cơ bản 6 triệu đồng một tháng.
Áp dụng các công thức với quy định hiện tại:
- NLĐ tại DN A sẽ nhận mức lương net hàng tháng gần 15 triệu đồng một tháng tháng
- NLĐ tại DN B sẽ nhận mức lương net hàng tháng gần 18 triệu đồng một tháng
Khi ấy đặt ra câu hỏi: Nếu bạn là người lao động, bạn chọn phương án của DN A hay B? (Nhấn mạnh rằng tổng chi phí của DN cho vị trí nhân sự là không đổi = 20 triệu đồng một tháng).
Nếu cá nhân bạn vẫn muốn nhận ít lại mỗi tháng 3 triệu đồng theo ví dụ trên, thì cũng dễ thôi, hoàn toàn có thể thỏa thuận với doanh nghiệp, hoặc chuyển công việc từ doanh nghiệp B sang doanh nghiệp A.
Còn trường hợp vừa muốn nhận 18 triệu đồng, vừa muốn đóng đủ BHXH, thì khi đó chi phí doanh nghiệp cho vị trí đó lại ở một mức mới.
Mỗi sáng, tôi thường thức dậy sớm, đi bộ qua những lối đi đông đúc, ngập tràn mùi hương của rau thơm, thịt tươi và rau củ vẫn còn ướt đẫm sau khi được phun tưới. Giống như nhiều gia đình Việt Nam khác, chúng tôi tin tưởng thực phẩm ở chợ truyền thống.
Nhưng tới một ngày, tôi mua thịt lợn từ một người bán quen, rau xanh từ một quầy hàng khác. Mọi thứ trông rất tươi ngon, tràn đầy sức sống. Tôi mang thức ăn về nhà, rửa sạch sẽ và nấu bữa tối cho gia đình. Vài giờ sau, mọi người trong gia đình tôi bắt đầu cảm thấy khó chịu: đầu tiên là đau bụng, sau đó là nôn mửa, rồi tiêu chảy.
Con trai tôi bị nặng nhất. Con bị mất nước nghiêm trọng đến nỗi hầu như không thể đứng vững. Có lúc, con cố gắng đi lại nhưng ngã quỵ xuống sàn. Mặt con tái nhợt, cơ thể nó trở nên yếu ớt. Là một bậc cha mẹ, không có gì đáng sợ hơn việc nhìn con mình trong tình trạng đó. Đêm đó đã thay đổi cách tôi nhìn nhận về thực phẩm mãi mãi.
Sự thật là ở Việt Nam, ngộ độc do thực phẩm thường được coi như một tai nạn đáng tiếc, thay vì là một cảnh báo sức khỏe cộng đồng. Theo Bộ Y tế Việt Nam, trong 11 tháng đầu năm 2024, cả nước ghi nhận 131 vụ ngộ độc thực phẩm, ảnh hưởng đến gần 4.800 người và gây ra 21 ca tử vong. Nhiều trường hợp liên quan đến vi sinh vật, vi khuẩn và nguyên liệu bị ô nhiễm. Tuy nhiên, hầu hết các gia đình Việt Nam vẫn mua thực phẩm theo cách giống như gia đình tôi: từ các chợ truyền thống.
Chợ truyền thống không chỉ là nơi mua sắm. Chúng là một phần của thói quen, bản sắc và cuộc sống gia đình người Việt. Người dân tin tưởng vì thực phẩm ở đó có vẻ tự nhiên hơn, giá cả phải chăng hơn và có vẻ "sạch" hơn so với các sản phẩm siêu thị được đóng gói trong bao bì nhựa.
Nhưng chợ truyền thống cũng có thể là môi trường có nguy cơ cao. Thịt sống được bày bán hàng giờ dưới cái nóng nhiệt đới. Rau củ có thể mang dư lượng thuốc trừ sâu hoặc được rửa bằng nước bị ô nhiễm. Sự lây nhiễm chéo dễ dàng xảy ra khi thịt sống, hải sản và rau củ được xử lý trong không gian đông đúc với các biện pháp kiểm soát vệ sinh hạn chế.
>> Tôi sợ ổ bánh mì vỉa hè để chung thịt nguội với đồ chua
Theo Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hợp quốc (FAO), "An toàn thực phẩm phải được quản lý từ nguồn gốc đến bàn ăn". Các mối nguy hại về thực phẩm có thể xuất hiện ở bất kỳ khâu nào trong chuỗi cung ứng thực phẩm - trong quá trình sản xuất, vận chuyển, xử lý hoặc chế biến. Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) cũng cảnh báo rằng thực phẩm không an toàn chứa vi khuẩn, vi rút, ký sinh trùng hoặc hóa chất có hại có thể gây ra hơn 200 bệnh, từ tiêu chảy đến các bệnh đe dọa tính mạng. Trẻ em đặc biệt dễ bị tổn thương, chiếm 40% gánh nặng toàn cầu về các bệnh do thực phẩm gây ra.
Sự thực phẩm không đảm bảo chất lượng không phải lúc nào cũng nhìn thấy được. Vi khuẩn Salmonella trong thịt không thể được phát hiện bằng mắt thường. Dư lượng thuốc trừ sâu trên rau củ không biến mất sau khi rửa bằng nước. Đôi khi, thực phẩm trông tươi ngon nhất lại là thứ chúng ta phải xử lý cẩn thận nhất ở nhà: rửa đi rửa lại nhiều lần, ngâm rau củ, nấu chín kỹ thịt để đề phòng.
Việt Nam đã bắt đầu siết chặt các quy định về an toàn thực phẩm trong những năm gần đây. Các cơ quan chính phủ đã tăng cường kiểm tra trong suốt năm 2025 và bắt đầu củng cố việc xử phạt các vi phạm an toàn thực phẩm. Dự thảo sửa đổi Luật An toàn Thực phẩm của Việt Nam cũng đề xuất hệ thống truy xuất nguồn gốc mạnh mẽ hơn và cách tiếp cận dựa trên rủi ro hơn đối với quản lý thực phẩm vào năm 2026. Đây là một bước đi đúng hướng. Nhưng chỉ có quy định thôi là chưa đủ nếu việc thực thi còn yếu kém hoặc nhận thức của người dân còn thấp.
Những người nội trợ cũng cần tự đặt câu hỏi: Thịt này đến từ đâu? Rau quả này có được trồng và vận chuyển an toàn không? Người bán hàng này có thực sự đảm bảo việc xử lý an toàn không? Đồng thời, các nhà hoạch định chính sách phải tiếp tục cải thiện công tác kiểm tra, thực thi truy xuất nguồn gốc và đầu tư vào cơ sở hạ tầng chợ truyền thống an toàn hơn thay vì đến khi một vụ ngộ độc gây xôn xao trên mạng mới giật mình nhìn lại.
Một người bạn của tôi đã quyết định dọn về quê, gom góp số tiền vài tỷ đồng tích góp trong hơn chục năm làm việc ở thành phố để làm một homestay nhỏ. Lý do rất đơn giản: Không chịu nổi giá nhà và nhịp sống ngột ngạt nơi đô thị.
Lý do khác quan trọng và có vẻ lo xa hơn: Về quê đầu tư để có đồng ra đồng vào, chứ gom hết tiền và đi vay thêm để mua nhà thành phố, sau này về già vẫn phải kiếm gì đó làm thêm để có thu nhập.
Sau mấy chục năm sống ở thành phố, hành lý của anh vẫn gọn gàng đến lạ vì cái gì cho được đã cho, cái gì bán được đã bán, nhà thuê thì trả chủ. Nhưng sâu xa hơn, đó là cảm giác không thuộc về nơi này, dù đã ở hơn chục năm, có nhiều kỷ niệm vui buồn.
Từ câu chuyện đó, tôi cho rằng việc ở thuê, ít nhất trong bối cảnh Việt Nam hiện nay không phải là một lựa chọn bền vững. Không chỉ là vấn đề tâm lý an cư lạc nghiệp vốn ăn sâu trong văn hóa, mà còn bởi thị trường cho thuê của chúng ta chưa thực sự phát triển đúng nghĩa, thiếu ổn định, thiếu bảo vệ người thuê, và thiếu cả những sản phẩm phù hợp với đại đa số người lao động.
Trong khi đó, giá nhà thì vẫn tiếp tục leo thang. Dữ liệu gần đây cho thấy giá căn hộ tại TP.HCM đã lên đến trung bình hơn 97 triệu đồng một m2, riêng khu trung tâm vượt 100 triệu đồng m2. Ở thị trường thứ cấp, con số trung bình cũng đã chạm ngưỡng khoảng 69 triệu đồng một m2, trong khi nhu cầu tìm mua lại tăng mạnh.
Tôi thấy có một lập luận thường được đưa ra: Nếu không mua được nhà thì thuê cũng không sao. Lập luận này nghe qua có vẻ hợp lý, nhưng thực chất chỉ đúng với một nhóm nhỏ. Người có thu nhập cao, tài chính dư dả, có thể thuê để linh hoạt cho công việc. Sinh viên hay người lao động ngắn hạn cũng vậy, thuê nhà là lựa chọn phù hợp.
Nhưng còn đại đa số người lao động làm việc lâu dài tại thành phố thì sao?
Họ không thể sống mãi trong trạng thái tạm bợ. Một gia đình không thể xây dựng cuộc sống ổn định nếu cứ vài năm lại chuyển nhà, đối mặt với nguy cơ tăng giá thuê hoặc bị chấm dứt hợp đồng bất cứ lúc nào. Nói cách khác, thuê nhà không phải là một giải pháp thay thế, mà chỉ là một giải pháp tình thế.
Vấn đề nằm ở chỗ phân khúc nhà ở phù hợp với họ gần như biến mất. Những căn hộ thương mại giá 2-3 tỷ đồng từng là mục tiêu có thể với tới của tầng lớp trung lưu giờ gần như tuyệt chủng. Thị trường bị lấp đầy bởi các dự án cao cấp, giá 4-5 tỷ đồng trở lên. Với mức thu nhập phổ biến hiện nay, đó là khoảng cách gần như không thể vượt qua.
Vậy chúng ta đang kỳ vọng gì? Rằng một bộ phận lớn người lao động sẽ chấp nhận đi thuê suốt đời? Và khi về già, với thu nhập giảm sút, họ sẽ tiếp tục xoay xở thế nào với chi phí nhà ở ngày càng cao?
Đó không chỉ là câu chuyện kinh tế, mà là một vấn đề an sinh xã hội.
Nếu không thể kiểm soát giá nhà trong ngắn hạn, thì một hướng đi rõ ràng hơn là phát triển mạnh nhà ở xã hội. Nhà ở xã hội không nên bị xem là một giải pháp mang tính "cứu trợ", mà phải được nhìn nhận như một phần thiết yếu của cấu trúc thị trường.
Một đô thị bền vững cần có chỗ cho những người lao động bình thường. Câu chuyện của người bạn tôi rời thành phố không phải là cá biệt. Nếu không có những thay đổi rất có thể sẽ còn nhiều người khác đưa ra lựa chọn rời đi.
Huỳnh Thắng