Khi ánh đèn sân khấu bật sáng, tiếng nhạc nổi lên, những câu rao dí dỏm nối nhau giữa tiếng cười khán giả, lô tô cho thấy mình chưa từng biến mất khỏi đời sống hôm nay.
Ở nhiều nơi, từ sân bãi lưu diễn nhỏ dựng tạm đến những sân khấu được đầu tư bài bản trong trung tâm đô thị, loại hình từng gắn với hội chợ quê vẫn đang tìm cách bước tiếp trong một thời đại rất khác.
Nếu trước đây, lô tô chủ yếu hiện diện trong ký ức của những mùa hội làng, những đêm hội chợ đông người hay các dịp lễ tết náo nhiệt, thì nay nó bước vào bối cảnh mới: nơi khán giả thay đổi thói quen thưởng thức, công nghệ len sâu vào đời sống và ngành giải trí phát triển với tốc độ nhanh hơn bao giờ hết. Nhưng để tồn tại, lô tô không thể chỉ sống bằng ký ức.
Trao đổi với PV Thanh Niên, PGS-TS Nguyễn Ngọc Thơ, Viện Phát triển năng lực lãnh đạo, Đại học Quốc gia TP.HCM cho rằng yếu tố cản trở lớn nhất của nghề hát lô tô chính là tính dân gian tự phát của nó.
Nếu tiến hành cải biên nghệ thuật hát lô tô để đảm bảo yêu cầu về tính nghệ thuật và nội dung, ý nghĩa biểu trưng thì e rằng loại hình diễn xướng này sẽ phải cải biên, thay đổi quá nhiều, rất có thể sẽ chuyển đổi thành một loại hình diễn xướng khác, không còn là hát lô tô nữa.
Khán thính giả càng được định hướng hưởng thụ các loại hình nghệ thuật diễn xướng có tính nghệ thuật và tính biểu trưng ngày càng cao, họ có thể không tìm thấy sự yêu mến và gắn bó với loại hình hát lô tô.
Thêm vào đó, ông Thơ cho rằng hát lô tô bao đời nay gắn bó với đời sống văn hóa nông thôn, khi đứng trước hiện thực xã hội Việt Nam đang đô thị hóa mạnh mẽ sẽ gặp phải thử thách về nguồn khán giả. Để thu hút khán giả, các đoàn hát buộc phải tìm kiếm và áp dụng các hình thức khác nhau vốn chưa được số đông người dân ủng hộ để thu hút khách. Điều này càng làm giảm đi lòng thiện cảm của một số người dân.
Khó có được giải pháp cải thiện tình hình này ngay tức thời. Song, theo PGS-TS Nguyễn Ngọc Thơ, bản thân đoàn lô tô, người hát lô tô trước hết phải gìn giữ nét văn minh, thanh lịch của nghề hát, của không gian tổ chức hát lô tô. Cùng với đó phải tìm cách cải biên một phần ca từ lẫn nghệ thuật hát sao cho đạt được ngưỡng thẩm mỹ, ngưỡng nghệ thuật và hệ giá trị, ý nghĩa cần thiết để có thể đáp ứng nhu cầu của công chúng đương đại.
Nói cách khác, ông Thơ nhận định, loại hình hát lô tô muốn tồn tại và phát triển lâu dài phải tự xây dựng, bồi đắp và trưng bày ra công chúng những nét tinh hoa sâu sắc của chính mình.
Nghề hát lô tô hiện nay có thể trở thành một sinh kế ổn định, lâu dài trong xã hội hiện đại khi người làm nghề phải đối mặt với các vấn đề như tuổi nghề ngắn, sức khỏe và định kiến xã hội.
Bàn về việc này, PGS-TS Nguyễn Ngọc Thơ cho rằng với các điều kiện xã hội đương đại, nhất là làn sóng công nghiệp văn hóa và truyền thông đại chúng phát triển mạnh mẽ, nghề hát lô tô khó có thể trở thành một sinh kế ổn định và lâu dài.
Lý do thì có nhiều, trong đó phải nhấn mạnh tính dân gian tự phát của nghệ thuật hát lô tô. Một loại hình nghệ thuật diễn xướng ngoài các yếu tố giai điệu, âm thanh, hình ảnh phù hợp với thị hiếu thưởng thức của công chúng thì yếu tố nghệ thuật (bao gồm cả tính nghệ thuật trong hệ thống ca từ, hình ảnh biểu trưng về nội dung và tính sâu sắc của ý nghĩa, giá trị) cần được trau chuốt để đảm bảo tính bền vững trong lòng công chúng.
Do xuất phát điểm là loại hình giải trí dân gian, bình dị, ông Thơ đánh giá nghề hát lô tô chưa đạt được ngưỡng nghệ thuật cần thiết để có thể đáp ứng nhu cầu công chúng có trình độ học vấn và nhu cầu hưởng thụ nghệ thuật ngày càng cao.
Có ý kiến cho rằng nghề hát lô tô là một loại hình văn hóa dân gian, nhưng cũng có quan điểm xem đây là biến tướng của yếu tố may rủi, cờ bạc, đỏ đen. Theo PGS-TS Nguyễn Ngọc Thơ, loại hình này xuất phát từ nhu cầu giải trí của một số người dân nông thôn xưa, khi mà các loại hình giải trí còn đơn sơ, thiếu thốn.
“Yếu tố may rủi thì thực ra loại hình xổ số kiến thiết cũng có, vấn đề là cách tổ chức, cách vận hành và tính pháp lý của loại hình xổ số may mắn trong buổi hát lô tô”, ông Thơ nhìn nhận và cho rằng: “Nếu tất cả đã phù hợp với luật pháp quy định và bản thân đoàn hát, người hát lô tô biết giữ chuẩn mực văn minh và tính nghệ thuật thì tôi nghĩ người dân sẽ không đánh giá tiêu cực”.
Tuy nhiên, theo ông Thơ, vấn đề còn nằm ở quản lý văn hóa ở địa phương, họ cần rà soát loại hình hoạt động nào của đoàn lô tô không phù hợp với thuần phong mỹ tục và luật pháp đương đại thì cần vận động, hỗ trợ thay đổi, thậm chí loại bỏ.
Cũng theo PGS-TS Nguyễn Ngọc Thơ, hát lô tô có thể xếp vào nhóm các loại hình diễn xướng dân gian đặc thù. Tính đặc thù nằm ở đối tượng hát, đối tượng nghe hát và bản thân loại hình diễn xướng này.
Ở các giai đoạn trước đây, một bộ phận người dân có thể tìm thấy ở các buổi hát lô tô giá trị giải trí tức thời. Ca từ lô tô giản dị, mộc mạc, mang tính “lắp ráp” từ nhiều nguồn khác nhau, từ ca dao tục ngữ, các điệu hò, vè, điệu lý dân gian cho đến các tác phẩm nghệ thuật đại chúng khác, ít nhiều cũng đủ để khán giả xưa cảm thấy thỏa mãn.
Theo ông Thơ, tính tương tác trực tiếp của những người hát với nhau cũng là một điểm thu hút quan trọng của loại hình này đối với công chúng, phần nào cũng thể hiện được trí tuệ và kỹ năng của người hát.
Do vậy, trong bối cảnh ấy, chúng ta có thể nhận thấy hát lô tô là một hoạt động văn hóa dân gian, góp phần bồi đắp đời sống văn hóa các cộng đồng cư dân ở nông thôn hay ngoại ô thành phố lớn.
Tuy nhiên, bối cảnh thay đổi, đối tượng thưởng thức lô tô đã thay đổi về gu thẩm mỹ và ngưỡng nghệ thuật, không ít người cho rằng hát lô tô không còn phù hợp nữa nếu không thay đổi.
Một câu hỏi lớn đặt ra là nếu thay đổi thì liệu hát lô tô có bị đánh mất bản sắc của mình hay không? Câu trả lời là có, nhưng không phải thay đổi nào cũng tiêu cực và cũng không phải được cho là “bản sắc” thật sự là bản sắc.
Bởi lẽ, theo PGS-TS Nguyễn Ngọc Thơ, hát lô tô là loại hình diễn xướng dân gian, được truyền khẩu qua dân gian, sau nhiều thế hệ đã không ngừng được cách tân, bồi đắp liên tục nên ngày một thay đổi. Từ đó, ông đặt ra câu hỏi: “Vậy chúng ta dựa vào đâu để khẳng định hát lô tô ở giai đoạn nào là “bản sắc”?
Cũng có ý kiến cho rằng hát lô tô thời trước khi bùng nổ công nghiệp văn hóa chứa đựng “bản sắc” và cố gắng gìn giữ nguyên trạng, vậy chúng ta phải chấp nhận sự thật là khán giả sẽ ngày một ít đi.
Tựu trung lại, theo PGS-TS Nguyễn Ngọc Thơ, bản thân hát lô tô đã từng là một loại hình văn hóa dân gian, song do sự phát triển của đời sống xã hội, loại hình diễn xướng này đã không còn phù hợp với gu thẩm mỹ và nhu cầu thưởng thức nghệ thuật của số đông công chúng như trước nữa.
“Muốn tồn tại và phát triển, loại hình này phải tự thay đổi và cách tân chính mình. Đây không phải là xu hướng chạy theo khán giả, mà là quá trình hoàn thiện hóa”, PGS-TS Nguyễn Ngọc Thơ nhấn mạnh.
Trong câu chuyện của lô tô hôm nay, có lẽ thách thức lớn nhất không phải là thiếu người xem, mà là làm sao bước tới tương lai mà vẫn nhận ra mình trong đó. Khi giữ được cốt lõi và dám thay đổi phần hình thức, lô tô vẫn còn cơ hội sáng đèn lâu dài giữa đời sống hiện đại.
Bộ Công an đang lấy ý kiến đóng góp đối với dự thảo hồ sơ chính sách bộ luật Hình sự (sửa đổi), trong đó đề xuất nhiều điểm mới liên quan đến quy định miễn trách nhiệm hình sự.
Theo Bộ Công an, thực tiễn thi hành bộ luật Hình sự cho thấy có những hành vi vi phạm, gây thiệt hại nhưng vì mục đích phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng an ninh; không tham nhũng; mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội cho địa phương, đất nước; có thể khắc phục toàn bộ hậu quả; nhưng vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Điều này chưa phù hợp với thực tiễn, chưa bảo đảm tính công bằng, chưa góp phần khuyến khích người phạm tội khắc phục hậu quả; chưa phân hóa được hành vi vi phạm mà có yếu tố tham nhũng với hành vi vi phạm mà không có yếu tố tham nhũng.
Để khắc phục, Bộ Công an đề xuất bổ sung quy định về tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự, cho thời gian khắc phục hậu quả đối với các hành vi thuộc nhóm nêu trên.
Đồng thời, bổ sung căn cứ được miễn trách nhiệm hình sự đối với người được tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự mà đã đủ các điều kiện để được miễn. Quy định này nhằm bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ trong quy định của bộ luật Hình sự, khuyến khích người phạm tội khắc phục hậu quả, bồi thường thiệt hại để được miễn trách nhiệm hình sự.
Cơ quan soạn thảo còn đề xuất sửa đổi theo hướng: trong giai đoạn giải quyết tin báo, tố giác tội phạm, nếu có căn cứ miễn trách nhiệm hình sự thì có thể miễn trách nhiệm hình sự thông qua quyết định không khởi tố vụ án hình sự.
Quy định như vậy sẽ khắc phục bất cập của luật hiện hành khi chỉ miễn trách nhiệm hình sự sau khi có quyết định khởi tố vụ án hình sự làm phát sinh các thủ tục tố tụng, không đáp ứng yêu cầu về tính nhân đạo, nhân văn.
Một nội dung khác được Bộ Công an đề xuất sửa đổi là quy định về miễn hình phạt.
Cơ quan soạn thảo đề cập đến những trường hợp phạm tội về kinh tế, môi trường… không nhằm mục đích thu lợi bất chính cho cá nhân, vì lợi ích chung, mặc dù đã áp dụng các biện pháp để quản lý rủi ro nhưng vẫn gây ra thiệt hại và đã khắc phục toàn bộ hậu quả, bồi thường toàn bộ thiệt hại.
Việc không miễn hình phạt đối với các trường hợp trên là chưa phù hợp với mục đích chính khi áp dụng hình phạt đối với các tội về kinh tế, môi trường là buộc khôi phục nguyên trạng và bồi thường thiệt hại (theo Nghị quyết số 68 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân).
Do đó, Bộ Công an đề xuất bổ sung quy định về miễn hình phạt đối với một số tội về trật tự quản lý kinh tế gây thiệt hại về kinh tế nhưng vì mục đích phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh; không tham nhũng; mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội cho địa phương, đất nước; đã khắc phục toàn bộ hậu quả, bồi thường toàn bộ thiệt hại.
Cùng đó là bổ sung quy định loại trừ trách nhiệm hình sự đối với rủi ro trong nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng mô hình sản xuất, kinh doanh mới mà có thiệt hại về kinh tế do nguyên nhân khách quan.
Đồng thời, bổ sung quy định loại trừ trách nhiệm hình sự trong trường hợp thực hiện biện pháp nghiệp vụ phục vụ công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm của các cơ quan chuyên trách phòng, chống tội phạm trong trường hợp đã tuân thủ đầy đủ các thủ tục, quy trình công tác, không vì động cơ vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác nhằm nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, phù hợp với tình hình thực tiễn…
Sáng 28/5, Thành ủy TPHCM tổ chức hội nghị sơ kết 1 năm mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị thành phố, mô hình chính quyền địa phương 2 cấp. Hội nghị được tổ chức bằng hình thức trực tiếp kết hợp với trực tuyến tới điểm cầu của 168 xã, phường, đặc khu.
Hội nghị có sự tham dự của Bí thư Thành ủy TPHCM Trần Lưu Quang, các Phó Bí thư Thành ủy TPHCM và lãnh đạo HĐND, UBND, Ủy ban MTTQ Việt Nam TPHCM cùng các sở, ban, ngành.
Phát biểu mở đầu hội nghị, Phó Bí thư Thành ủy TPHCM Văn Thị Bạch Tuyết đã trình bày báo cáo tóm tắt những kết quả của thành phố sau 1 năm vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp. Thời gian qua, thành phố đã đạt được nhiều kết quả rất tích cực về hiệu quả vận hành tổ chức bộ máy chính quyền thành phố và cấp xã.
Tổ chức bộ máy chính quyền địa phương 2 cấp của TPHCM đã tinh gọn hơn, giảm đầu mối quản lý, giảm cấp trung gian, tinh gọn tổ chức bộ máy bên trong, tăng cường tính trực tiếp giữa chính quyền và người dân, tăng tính chủ động và trách nhiệm cho chính quyền cấp xã.
Lãnh đạo Thành ủy TPHCM cũng nêu rõ một số hạn chế của các địa phương thời gian qua. Trong đó, một số cấp xã còn chậm kiện toàn, phân công chức danh lãnh đạo cấp phòng và vị trí việc làm; thiếu cán bộ, công chức, viên chức có kinh nghiệm ở các lĩnh vực trọng yếu như xây dựng Đảng, công nghệ thông tin, tài chính - kế toán, quản lý đất đai, xây dựng - giao thông, y tế.
"Đội ngũ cán bộ vừa thừa vừa thiếu, vẫn còn một bộ phận nhỏ cán bộ chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ. Thành phố còn thiếu số lượng cán bộ, công chức, viên chức có kinh nghiệm ở các lĩnh vực trọng yếu. Đây là một thách thức đối với thành phố trong thời gian tới", Phó Bí thư Thành ủy TPHCM nhìn nhận.
Bên cạnh đó, năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức không đồng đều trong bối cảnh yêu cầu mới đòi hỏi tính đa nhiệm và kỹ năng số cao hơn. Khối lượng công việc tăng nhanh trong điều kiện khung biên chế theo quy định, chưa phù hợp với quy mô dân số, diện tích, tính chất địa bàn, số lượng tổ chức đảng, đảng viên giữa các đảng bộ phường, xã có sự chênh lệch lớn gây áp lực lớn, quá tải trong thực hiện nhiệm vụ, có phần ảnh hưởng đến tính chủ động và chất lượng thực thi công vụ.
“Về cơ sở vật chất, điều kiện làm việc, sau sắp xếp, UBND cấp xã cơ bản ổn định nơi làm việc. Tuy nhiên, nhiều trụ sở chưa đáp ứng yêu cầu về diện tích, phải bố trí phân tán nhiều địa điểm, ảnh hưởng đến công tác phối hợp, quản lý và giao dịch của người dân”, Phó Bí thư Thành ủy TPHCM nói.
Ngày 25.4, tức mùng 9.3 âm lịch, thời tiết tại Khu di tích lịch sử Đền Hùng (Phú Thọ) có nắng nhẹ, thuận lợi cho người dân và du khách về Giỗ tổ Hùng Vương năm 2026.
Ngay từ sáng sớm, nhiều ngả đường dẫn về khu vực trung tâm lễ hội Đền Hùng đã tấp nập người và xe. Hàng vạn người sải bước trên tuyến đường từ cổng chính vào trung tâm lễ hội, qua Đền Hạ, Đền Trung, Đền Thượng, Đền Giếng.
Trong hôm nay, nhiều hoạt động văn hóa đã và sẽ diễn ra như: lễ hội đền Tam Giang năm 2026, giải bơi chải tỉnh Phú Thọ năm 2026, đặc biệt là chương trình bắn pháo hoa tầm cao vào tối cùng ngày tại cầu đi bộ công viên Văn Lang.
Số liệu cập nhật mới nhất bởi ban tổ chức, tính từ tháng giêng đến nay đã có khoảng 4 triệu lượt khách về với Đền Hùng để Giỗ tổ Hùng Vương.
Giỗ tổ Hùng Vương - Lễ hội Đền Hùng và Tuần văn hóa, du lịch Đất Tổ năm Bính Ngọ 2026 diễn ra từ ngày 17 - 26.4, tại Khu di tích lịch sử quốc gia đặc biệt Đền Hùng và các xã, phường trong tỉnh Phú Thọ.
Để đảm bảo an ninh trật tự, Công an tỉnh Phú Thọ đã xây dựng phương án, huy động hơn 1.000 cán bộ, chiến sĩ, cùng các loại trang thiết bị hiện đại nhằm bảo đảm tuyệt đối an ninh, an toàn cho lễ Giỗ tổ Hùng Vương - Lễ hội đền Hùng và Tuần văn hóa - du lịch Đất Tổ năm 2026.
Ngoài lực lượng công khai, công an tỉnh còn bố trí hàng trăm cán bộ, chiến sĩ hóa trang tổ chức tuần tra, canh gác 24/24, nhằm ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật.
Bên cạnh đó, hệ thống camera an ninh thế hệ mới được lắp đặt tại các ngã ba, ngã tư, trên các trục đường giao thông và khu vực Đền Hùng, giúp ghi nhận hình ảnh, phân tích dữ liệu, nhận diện các trường hợp có biểu hiện nghi vấn. Hình ảnh sẽ truyền về trung tâm chỉ huy để chỉ đạo các tổ công tác kịp thời xác minh, xử lý.