Thị phần môi giới trên sàn TP HCM đang dịch chuyển mạnh bởi đà tăng nhanh của các công ty quy mô vừa và nhỏ. Theo thống kê mới nhất của Sở Giao dịch chứng khoán TP HCM (HoSE), 10 doanh nghiệp đầu ngành chỉ còn sở hữu hơn 65% thị phần trong quý II, giảm sâu so với mức bình quân 68% của những quý trước.
Thị phần môi giới được xác định theo giá trị giao dịch. Do đó, thị phần càng cao đồng nghĩa doanh thu phí môi giới càng lớn. Ngoài ý nghĩa tài chính, chỉ số này phản ánh năng lực thu hút và giữ chân nhà đầu tư, chất lượng phục vụ cũng như trình độ tư vấn của đội ngũ môi giới.
Hầu hết thị phần của các công ty chứng khoán đầu ngành giảm. VPS, doanh nghiệp dẫn đầu thị phần, mất gần ba điểm phần trăm, từ 15,3% xuống 12,6%. Chỉ số này còn rớt sâu hơn khi so sánh với giai đoạn đỉnh cao hơn 20% cách đây hai năm. Vietcap, HSC, MBS, VNDirect, KIS Việt Nam… cũng thụt lùi, giữ 3-7% thị phần.
SSI nằm trong số ít công ty chứng khoán có thị phần biến động theo hướng tích cực, lên 11,17% để duy trì vị trí thứ hai nhờ mở rộng thêm tệp khách hàng. Thứ hạng của VPBankS cũng cải thiện từ 9 lên 8 nhờ thị phần tăng khoảng 0,6 điểm, lên 3,57% – mức cao nhất từ khi doanh nghiệp này thành lập bốn năm trước.
Không tính top 10, gần 35% “miếng bánh” còn lại đang chia cho khoảng 70 công ty chứng khoán còn lại. So với những quý trước, thị phần của nhóm dưới tăng 5 điểm phần trăm trong bối cảnh nhiều công ty chứng khoán đã và sắp tăng vốn để có thêm dư địa thu hút khách hàng.
Thị phần môi giới là cuộc đua khốc liệt và trở thành ưu tiên của nhiều công ty chứng khoán trong vài năm trở lại đây, bên cạnh các chỉ tiêu về lợi nhuận, dư nợ cho vay ký quỹ và khách hàng. Tham vọng lớn của nhiều công ty trong ngành khiến cuộc đua này được dự báo ngày càng tăng nhiệt, kéo theo “miếng bánh” tiếp tục phân mảnh. Vietcap đang đặt mục tiêu duy trì hiện diện trong top 5, SHS kỳ vọng lọt top 10 ngay năm nay, còn VPBankS có kế hoạch leo từ top 8 hiện tại lên top 2 vào 2030.
Theo giám đốc khối môi giới một công ty chứng khoán vốn nước ngoài, việc tăng thị phần trong ngắn hạn có thể đạt được nhanh chóng nếu hạ phí giao dịch hay ưu đãi vay vốn. Tuy nhiên, để thực sự cải thiện và duy trì thứ hạng ổn định, các công ty phải theo đuổi một chiến lược bài bản và kiên trì trong nhiều năm.
Đại diện VPBankS cho biết thị phần của họ liên tục tăng nhờ mở rộng hoạt động kinh doanh, phát triển sản phẩm mới cho nhà đầu tư cá nhân như khuyến mãi giao dịch, margin lãi suất tốt và hạn mức cao, tăng tiền mặt khi giao dịch ký quỹ…
Công thức phổ biến của nhiều công ty chứng khoán trong cuộc đua thị phần môi giới là bổ sung vốn để có nguồn lực cho vay ký quỹ với lãi suất thấp, cộng thêm áp dụng chính sách miễn phí giao dịch (zero fee). Tuy nhiên, công thức này dần thay đổi bởi áp lực chi phí vốn và mặt bằng lãi suất cao.
Tại phiên họp thường niên giữa năm nay, Chủ tịch SSI Nguyễn Duy Hưng cho hay sẽ không cạnh tranh thị phần bằng việc giảm phí hay phá giá. Thay vào đó, công ty tập trung đầu tư chất lượng dịch vụ, cung cấp các báo cáo phân tích thấu đáo để bảo vệ lợi ích nhà đầu tư. Ông nói việc thị phần tăng giảm trong vài quý là bình thường, không phải do công ty kém hơn, mà có thể vì đối thủ nhảy vọt trong ngắn hạn.
Theo ông Hưng, SSI đang thay đổi mô hình phát triển đội ngũ môi giới và mở rộng kênh bán sang mạng xã hội (livestream), tập trung phân khúc khách hàng đại trà. Đối với nhà đầu tư tổ chức, công ty kỳ vọng tăng trưởng thị phần hai chữ số nhờ hệ thống công nghệ thông tin lõi đang được hoàn thiện để có tốc độ khớp lệnh nhanh nhất thị trường.
Còn theo Chủ tịch Chứng khoán SHS Đỗ Quang Vinh, doanh nghiệp này có lợi thế hút thêm khách hàng lớn do đang “sống” trong một hệ sinh thái tài chính khép kín, trong đó có ngân hàng SHB, công ty quản lý quỹ và tập đoàn T&T. Đại diện SHS cho biết họ đang nắm khoảng 1,65% thị phần môi giới. Để vào top 10, thị phần cần lên khoảng 3%.
Tổng giám đốc SHS Nguyễn Duy Linh khẳng định không theo đuổi cuộc đua miễn phí giao dịch (zero fee) trên diện rộng nhằm tăng thị phần. Công ty dự kiến chia phân hạng khách hàng chi tiết để thiết kế sản phẩm phù hợp, đồng thời đầu tư vào cả công nghệ lẫn nâng cao trình độ đội ngũ tư vấn. “Những sản phẩm mang tính chung chung sẽ không thu hút được nhà đầu tư”, ông Linh nói.
Tập đoàn Đầu tư và Phát triển Công nghiệp Becamex (mã chứng khoán: BCM) vừa công bố thông tin bất thường liên quan đến việc doanh nghiệp chưa đáp ứng đầy đủ điều kiện về công ty đại chúng theo quy định hiện hành.
Căn cứ danh sách cổ đông chốt quyền tham dự kỳ họp cổ đông thường niên năm 2026, được Tổng Công ty Lưu ký và Bù trừ Chứng khoán Việt Nam lập tại ngày đăng ký cuối cùng 25/5, doanh nghiệp ghi nhận tổng cộng 9.221 cổ đông. Trong đó, có 9.220 cổ đông không phải cổ đông lớn đang nắm giữ cổ phiếu có quyền biểu quyết, tương ứng tỷ lệ sở hữu 4,56%.
Với cơ cấu này, Becamex chưa đạt yêu cầu tối thiểu về tỷ lệ phân tán cổ đông theo quy định, khi chưa đảm bảo ít nhất 10% cổ phiếu có quyền biểu quyết thuộc về tối thiểu 100 nhà đầu tư không phải cổ đông lớn.
Dù chưa đáp ứng điều kiện về cơ cấu cổ đông, doanh nghiệp vẫn thuộc trường hợp được tiếp tục duy trì tư cách công ty đại chúng trong thời gian thực hiện đề án tái cơ cấu đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt.
Để khắc phục, Becamex cho biết đang chủ động xây dựng phương án và đã kiến nghị UBND TPHCM xem xét phê duyệt lộ trình giảm tỷ lệ vốn Nhà nước tại doanh nghiệp từ mức 95,44% xuống trên 65% trong giai đoạn 2026-2030.
Giải pháp được đề xuất thực hiện thông qua phát hành cổ phiếu ra công chúng, nhằm từng bước đáp ứng yêu cầu về cơ cấu cổ đông của công ty đại chúng.
Không riêng Becamex, thời gian gần đây, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) đã ban hành hàng loạt các quyết định và văn bản thông báo về việc hủy tư cách công ty đại chúng đối với một số doanh nghiệp do không còn đáp ứng các điều kiện theo quy định.
Một loạt doanh nghiệp lớn có vốn Nhà nước thuộc diện này. Do đó, UBCKNN đã ban hành công văn yêu cầu rà soát tư cách công ty đại chúng đối với doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) đang thực hiện niêm yết hoặc đăng ký giao dịch trên Sở Giao dịch Chứng khoán.
Nếu phát sinh việc không còn đáp ứng điều kiện, trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày xảy ra sự kiện, công ty phải gửi văn bản báo cáo kèm danh sách cổ đông và báo cáo tài chính năm gần nhất đã được kiểm toán để cơ quan quản lý xem xét.
Công văn cũng áp dụng đối với các công ty con của doanh nghiệp Nhà nước đang niêm yết hoặc đăng ký giao dịch. Các công ty này phải độc lập đáp ứng đầy đủ điều kiện công ty đại chúng theo quy định của Luật Chứng khoán, không phụ thuộc vào việc công ty mẹ là doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ vốn chi phối.
Theo Luật Chứng khoán năm 2019 và Luật sửa đổi, bổ sung năm 2024, công ty đại chúng phải có vốn điều lệ đã góp từ 30 tỷ đồng trở lên và tối thiểu 10% số cổ phiếu có quyền biểu quyết do ít nhất 100 nhà đầu tư không phải cổ đông lớn nắm giữ. Trường hợp công ty không còn đáp ứng một trong các điều kiện trên thì thuộc diện bị hủy tư cách công ty đại chúng theo quy định tại Điều 38 Luật Chứng khoán.
Chia sẻ tại sự kiện Gateway to Vietnam 2026 diễn ra ngày 3/6, ông Bradley Warden, Giám đốc điều hành kiêm Quản lý danh mục cấp cao tại Nomura Asset Management International, cho rằng AI khác với các chu kỳ công nghệ trước ở chỗ không chỉ bổ sung thêm công cụ cho con người, mà đưa năng lực suy luận và xử lý thông tin vào nhiều quy trình khác nhau.
Theo ông, nếu máy tính cá nhân, điện thoại thông minh hay điện toán đám mây chủ yếu tạo ra các lớp công cụ mới, AI có thể tác động rộng hơn khi được tích hợp vào hạ tầng tính toán, dữ liệu, bộ nhớ, phần mềm và vận hành doanh nghiệp.
Với Việt Nam, câu chuyện AI không nhất thiết bắt đầu từ việc sở hữu những doanh nghiệp giống Nvidia hay Micron. Cơ hội có thể nằm ở các ngành có khả năng ứng dụng AI vào vận hành, phân tích dữ liệu, phục vụ khách hàng, quản trị rủi ro và tối ưu chi phí.
Thứ nhất, ở nhóm công nghệ, Tập đoàn FPT là doanh nghiệp hưởng lợi trong nhóm ứng dụng. Dù vậy, doanh nghiệp Việt này theo chuyên gia vẫn còn ở giai đoạn bắt đầu về AI, vấn đề quan trọng cần quan tâm là khả năng sinh lời trong lĩnh vực công nghệ.
Ông Phạm Lưu Hưng, Giám đốc SSI Research, cho biết thêm Việt Nam không cần cạnh tranh trực diện với Mỹ hay Trung Quốc trong cuộc đua xây dựng các mô hình AI nền tảng, vốn đòi hỏi nguồn vốn đầu tư, hạ tầng tính toán và nhân lực công nghệ quy mô lớn.
Ngược lại, cơ hội phù hợp hơn với Việt Nam nói chung và FPT nói riêng nằm ở tầng ứng dụng, nơi doanh nghiệp sử dụng AI để cải thiện quy trình kinh doanh, tự động hóa vận hành và tạo ra hiệu quả tài chính cụ thể.
Bên cạnh mảng công nghệ, lĩnh vực dịch vụ tài chính (bao gồm ngân hàng, chứng khoán, quản lý tài sản và các hoạt động liên quan đến dữ liệu khách hàng) cũng xuất hiện cơ hội tăng trưởng trong làn sóng bùng nổ công nghệ, AI.
Tại Việt Nam, một số ngân hàng như Techcombank, VPBank, MB… đã có thể “nhúng” AI vào các quy trình như cá nhân hóa đề xuất cho khách hàng. Đây là các ứng dụng có thể tác động trực tiếp đến hiệu quả kinh doanh.
Trong lĩnh vực chứng khoán, AI có thể hỗ trợ môi giới, chăm sóc khách hàng, phân tích dữ liệu thị trường, báo cáo nghiên cứu, quản trị rủi ro, back-office và phát triển sản phẩm số.
Hiện nay, việc lập trình (coding) không còn là điểm nghẽn lớn nhất, doanh nghiệp phải học cách quản trị các điểm nghẽn mới như kiểm tra, xác minh kết quả, hướng dẫn AI đúng cách và đảm bảo công nghệ tạo ra sản phẩm đúng nhu cầu.
Ngoài dịch vụ tài chính, bán lẻ và tiêu dùng cũng là nhóm có thể hưởng lợi nhờ sở hữu lượng dữ liệu lớn về khách hàng, giao dịch, hàng tồn kho và vận hành chuỗi cửa hàng.
Ngoài ra, nhóm doanh nghiệp sở hữu hạ tầng, khu đất hoặc khu công nghiệp cũng đang phục vụ nhu cầu công nghệ mới.
Trong bối cảnh AI kéo theo nhu cầu về bán dẫn, data center và năng lực tính toán, các doanh nghiệp khu công nghiệp như Kinh Bắc hoặc Viglacera là những cái tên đáng chú ý. Bởi các doanh nghiệp phát triển khu công nghiệp được chọn là nơi đặt cơ sở của nhiều doanh nghiệp bán dẫn và công nghệ như Intel, Hana Micron, Samsung.
Data center cũng trở thành lớp hạ tầng quan trọng khi các doanh nghiệp có nhu cầu xử lý dữ liệu trong nước. Do việc sử dụng các mô hình AI như Claude, Gemini hay ChatGPT gặp giới hạn nhất định do dữ liệu nhạy cảm và yêu cầu không đưa thông tin ra ngoài Việt Nam, nhiều bên chọn phương án thuê hạ tầng máy chủ nội địa. Điều này mở ra nhu cầu mới về năng lực tính toán nội địa và hạ tầng dữ liệu cho các ngành có yêu cầu bảo mật cao như tài chính.
Năng lượng cũng là một lĩnh vực đáng chú ý. AI cần năng lực tính toán lớn, trong khi data center tiêu thụ nhiều điện và đòi hỏi nguồn cung ổn định. Theo ông Phạm Lưu Hưng, năng lượng có thể được xem là nhóm hưởng lợi từ điểm nghẽn hạ tầng khi AI mở rộng.
Nhìn chung, làn sóng AI có thể không tạo ra một “Nvidia Việt Nam” trong ngắn hạn; nhưng khi AI dịch chuyển từ tầng mô hình nền tảng sang tầng ứng dụng, cơ hội có thể phân bổ rộng hơn sang những ngành có dữ liệu, khách hàng, quy trình vận hành và hạ tầng cần được tối ưu.
Vừa khánh thành trong tháng 6-2026, Mitech Plant Vina được đặt tại Khu công nghiệp Đông Nam (TP.HCM), xây dựng trên khu đất rộng khoảng 1.000m². Nhà máy sẽ sản xuất các thiết bị y tế tiêu hóa bán thành phẩm, bao gồm stent tiêu hóa, để cung ứng cho hơn 100 thị trường trên toàn cầu, báo Maeil Business đưa tin.
M.I.Tech là doanh nghiệp Hàn Quốc trong lĩnh vực thiết bị y tế, được thành lập năm 1991. Công ty hiện cung cấp stent tiêu hóa và các sản phẩm y tế khác tới hơn 100 quốc gia.
Theo M.I.Tech, cơ sở sản xuất mới tại Việt Nam là một phần quan trọng trong chiến lược dài hạn nhằm đa dạng hóa chuỗi cung ứng toàn cầu.
Trong thời gian tới, doanh nghiệp sẽ tập trung ổn định các dây chuyền sản xuất, nâng cao tay nghề cho lao động địa phương và cải thiện hiệu quả vận hành nhằm củng cố vị thế trên thị trường thiết bị y tế thế giới.
"M.I.Tech Plant Vina là cơ sở sản xuất quan trọng giúp chúng tôi đáp ứng ổn định nhu cầu đang gia tăng trên toàn cầu", Maeil Business dẫn lời tổng giám đốc M.I.Tech Kwak Jae Oh.
Doanh nghiệp dự kiến đưa nhà máy tại Việt Nam vào vận hành toàn diện trong nửa cuối năm nay và nâng công suất sản xuất lên mức tối đa vào năm 2028.
Bên cạnh vai trò là cứ điểm sản xuất để phục vụ thị trường toàn cầu, Việt Nam cũng được đánh giá là một trong những thị trường có dư địa tăng trưởng đáng chú ý đối với ngành công nghệ và thiết bị y tế.
Dân số đông, chi tiêu y tế và đầu tư vào hệ thống bệnh viện ngày càng tăng, cùng nhu cầu lớn đối với các thiết bị y tế công nghệ cao đang tạo động lực cho thị trường phát triển.
BMI, công ty thuộc Fitch Solutions, dự báo thị trường thiết bị y tế Việt Nam sẽ tăng trưởng với tốc độ kép hằng năm (CAGR) 8,4% trong giai đoạn 2024 - 2029, đạt quy mô 2,84 tỉ USD vào năm 2029.